I. CÁN CÂN THANH TOÁN VÀ CƠ CẤU CÁN CÂN THANH TOÁN
1. Cán cân thanh toán
Khái niệm hay quan niệm về CCTTQT
- Là bảng cân đối, so sánh và đối chiếu giữa các khoản tiền thu được từ ở nước ngoài với
các khoản tiền phải chi trả cho nước ngoài
- Là một biểu tổng hợp phản ánh tất cả các giao dịch dưới hình thức tiền tệ của một nước
với các nước khác
- Là một bản báo cáo thống kê ghi chép và phản ánh các giao dịch kinh tế giữa những
người cư trú với người không cư trú (IMF).
2. Cơ cấu cán cân thanh toán
2.1. Cán cân vãng lai – current account balance: Phản ánh các luồng thu nhập và chi tiêu
- Cán cân thương mại
- Cán cân dịch vụ
- Cán cân thu nhập
- Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều
2.1.1. Cán cân thương mại (Trade Balance - TB) còn được gọi là cán cân hữu hình vì nó
phản ánh chênh lệch giữa các khoản thu từ xuất khẩu và những khoản chi cho nhập khẩu
hàng hóa mà các hàng hóa này lại có thể quan sát được bằng mắt thường khi di chuyển
qua biên giới.
Khi thu nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu, thì cán cân thương mại
thặng dư. Ngược lại, khi thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu thì cán cân
thương mại thâm hụt.
Các nhân tố ảnh hưởng lên cán cân thương mại bao gồm các nhân tố ảnh hưởng
lên giá trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu
là giống với các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị nhập khẩu nhưng có tác động ngược
chiều.Bao gồm: tỷ giá, lạm phát, giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu, thu nhập của người
không cư trú, thuế quan và hạn ngạch ở nước ngoài
2.1.2. Cán cân dịch vụ (Services – SE) bao gồm các khoản thu, chi về vận tải, du lịch,
bảo hiểm, bưu chính viễn thông, hàng không, ngân hàng, thông tin, xây dựng và các hoạt
động dịch vụ khác giữa người cư trú và người không cư trú.
Tương tự như xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ,
chí “chủ thể” và “khách thể”.
Theo tiêu chí chủ thể, vốn dài hạn được phân chia theo khu vực tư nhân và khu
vực nhà nước.
2
Theo tiêu chí khách thể, các luồng vốn dài hạn được chia thành đầu tư trực tiếp,
đầu tư gián tiếp và vốn dài hạn khác. Tiêu chí để đưa một nguồn vốn dài hạn vào đầu tư
trực tiếp là mức độ kiểm soát của công ty nước ngoài. Về mặt lý thuyết, mức độ kiểm
soát của công ty nước ngoài chiếm từ 51% vốn cổ phần trở lên thì được xem là đầu tư
trực tiếp, thực tế, hầu hết các quốc gia đều coi các khoản đầu tư nước ngoài chiếm từ
30% vốn cổ phần trở lên là đầu tư trực tiếp. Đầu tư gián tiếp bao gồm các khoản đầu tư
mua trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ và đầu tư mua cổ phiếu nhưng chưa đạt tới
mức độ để kiểm soát công ty nước ngoài.
2.2.2. Cán cân vốn ngắn hạn bao gồm nhiều hạng mục phong phú và chủ yếu là: tín
dụng thương mại ngắn hạn, các khoản tín dụng ngân hàng ngắn hạn, kinh doanh ngoại
hối… Ngày nay, trong môi trường tự do hóa tài chính, các luồng vốn đầu cơ tăng lên
nhanh chóng, làm cho cán cân vốn ngắn hạn có ảnh hưởng đáng kể đến cán cân thanh
toán nói chung của mỗi quốc gia.
2.2.3. Chuyển giao vốn một chiều bao gồm các khoản viện trợ cho mục đích đầu tư, các
khoản nợ được xóa. Quy mô và tình trạnh cán cân chuyển giao vốn một chiều phụ thuộc
chủ yếu vào các mối quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế - chính trị - xã hội giữa các nước
có chung lợi ích và tình hữu nghị đặc biệt.
2.3. Nhầm lẫn và sai sót
Số dư của hạng mục nhầm lẫn và sai sót chính là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức,
tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn.
II. PHÂN TÍCH CƠ CẤU CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2007 – 2010
Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ vào cuối năm 2007 đã lan nhanh và
ảnh hưởng sâu rộng, trở thành cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ cuộc đại suy thoái kinh tế
thế giới những năm 1929-1933. Các tác động của cuộc khủng hoảng này lan tràn trên
diện rộng, không chỉ trong hoạt động tài chính - ngân hàng, mà tất cả các nền kinh tế, các
thể được bù đắp hoàn toàn bởi thặng dư trong cán cân tài khoản vốn. Tuy nhiên, ước tính
cán cân thanh toán năm 2010 vẫn thâm hụt khoảng trên 2 tỷ USD do phần “lỗi và sai sót”
trong cán cân tài khoản vốn gây ra
Theo số liệu thống kê ở bảng trên, trong cơ cấu cán cân thanh toán của Việt Nam,
cán cân vãng lai luôn luôn bị thâm hụt ở mức cao đặc biệt là cán cân thương mại; và cán
cân tài khoản vốn luôn là phần bù đắp những thâm hụt từ phía cán cân vãng lai. Nguyên
nhân chính là do trong những năm gần đây, Việt Nam vẫn là nước nhập siêu lớn cho dù
việc xuất khẩu cũng đang gia tăng.
Để hiểu kỹ hơn về cơ cấu của cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam, chúng ta
cùng nhau phân tích từng khoản mục trong cán cân thanh toán quốc tế:
2.1. Cán cân tài khoản vãng lai
4
Xu hướng thâm hụt cán cân vãng lai đã trở lại năm 2002-2007, đặc biệt năm 2006 với
mức thâm hụt kỷ lục 6.992 triệu usd tương đương 9.8% GDP, vượt quá mức an toàn 5%.
Theo số liệu ước tính của IMF, trong năm 2008 cán cân vãng lai của Việt Nam
thâm hụt 11.9 triệu USD, tương đương 10.3 % GDP, vượt ngưỡng an toàn 2 lần, cao hơn
nhiều so với con số cao kỉ lục của thâm hụt cán cân vãng lai 2007 (6.992 triệu USD), tất
cả những con số này cho thấy thâm hụt cán cân vãng lai của Việt Nam đã thật sự đáng
báo động. Nguyên nhân là do những ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới
tới nền kinh tế của Việt Nam, lạm phát trong nước tăng cao trong những tháng đầu năm
2008, giá xăng dầu trên thế giới tăng cao… Sang năm 2009, thâm hụt cán cân vãng lai
tuy có giảm nhưng vẫn ở mức cao. Ước tính năm 2010, cán cân vãng lai lại thâm hụt tăng
trở lại nhưng vẫn thấp hơn năm 2008.
Bảng 2: Cán cân vãng lai của Việt Nam từ năm 2006-2010
Đơn vị: triệu USD
Năm 2007 2008 2009 2010
Current
Account
6.992 -11.9 -8.0 -9.0
Sau đây chúng ta đi vào phân tích thực trạng của các cán cân bộ phận của cán cân
của mình. Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới sẽ làm cho hoạt động
đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu, và VN không phải là một
ngoại lệ. Thêm vào đó là dòng vốn từ nước ngoài đổ vào VN ngày càng ít đi. Hậu quả
của việc đó là nhập siêu lớn hơn xuất siêu, thâm hụt thương mại VN tăng cao so với năm
2007.
Năm 2009, mức thâm hụt thương mại giữa XK và NK của VN tính từ đầu năm
2009 đến hết tháng 10/2009 đạt 8,78 tỷ USD, giảm mạnh so với mức 16,2 tỷ USD cùng
kỳ năm 2008, nghĩa là nhập siêu trong 10 tháng đầu năm 2009 của nước ta đạt 8,78 tỷ
USD.
Mức thâm hụt trong tháng 12 năm 2009 giảm 38% xuống còn 1.3 tỷ USD so với mức
điều chỉnh so với $2.081 tỷ vào tháng trước đó, theo dữ liệu sơ bộ được công bố từ tổng
cục thống kê Hà Nội, thâm hụt mậu dịch tháng 11/2009 ở mức cao nhất kể nửa đầu năm
2008.Thâm hụt cả năm 2009 giảm 32% so với năm 2008 xuống còn 12.25 tỷ USD.
Nguyên nhân là do kinh tế thế giới đang dần phục hổi sau khủng hoảng tài chính,
do chính phủ VN đã kịp thời đưa ra những biện pháp cải thiện tình hình hòa cùng với
sựkhôi phục của thế giới.
Năm 2010, sự phục hồi của kinh tế thế giới đặc biệt là của các thị trường truyền
thống, giá nhiều nhóm hàng và nhu cầu thế giới tăng trở lại đã tạo điều kiện tốt hơn cho
hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả xuất khẩu đạt mức tăng trưởng cao (25,5%)
vượt mức kế hoạch của Quốc hội giao, nhập siêu đã dần được kiểm soát, dưới mức 20%
kim ngạch xuất khẩu (KNXK), cụ thể là 17,3%; tốc độ tăng xuất khẩu đã cao hơn tốc độ
tăng nhập khẩu; kim ngạch xuất khẩu bình quân năm 2010 ước đạt 5,96 tỷ USD/tháng là
mức cao nhất từ trước tới nay. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu năm 2010 ước đạt 70,8 tỷ
USD, tăng 24% so với năm 2009 và 17% so với kế hoạch. Kim ngạch nhập khẩu cả năm
2010 ước đạt 82,8 tỷ USD, tăng 18,4% so với năm 2009.
Năm 2010, VN có 6 tháng nhập siêu trên 1 tỷ USD. Mức nhập siêu lớn nhất là tháng 2 -
1,33 tỷ USD và thấp nhất là tháng 8 - 395 triệu USD. Tuy nhiên cả năm 2010, thâm hụt
thương mại chỉ ước đạt 12 tỷ USD, bằng 16,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, thấp hơn so
với mức 22,5% của năm 2009.
Về xuất khẩu
khẩu, nên tổng giá trị XK của nhóm chỉ giảm khoảng 8,4%. Cụ thể, lượng XK dầu thô
giảm 40,3%, tuy nhiên do giá XK tăng 33% nên giá trị XK chỉ giảm 20,2%; mặt hàng
than đá mặc dù lượng giảm 23,1% nhưng do giá XK tăng nên KNXK tăng 17,7%. Tính
chung xuất khẩu nhóm khoáng sản giảm 731 triệu USD so với năm 2009.
+ Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 38,5 tỷ USD, chiếm 53,8% trong tổng
KNXK, tăng 30% so với năm 2009. Đây là nhóm hàng tăng trưởng cao nhất và là nhóm
hàng chủ lực trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam. Những mặt hàng có mức
tăng trưởng cao là: sắt thép các loại (162,3%), hoá chất (49,7%); chất dẻo nguyên liệu
(39,8%); sản phẩm hoá chất, sản phẩm từ cao su, phương tiện vận tải và phụ tùng tăng
trên 50%. Mặt hàng dệt may trong năm đã xác lập kỷ lục lần đầu tiên kể từ tháng 8 đến
8
tháng 12, XK đạt trên 1 tỷ USD/tháng. Mặt hàng giầy dép, máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện cũng có mức tăng trưởng cao lần lượt là 24,9% và 28,8%. Mặt hàng giầy dép
là mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn thứ 2 sau dệt may. Tính chung xuất khẩu của nhóm
tăng hơn 8,8 tỷ USD.
- Về giá xuất khẩu:
Giá hàng hóa xuất khẩu có xu hướng tăng dần vào những tháng cuối năm, so với
mức giá bình quân của 12 tháng năm 2009 thì mức giá bình quân của các mặt hàng nông
sản, khoáng sản đều tăng. Tính riêng nhóm hàng nông sản do tăng giá đã làm cho KNXK
tăng 1,87 tỷ USD, nhóm khoáng sản do tăng giá đã làm cho KNXK tăng 1,78 tỷ USD.
Tính chung cả 2 nhóm do tăng giá đã đóng góp 3,65 tỷ USD vào KNXK, bù đắp được
thiệt hại do giảm lượng xuất khẩu (thiệt hại do giảm lượng khoảng hơn 2,58 tỷ USD),
trong đó do giảm lượng xuất khẩu và dầu thô đã làm giảm 2,8 tỷ USD.
- Về thị trường xuất khẩu:
Năm 2010, xuất khẩu tăng trên tất cả các khu vực thị trường, trong đó thị trường
châu Á ước tăng 32,6%, tiếp đó đến thị trường châu Mỹ ước tăng 25,8%, thị trường châu
Âu ước tăng 18,2%, thị trường châu Phi - Tây Á - Nam Á ước tăng 45% và thấp nhất là
châu Đại dương ước tăng 13,6%.
+ Thị trường Châu Á vẫn là thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thị
trường xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 47%, với KNXK ước đạt 33,9 tỷ USD,
Giá nhập khẩu hàng hoá khá ổn định kể từ đầu năm nhưng ở mức cao, tuy nhiên
từ 3 tháng trở lại đây, giá nhập khẩu lại có xu hướng tăng thêm dần, nhóm hàng nguyên
liệu, phụ liệu ngành dệt may, da giầy cũng gia tăng đã gây khó khăn cho các doanh
nghiệp nhập khẩu, đây cũng là yếu tố làm tăng KNNK.
Một số mặt hàng nhập khẩu tính được về lượng, do lượng NK giảm đã làm giảm
hơn 2,1 tỷ USD nhập khẩu, tuy nhiên do giá nhập khẩu tăng đã làm NK tăng lên hơn 5,1
tỷ USD, bù trừ giữa tăng giá và giảm lượng của những mặt hàng tính được này cũng đã
làm tăng KNNK lên 2,98 tỷ USD.
+ Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu ước đạt 4,93 tỷ USD, giảm 31,9% và chiếm tỷ
trọng 5% kim ngạch nhập khẩu, bằng năm 2009.
+ Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu đạt 5,7 tỷ USD, tăng 14,2% và chiếm tỷ trọng 6%
kim ngạch nhập khẩu, giảm 1 điểm % so với năm 2009, chủ yếu do giảm nhập khẩu các
mặt hàng ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ và xe máy nguyên chiếc.
-Về thị trường nhập khẩu
Nhập khẩu từ thị trường Châu Á vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất là 78% KNNK cả
nước. Trong đó, từ ASEAN chiếm hơn 19%, các nước Đông Á chiếm 55%, riêng Trung
Quốc chiếm hơn 23%.
Nếu xét về tốc độ tăng nhập khẩu thì nhập khẩu từ khu vực Châu Đại Dương có
mức tăng trưởng cao nhất (tăng 40,8% so với cùng kỳ) chủ yếu là nhập khẩu sữa, lúa mỳ
và gỗ nguyên liệu; tiếp đến thị trường châu Mỹ tăng 23,9%, trong đó từ Mỹ tăng 24,9%
chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu sản xuất như thức ăn gia súc, gỗ, bông, nguyên phụ
liệu dệt may da giầy.
10
Về cán cân thương mại: Nhập siêu năm 2010 ước tính là 12,37 tỷ USD, bằng
17,27% kim ngạch xuất khẩu. Xét theo khối doanh nghiệp, thâm hụt thương mại chủ yếu
rơi vào khu vực các doanh nghiệp trong nước với 9,78 tỷ USD, chiếm 79% thâm hụt
thương mại của cả nước. Các doanh nghiệp FDI (không kể dầu thô) chỉ thâm hụt 2,6 tỷ
USD, chiếm 21%.
Tóm lại, từ 2008 đến nay, tình trạng thâm hụt CCTM của VN tuy chịu nhiều ảnh
hưởng của thế giới nhưng nhờ đó mà thu hẹp xuống mức cao nhất trong 15 năm qua, đây
C
)
11
Theo IMF cán cân thu nhập bao gồm cả các khoản thu nhập của người lao động (là
các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác bằng tiền, hiện vật do
người không cư trú trả cho người cư trú và ngược lại) và các khoản thu nhập đầu tư (là
các khoản thu từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp, lãi từ đầu tư vào giấy tờ có giá và các khoản
lãi đến hạn phải trả của các khoản vay giữa người cư trú và người không cư trú). Tuy
nhiên, trong cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam công bố cũng như của Ngân hàng
thế giới và IMF thì hạng mục này chỉ bao gồm thu nhập đầu tư do thiếu dữ liệu của người
thu nhập lao động. Do vậy trong phạm vi bài nghiên cứu của nhóm chúng tôi cũng chỉ
xin đề cập tới các khoản thu nhập về đầu tư trong cán cân thu nhập của Việt Nam.
Bảng 5: Cán cân thu nhập giai đoạn 2006 – 2010
Đơn vị: tỷ USD
Năm 2007 2008 2009 2010
I
C
-2.168 -4.9 -4.9 -3.7
Phần thu từ đầu tư của Việt Nam thì chủ yếu là tiền lãi của các khoản tiền gửi của
người cư trú Việt Nam ở các ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên những khoản tiền lãi đó
rất nhỏ, thậm chí còn giảm đi vì ta rút ngoại tệ về cho vay trong nước. Ngược lại, những
khoản phải thanh toán ngày càng tăng lên do phải trả lãi cho các khoản nợ nước ngoài.
Những khoản nợ này khá lớn, hàng năm Việt Nam phải trả lãi khoảng mấy trăm triệu
USD. Thêm vào đó những khoản chuyển lợi nhuận đầu tư cũng tăng lên do các dự án
FDI được thực hiện dần. Tuy các khoản lãi tiền gửi có tăng lên nhưng các khoản chuyển
lợi nhuận và trả lãi nợ nước ngoài tăng mạnh dẫn đến thu nhập đầu tư ngày càng bị thâm
hụt.
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới kéo theo suy thoái kinh tế thế giới hầu hết
NHTW các nước thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng, cắt giảm lãi suất, trong đó điểm
hình như FED, trong năm 2008 đã 8 lần cắt giảm lãi suất, xuống mức thấp kỷ lục là
Bảng 7: Cán cân vốn của Việt Nam từ năm 2008 – 2010
Đơn vị: tỷ USD
Năm 2008 2009 2010
K 13.7 12.3 11.7
Cán cân vốn của Việt Nam bao gồm các bộ phận cơ bản: vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), vốn đầu tư gián tiếp (FII), các khoản nợ ngắn hạn, tín dụng thương mại, các
khoản nợ trung – dài hạn và tài sản ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại.
Sau đây nhóm chúng tôi xin đi vào phân tích thực trạng của các thành phần vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, là những thành phần dễ bị
ảnh hưởng nhiều nhất khi khủng hoảng kinh tế xảy ra.
2.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Bảng 8: Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam
Đơn vị: tỷ USD
Năm 2007 2008 2009 2010
13
FDI 6.550 10.3 7.4 7.3
Năm 2006 ĐTNN tăng trưởng mạnh mẽ. tới đầu nắm 2007 thì ĐTNN đã thực sự bùng nổ
ở VN với những con số hết sức ấn tượng,, có 1.544 dự án đky với tổng số vốn đạt 20.3 tỷ
USD, tống số vốn giải ngân làn 6.5 tỷ USD, nguyên nhân chính là 2007 là năm đầu VN
thực hiện các cam kết của mình khi gia nhập WTO, tjao đk thông thoáng hơn cho NDT
Dòng tiền FDI của năm 2008 tăng vọt so với các năm trước giúp làm bội thu cán cân
thanh toán tài khoản vốn và trong các năm này, xu hướng dòng vốn FDI không tập
trung vào các ngành công nghiệp chế biến và nông nghiệp, mà tập trung vào các ngành
bất động sản, khách sạn, nhà hàng (chiếm 63%) nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao. Sự dịch
chuyển dòng vốn FDI như vậy cần được xem xét dưới góc độ hiệu quả kinh tế, trình độ
công nghệ đi kèm với FDI và năng lực xuất khẩu trong tương lai.
Trong năm 2009 con số FDI được giải ngân đạt 7.4 tỷ USD, thấp hơn so với năm
2008 là 2.9 tỷ USD.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục là nhân tố quan trọng giúp giảm
thâm hụt cán cân thanh toán năm 2010, trong hoàn cảnh thâm hụt cán cân thương mại 6
suy giảm, trong đó có thị truờng chứng khoán Việt Nam khiến cho FII có xu hướng thoái
lui khỏi thị truờng chứng khoán Việt Nam vào nửa cuối năm 2008. Tuy nhiên năm 2009,
khi thị truờng chứng khoán Việt Nam bắt đầu có những tín hiệu hồi phục với những
phiên tăng điểm liên tiếp và khá bền vững thì dòng vốn này đã có xu hướng quay trở lại.
Luồng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) tiếp tục duy trì xu hướng thặng dư.
Trong quý II/2010, các nhà đầu tư nước ngoài mua ròng trên thị trường chứng khoán
khoảng 500 triệu USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2010, vốn FII ròng đạt mức thặng
dư 1.8 tỷ USD . Vốn FII thặng dư lớn là do đầu năm 2010, Chính phủ Việt Nam đã phát
hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường quốc tế. Nếu loại trừ phát hành trái
phiếu của Chính phủ thì trong 6 tháng đầu năm 2010 các nhà đầu tư nước ngoài vẫn mua
ròng trên thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 800 triệu USD (bao gồm cả thị
trường OTC), trong đó quý I/2010 là 290 triệu USD.
III. SO SÁNH CÁN CÂN THANH TOÁN TRUNG QUỐC TỪ 2007-2010
Balance of Payments, 2007
Unit: in 100million USD
Item Balance Credit Debit
I. Current Account 3,540 14,679 11,139
A. Goods and Services 3,075 13,422 10,347
1.Goods 3,154 12,200 9,046
2.Services -79 1,222 1,301
2.1Transportation -119 313 433
2.2Travel 74 372 298
15
2.3Communication Services 1 12 11
2.4Construction Services 25 54 29
2.5Insurance Services -98 9 107
2.6Financial Services -3 2 6
2.7Computer and Information
Services 21 43 22
2.8Royalties and License Fees -78 3 82
2.2.2.2Money Market
Instruments 0 0 0
3.Other Investment -697 7,031 7,728
16
3.1Assets -1,515 299 1,814
3.1.1Trade Credits -238 0 238
Long-term -17 0 17
Short-term -221 0 221
3.1.2Loans -208 3 211
Long-term -41 0 41
Short-term -167 3 170
3.1.3Currency and Deposits -24 160 184
3.1.4Other Assets -1,045 136 1,181
Long-term 0 0 0
Short-term -1,045 136 1,181
3.2Liabilities 818 6,732 5,914
3.2.1Trade Credits 291 291 0
Long-term 20 20 0
Short-term 271 271 0
3.2.2Loans 173 5,490 5,317
Long-term 70 209 139
Short-term 103 5,281 5,178
3.2.3Currency and Deposits 343 916 573
3.2.4Other Liabilities 11 35 25
Long-term 11 12 0
Short-term 0 24 24
III. Reserve Assets -4,607 2 4,609
3.1Monetary Gold 0 0 0
3.2Special Drawing Rights -1 0 1
3.3Reserve Position in the Fund 2 2 0
1.Compensation of
Employees 19 6,400,156 9,136,547 2,736,391
2.Investment Income 20 25,037,804 82,478,325 57,440,521
C. Current Transfers 21 45,798,979 52,565,201 6,766,222
1.General Government 22 -181,611 49,205 230,816
2. Other Sectors 23 45,980,590 52,515,996 6,535,406
II. Capital and Financial
Account 24 18,964,877 769,876,094 750,911,218
A. Capital Account 25 3,051,448 3,319,886 268,439
B. Financial Account 26 15,913,429 766,556,208 750,642,779
1. Direct Investment 27 94,320,092 163,053,964 68,733,872
1.1 Abroad 28 -53,470,972 2,175,785 55,646,757
1.2 In China 29 147,791,064 160,878,179 13,087,115
2. Portfolio Investment 30 42,660,063 67,708,045 25,047,982
2.1 Assets 31 32,749,936 57,672,404 24,922,468
2.1.1 Equity Securities 32 -1,117,368 3,844,800 4,962,168
2.1.2 Debt Securities 33 33,867,304 53,827,604 19,960,300
2.1.2.1 Bonds and Notes 34 37,563,103 53,827,604 16,264,501
2.1.2.2 Money Market
Instruments 35 -3,695,799 0 3,695,799
2.2 Liabilities 36 9,910,127 10,035,641 125,514
2.2.1 Equity Securities 37 8,721,011 8,721,011 0
18
2.2.2 Debt Securities 38 1,189,116 1,314,630 125,514
2.2.2.1 Bonds and Notes 39 1,189,116 1,314,630 125,514
2.2.2.2 Money Market
Instruments 40 0 0 0
3. Other Investment 41 -121,066,726 535,794,199 656,860,925
3.1 Assets 42 -106,074,263 32,563,248 138,637,510
3.1.1 Trade Credits 43 5,866,953 5,866,953 0
19
China's Balance of Payments Statement 2009
Unit: USD 100 million
Items # Balance Credit Debit
I. Current Account 1 2,971 14,846 11,874
A. Goods and Services 2 2,201 13,333 11,132
a. Goods 3 2,495 12,038 9,543
b. Services 4 -294 1,295 1,589
1.Transportation 5 -230 236 466
2.Travel 6 -40 397 437
3.Communications Services 7 0 12 12
4.Construction Services 8 36 95 59
5.Insurance Services 9 -97 16 113
6.Financial Services 10 -3 4 7
7.Computer and Information
Services 11 33 65 32
8.Royalties and Licensing Fees 12 -106 4 111
9.Consulting Services 13 52 186 134
10.Advertising and Public
Opinion Polling 14 4 23 20
11.Audio-visual and Related
Services 15 -2 1 3
12. Other Business Services 16 59 247 188
13. Government Services, n.i.e. 17 1 9 8
B. Income 18 433 1,086 653
1.Employee Compensation 19 72 92 21
2.Investment Income 20 361 994 632
C. Current Transfers 21 337 426 89
1.General Government 22 -2 0 3
2.Other Sectors 23 340 426 86
3.1.4 Other Assets 50 456 457 1
Long-term 51 0 0 0
Short-term 52 456 457 1
3.2 Liabilities 53 585 4,125 3,540
3.2.1 Trade Credits 54 321 321 0
Long-term 55 22 22 0
Short-term 56 298 298 0
3.2.2 Loans 57 37 3,222 3,185
Long-term 58 -97 135 232
Short-term 59 134 3,087 2,953
3.2.3 Currency and Deposits 60 116 456 340
3.2.4 Other Liabilities 61 111 126 15
Long-term 62 110 110 0
Short-term 63 1 16 15
III. Reserves Assets 64 -3,984 0 3,984
3.1 Monetary Gold 65 -49 0 49
3.2 Special Drawing Rights 66 -111 0 111
3.3 Reserves Position in the
Fund 67 -4 0 4
3.4 Foreign Exchange 68 -3,821 0 3,821
3.5 Other Claims 69 0 0 0
21
IV. Net Errors and Omissions 70 -435 0 435
Năm 2010, theo số liệu thống kê mới nhất của cục quản lý ngoại hối của Trung
Quốc SAFE cho thấy:
China's Balance of Payments Statement 2010
Unit: 100 million USD
Items Line Balance
I. Current Account 1 3,054
A. Goods and Services 2 2,321
Reserves Assets -460,7 -418,98 -398,4 -471,7
Như vậy có thể thấy, cán cân vãng lai và dự trữ ngoại hối chiếm tỷ lệ cao trong
22
tổng cán cân thanh toán quốc tế của Trung Quốc. Cán cân vãng lai của Trung Quốc luôn
thặng dư còn ngược lại cán cân vãng lai của Việt Nam lại thâm hụt. Qua bảng trên ta thấy
dự trữ ngoại hối của Trung Quốc là rất lớn.
Tài khoản vãng lai và tài khoản vốn và tài chính tiếp tục là một "thặng dư sinh
đôi" trong năm 2010, và dự trữ quốc tế duy trì được đà phát triển. Thặng dư theo tài
khoản đạt USD305.4 tỷ đồng, tăng 17% so với năm 2009. Cụ thể, theo phạm vi bảo hiểm
thống kê của cán cân thanh toán, sự thặng dư hàng hoá, thu nhập, và chuyển hiện tại đạt
USD254.2 tỷ, USD30.4 tỷ, và USD42.9 tỷ, tương ứng, trong khi thâm hụt thương mại
dịch vụ lên USD22.1 tỷ. Trong khi đó, thặng dư của Trung Quốc theo tài khoản vốn và tài
chính đạt USD226 tỷ đồng, tăng 25%. Đặc biệt, dòng vốn ròng của đầu tư trực tiếp, đầu
tư danh mục đầu tư, và đầu tư khác lên tới USD124.9 tỷ USD24 tỷ USD, và USD72.4 tỷ
đồng. Tài sản dự trữ quốc tế đăng một tăng USD471.7 tỷ USD, tăng 18%. Cụ thể, giao
dịch trong tài sản dự trữ ngoại hối đăng ký tăng USD469.6 tỷ USD (không bao gồm ảnh
hưởng của thay đổi giá trị do không giao dịch các yếu tố như tỷ giá hối đoái và giá cả) và
vị trí dự trữ trong IMF và các quyền ưu đãi đặc biệt đăng ký một sự gia tăng tổng
USD2.2 tỷ.
Trong quý 4 năm 2010, thặng dư theo tài khoản là USD102.1 tỷ đồng, tăng 7%
trên năm, thặng dư theo vốn và tài khoản tài chính đạt USD118.9 tỷ đồng, tăng 88%; và
các tài sản dự trữ quốc tế đăng một tăng USD185.7 tỷ USD, tăng 49%.
Trong quý 1 năm 2011, thặng dư theo tài khoản hiện tại của Trung Quốc đạt
USD28.8 tỷ đồng, giảm 21% vào năm. Cụ thể, theo phạm vi bảo hiểm thống kê của cán
cân thanh toán, sự thặng dư hàng hoá, thu nhập, và chuyển hiện tại đạt USD20.8 tỷ đồng,
USD5.1 tỷ, và USD11.6 tỷ, tương ứng, trong khi thâm hụt thương mại dịch vụ lên
USD8.7 tỷ.
Trong khi đó, trong quý 1 thặng dư của Trung Quốc 2011 theo tài khoản vốn và tài
chính đạt USD86.1 tỷ đồng, tăng 41% vào năm. Đặc biệt, dòng vốn ròng của đầu tư trực
tiếp và đầu tư khác lên tới USD44.8 tỷ USD42.5 tỷ đồng, trong khi dòng chảy ròng của
với sức mua thực tế. Nhận thấy việc duy trì tỷ giá theo hướng ổn định có ảnh hưởng xấu
đến mục tiêu mở cửa kinh tế đối ngoại và kế hoạch tăng xuất khẩu để phát triển kinh tế,
Trung Quốc đã quyết định điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái.
Ngày 1/1/1994, Trung Quốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng NDT từ 5,8
NDT/USD xuống 8,7 NDT/USD, tỷ lệ điều chỉnh (thực chất là phá giá đồng NDT) lên tới
50%. Để chính sách điều chỉnh tỷ giá giữ được ổn định, không bị giới đầu cơ thao túng,
Trung Quốc đã thực hiện chính sách thắt chặt quản lý ngoại hối, nhằm mục đích tập trung
ngoại tệ về Nhà nước, đảm bảo cung cầu ngoại tệ thông suốt.
Từ năm 1994 đến năm 1996, Trung Quốc thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ bắt buộc
theo quy định tại Sắc lệnh số 91 ngày 25/12/1993 của Chính phủ và quy định về cải cách
24
cơ chế quản lý ngoại hối ngày 28/12/1993 của Ngân hàng nhân dân Trung Quốc. Theo
đó, các nguồn thu ngoại tệ của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội (trừ các doanh nghiệp
FDI) phải kịp thời chuyển về nước và bán hết cho các ngân hàng được ủy quyền. Khi có
nhu cầu sử dụng các doanh nghiệp và tổ chức xã hội được mua ngoại tệ của các ngân
hàng ủy quyền.
Cho đến cuối năm 1997, khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 139,89 tỷ
USD, Trung Quốc mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ. Ngày 15/10/1997, Ngân
hàng nhân dân Trung Quốc ban hành Chỉ thị số 402 cho phép một số doanh nghiệp (Công
ty xuất nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu)
được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản với mức tối đa không quá 15% tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu hàng năm.
Năm 2002, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 286,4 tỷ USD, chính sách
kết hối ngoại tệ tiếp tục được nới lỏng. Tại Chỉ thị số 87 của Cục Quản lý ngoại hối
Trung Quốc ban hành ngày 9/9/2002 quy định các công ty và doanh nghiệp được giữ
ngoại tệ trên tài khoản, mức tối đa không quá 20% tổng nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch
vãng lai. Từ năm 2003 đến năm 2006, Cục Quản lý ngoại hối yêu cầu các ngân hàng
thương mại thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ theo Chỉ thị số 87 nói trên.
Đến năm 2007, Dự trữ ngoại hối Trung Quốc đã tăng lên tới 1.528,249 tỷ USD.
Ngày 13/8/2007 Cục Quản lý ngoại hối ban hành Chỉ thị số 48 cho phép các tổ chức kinh