Một số kinh nghiệm trong việc sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích cực ở trường THPT - Pdf 25

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoá học là một bộ môn khoa học tự nhiên, vừa lý thuyết vừa thực hành,
đây là một đặc trưng riêng của bộ môn Hoá học. Trong các phương pháp giảng
dạy ở các trường phổ thông mà các thầy cô giáo đang truyền thụ cho học sinh
qua các bài dạy: truyền thụ kiến thức mới, củng cố bài giảng, ôn tập , thì ngoài
các phương pháp như đặt vấn đề, thuyết trình các thầy cô giáo còn sử dụng các
thiết bị thí nghiệm làm minh chứng thêm cho bài giảng
Qua nghiên cứu các loại bài dạy Hoá học và thực tiễn của quá trình dạy
học, thấy rằng việc sử dụng thí nghiệm trong mỗi bài dạy là rất cần thiết, có thể
vận dụng ở trên lớp hoặc trong các phòng thí nghiệm của các Nhà trường. Dạy
học kết hợp với sử dụng thí nghiệm một cách thành công theo đúng mục đích
càng phát huy tính tích cực, trực quan sinh động, chủ động học tập của học sinh,
gây ra không khí học tập sôi nổi và đạt hiệu quả cao trong dạy học.
Để kiểm tra dự đoán và rút ra kết luận về tính chất hoá học của chất đòi hỏi
phải sử dụng thí nghiệm hoá học. Nếu không sử dụng thí nghiệm hoá học trong
dạy hoá học thì không thể đáp ứng theo yêu cầu đặc trưng bộ môn. Đồng thời
không đúng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học
tích cực.
Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tiễn, là tiêu chuẩn đánh giá
tính chân thực của kiến thức, hỗ trợ đắc lực cho tư duy sáng tạo và nó là phương
- 1 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

tiện duy nhất giúp hình thành ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo thực hành và tư duy kỹ
thuật.
Thí nghiệm có thể thực hiện được trong tất cả các khâu của quá trình dạy
học. Chẳng hạn thí nghiệm biểu diễn của giáo viên sử dụng trong nghiên cứu tài
liệu mới, hoặc trong khâu hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo (ôn tập, tổng
kết). Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững


tế có nhiều cách sử dụng thí nghiệm hoá học khác nhau nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh. Có các trường hợp sử dụng thí nghiệm như sau:
- Thí nghiệm nghiên cứu do nhóm học sinh thực hiện để phát hiện tính
chất hoá học mới.
- Thí nghiệm biểu diễn của giáo viên theo hướng nghiên cứu giúp học sinh
quan sát, nhận xét rút ra kết luận.
- Thí nghiệm kiểm chứng nhằm kiểm tra dự đoán, những suy đoán lí thuyết.
- Thí nghiệm đối chứng nhằm rút ra kết luận đầy đủ chính xác hơn về một
qui tắc, tính chất của chất.
- Thí nghiệm nêu vấn đề (giúp học sinh phát hiện vấn đề).
- Thí nghiệm giải quyết vấn đề…
2. Qui trình thực hiện
Khi sử dụng thí nghiệm hoạt động của giáo viên và học sinh cần chú ý:
HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH
- Giáo viên chọn thí nghiệm đảm
bảo:
+ Đạt mục tiêu của bài học.
+ Dễ thành công.
+ An toàn.
- GV hướng dẫn học sinh tiến hành
thí nghiệm.
- Biết được mục đích của thí nghiệm
và cách tiến hành thí nghiệm.
- Chuẩn bị dụng cụ, hóa chất.
- Tiến hành thí nghiệm theo đúng
hướng dẫn của giáo viên.
- 4 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:


+ Học sinh quan sát hiện tượng
+ Giải thích hiện tượng
+ Rút ra kết luận.
II- THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Hiện nay, trong quá trình dạy học bộ môn Hóa học ở trường THPT, giáo
viên chủ yếu sử dụng phương pháp nêu vấn đề dạy học theo quan điểm thuyết
trình hoặc sử dụng công nghệ thông tin trình chiếu mang lại hiệu quả nhất định.
Nếu có sử dụng thí nghiệm dạy học thì chủ yếu sử dụng thông qua các thí
nghiệm trình chiếu mà ít sử dụng thí nghiệm trực quan, các thí nghiệm trực quan
do giáo viên hoặc học sinh chủ yếu sử dụng trong các tiết có bài thực hành,
chính vì vậy cũng chưa mang tính thuyết phục cho học sinh vì Hóa học là bộ
mộn vừa có lý thuyết và thực hành kiểm chứng
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Sử dụng thí nghiệm theo hướng tích cực là thí nghiệm cung cấp kiến thức,
phương tiện để học sinh khai thác, tìm tòi theo phương pháp kiểm chứng,
phương pháp nghiên cứu….
Các cách sử dụng thí nghiệm:
Cách 1: Dùng thí nghiệm để kiểm nghiệm các giả thuyết, dự đoán trong
phương pháp nghiên cứu.
- 6 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

Cách 2: Dùng thí nghiệm để kết luận.
Sau đây là một số trường hợp sử dụng thí nghiệm theo hướng dạy học tích
cực:
1. Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm hoá học được tiến hành theo phương pháp nghiên cứu được đánh
giá là phương pháp dạy học tích cực vì nó giúp học sinh nắm vững kiến thức
vững chắc, sâu sắc và phong phú cả về lí thuyết lẫn thực tế. Khi sử dụng phương
pháp này học sinh trực tiếp tác động vào đối tượng nghiên cứu, đề xuất các giải

,

Fe làm xúc tác.
+ Phản ứng xảy ra theo hướng:
Br
2
+ H
2
O
→
¬
HBr + HBrO
C
6
H
5
OH + HBr

C
6
H
5
Br + H
2
O
+ Phản ứng xảy ra theo hướng nguyên tử Br thế nguyên tử H trong nhân
thơm.
- Giáo viên làm thí nghiệm nhỏ dung dịch phenol vào dung dịch Br
2
.

2
SO
4
loãng vào dung dịch NaNO
3
, đun nóng
nhẹ .
Học sinh tiến hành thí nghiệm và quan sát hiện tượng.
- Giáo viên yêu cầu học sinh nêu hiện tượng xảy ra và giải thích ?
Học sinh:
+ TN 1: Không có hiện tượng gì xảy ra.
+ TN 2: Xuất hiện dung dịch màu xanh, khí không màu bay lên sau đó hoá nâu
trong không khí.
Giải thích: 3Cu + 8H
+
+ 2
3
NO



3Cu
2+
+ 2NO + 4H
2
O
2NO + O
2



2. Dùng thí nghiệm để kiểm nghiệm
- Qui trình thí nghiệm hóa học để kiểm chứng kiến thức:
+ Giáo viên nêu mục đích thí nghiệm và yêu cầu học sinh thực hiện, quan sát
trạng thái, màu sắc.
Dự đoán phản ứng có xảy ra không, lý do. Quan sát mô tả hiện tượng, giải
thích hiện tượng. Viết phương trình hóa học.
+ Giáo viên hoặc học sinh làm thí nghiệm kiểm chứng trong đó yêu cầu học
sinh nêu hiện tượng thí nghiệm.
+ Giáo viên chỉnh sửa kết luận, nhận xét, bổ sung kiến thức cho học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy về tính chất hoá học của
3
Fe
+
Giáo viên đặt vấn đề: Fe
3+
có phản ứng với Cu hay không ?
Lập kế hoạch giải với các giả thuyết:
- Nếu phản ứng không xảy ra thì sao ?

Không có hiện tượng gì.
- 10 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

- Nếu phản ứng xảy ra thì sao ?

Có 2 khả năng:
Trường hợp 1: + Có sắt bám trên mảnh Cu
+ Dung dịch có màu xanh.
Trường hợp 2:
+ Không có kim loại Fe bám trên Cu.

O

H
2
SO
3

- 11 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

* Về tính khử:
Cho học sinh làm thí : Sục khí SO
2
vào dung dịch Br
2
thấy dung dịch Br
2
bị
nhạt màu
Học sinh quan sát và giải thích:
SO
2
+ Br
2
+ 2H
2
O

2HBr + H
2

3. Dùng thí nghiệm để đối chứng
Để hình thành khái niệm hoá học giúp học sinh rút học sinh rút ra kết luận
một cách đầy đủ, chính xác hơn về một qui tắc, tính chất của một chất ta cần sử
dụng thí nghiệm ở dạng đối chứng. Trong quá trình sử dụng thí nghiệm đối
chứng ở một mức độ tích cực, giáo viên cần tổ chức, điều khiển hoạt động của
học sinh để các em được hoạt động như người nghiên cứu.
Ví dụ 1: Trong phản ứng oxi hoá của HNO
3
để thấy rõ sự phụ thuộc vào nồng
độ của HNO
3
, ta sử dụng thí nghiệm đối chứng:
- 12 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

Cho kim loại Cu vào dung dịch HNO
3
loãng thì thấy tạo khí không màu bị hoá
nâu ngoài không khí, còn khi cho Cu tác dụng với dung dịch HNO
3
đặc thì tạo
khí màu nâu ngay.
3Cu + 8HNO
3

(loãng)


3Cu(NO
3

Giáo viên: Lấy 3 ống nghiệm sạch, thu khí NO
2
cho vào cả 3 ống ( điều chế NO
2
từ Cu và dung dịch HNO
3
đặc ).
+ Ống 1: Dùng để đối chứng.
+ Ống 2: Nhúng vào nước đá có hoà tan một ít NaCl để nước lạnh hơn.
+ Ống 3: Nhúng vào một cốc nước nóng.
Học sinh quan sát hiện tượng:
Kết quả thấy ống (2) nhạt màu hơn ống (1); ống (3) đậm màu hơn ống (1).
Giáo viên gợi ý cho học sinh giải thích:
Xét cân bằng: 2NO
2


N
2
O
4
;
H O∆ <
Đối với phản ứng toả nhiệt khi tăng nhiệt độ cân bằng dịch chuyển theo chiều
thu nhiệt tức là chiều nghịch là chiều tạo ra NO
2
, khi đó nồng độ NO
2
tăng lên
làm cho màu nâu ở ống (3) càng đậm hơn. Ống (2) làm lạnh ống nghiệm tức là

+ 2AgNO
3


2AgCl

+ Ag( NO
3
)
2
GV: Tiến hành thí nghiệm cho dung dịch AgNO
3
vào dung dịch FeCl
2
.
Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa màu trắng và dung dịch chuyển thành màu đỏ
nâu.
Khi đó xuất hiện mâu thuẫn có phản ứng xảy ra giữa 2 muối có cùng ion gốc
axit.
Giáo viên đặt vấn đề: Có phải phản ứng trao đổi ion không ?
Giải thích:
Phản ứng có xảy ra theo:
Fe
2+
+ Ag
+

→
Fe
3+

3
, xuất hiện kết tủa trắng keo.
Khi cho NH
3
Vào dd CuCl
2
xuất hiện kết tủa màu xanh.
Giáo viên làm thí nghiệm:
- Trường hợp 1: Kết quả đúng như dự đoán
- Trường hợp 2: Kết quả như dự đoán.
- Trường hợp 3: Kết quả không như dự đoán của học sinh, mà xuất hiện
dung dịch màu xanh đậm.
Giải thích: Do xảy ra các phương trình hóa học xảy ra như sau:
3NH
3
+ 3H
2
O

+ FeCl
3

→
Fe(OH)
3


+ 3NH
4
Cl

2


+ 2NH
4
Cl
Cu(OH)
2
+ 4NH
3

→
[Cu(NH
3
)
4
](OH)
2
Kết luận: Cu(OH)
2
tạo phức với dung dịch NH
3
.
5. Sử dụng thí nghiệm trong bài luyện tập.
- 15 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

Sử dụng thí nghiệm biểu diễn trong giờ luyện tập, ôn tập không phải lặp
lại những thí nghiệm đã biểu diễn mà có thể dùng các thí nghiệm mới, có những
dấu hiệu chung của thí nghiệm đã làm, nhưng có dấu hiệu mới để củng cố, chỉnh

Cl
- Cốc thứ 2 có phản ứng:
2Al + 3Hg(NO
3
)
2

→
2Al(NO
3
)
3
+ 3Hg
- 16 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

Hg được giải phóng ra tạo thành một lớp hỗn hống Al-Hg trên bề mặt
nhôm, lớp này ngăn cản không cho lớp màng oxit rắn chắc và liên tục. Ở từng
điểm nhỏ, Al bị oxi hoá bởi O
2
không khí tạo ra màu Al
2
O
3
ghi mọc dài giống
như tan thuốc lá.
Ví dụ 2: Hãy làm thí nghiệm hóa học xác nhận Cu hoạt động hóa học kém
hơn Zn và Fe, nhưng hoạt động hóa họa mạnh hơn Ag? Trong phòng thí nghiệm
có đầy đủ hóa chất và dụng cụ thí nghiệm.
* Học sinh suy nghĩ tìm hiểu việc chứng minh kim loại hoạt động thì có những

tích cực hiệu quả tiếp thu của học sinh bị hạn chế, một lớp sử dụng thí nghiệm
theo hướng dạy học tích cực hiệu quả tiếp thu của học sinh tích cực, học sinh
tiếp thu bài tốt, dễ hiểu và đặc biệt kiến thức ghi nhớ tốt hơn
PHẦN C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Qua việc sử dụng phương pháp trên, tôi thấy việc dạy học hoá học theo
hướng tích cực đem lại hiệu quả khá cao, học sinh hứng thú say mê học tập. Bởi
vì dạy học hoá học không chỉ là quá trình dạy truyền thụ kiến thức, thông báo
thông tin kiến thức cho học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ
chức, điều khiển các hoạt động tích cực của học sinh để đạt các mục đích cụ thể
của mỗi bài, chương cụ thể.
Trong một bài dạy không thể chỉ dùng một phương pháp duy nhất là có
thể phát huy tính tích cực của học sinh. Nhưng kết hợp nhiều phương pháp mà
không hợp lý sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Việc sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp dạy học tích cực trong một giờ dạy một cách thích hợp sẽ
đem lại hiệu quả mong muốn. Học sinh không chỉ hứng thú với tiết học, tiếp thu
- 18 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

bài nhanh hơn mà còn có cơ hội thể hiện sự hiểu biết, khả năng tư duy, nói trước
đám đông…phát triển kỹ năng.
Đề xuất một số điểm sau:
- Cần đạt chuẩn về phụ tá thí nghiệm qua bằng cấp và kỹ năng làm việc,
nên tổ chức thi phụ tá thí nghiệm Giỏi thông qua thi cụm huyện hoặc thi cấp
tỉnh. Khuyến khích phụ tá thí nghiệm viết SKKN về phụ tá từng môn như Hóa,
Lý, Sinh…
- Các hóa chất, dụng cụ thí nghiệm cần bổ sung kịp thời theo từng tháng,
học kỳ và trong năm học
- Hàng tháng phụ tá thí nghiệm báo cáo các tiết dạy, số lượng và chất
lượng giảng dạy thí nghiệm của từng giáo viên bộ môn Hóa để phó Hiệu trưởng
phụ trách chuyên môn và tổ bộ môn trong cuộc họp tổ chuyên môn có ý kiến

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

- 23 -
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:

- 24 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status