“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
Phần I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cũng như ngôn ngữ của loài người nói chung, câu Tiếng Việt là một phương tiện giao
tiếp quan trọng trong xã hội. Chức năng đó chẳng những biểu lộ trong lĩnh vực giao tiếp
hàng ngày của mọi người Việt Nam, mà còn được biểu lộ trong các lĩnh vực hoạt động
giao tiếp về chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, giáo dục, ngoại giao Câu Tiếng Việt đã
từ lâu là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ. Nó đã góp phần thể hiện rõ
sức mạnh và sự tinh tế, uyển chuyển trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật.
Nhưng trong thực tế giảng dạy hiện nay, tôi nhận thấy kỹ năng đặt câu và chữa lỗi
của học sinh còn chưa tốt. Nhiều em thường tỏ ra rất lúng túng khi yêu cầu đặt câu, có khi
câu do các em đặt ra nhưng các em cũng không biết đúng hay sai, có mắc lỗi gì không?
Hoạt động trên lớp là hoạt động giao tiếp giữa thầy với trò, nếu học sinh nói chưa thành
câu thì giao tiếp không đạt được mục đích, giờ học không có kết quả. Từ những điều đó tôi
nghĩ, giờ dạy Tiếng Việt giáo viên có đủ điều kiện để khắc phục những hạn chế kể trên
của học sinh. Cho nên tôi góp thêm “Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị
ngữ ở mụn Ngữ văn 6”
Phần II
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1-Thực trạng
Trong quá trình giảng dạy và qua việc thực hiện dự giờ các đồng nghiệp tôi thấy có
một số giờ dạy tiếng việt mà cụ thể là trong việc rèn kỹ năng sửa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ
cho học sinh đạt hiệu quả chưa cao. Giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc rèn luyện
kỹ năng đặt câu cho học sinh qua các giờ dạy vì thời gian trên lớp để thực hiện và tổ chức
cho học sinh rèn luyện là không nhiều.
Mặt khác do học sinh khối 6 của trường mới chuyển từ lớp 5 lên nên chưa có nhiều
thời gian để thích nghi nhanh với các phương pháp học tập mới. Vì thế khiến cho một số
giờ dạy đạt hiệu quả chưa cao. Một bộ phận học sinh còn chậm, năng lực còn hạn chế, các
em học tập còn thụ động, chưa tích cực, việc chuẩn bị bài chưa tốt. Đặc biệt là khả năng
nắm bắt về câu và cách chữa lỗi của không ít học sinh vẫn còn mơ hồ, chưa chắc chắn.
2. Kết quả
phải vận dụng kỹ năng. Đặt câu hỏi để kiểm tra và xác định thành phần chủ ngữ, vị ngữ (
Chủ ngữ thường trả lời cho các câu hỏi : Ai?, Cái gì?, Con gì?, Còn vị ngữ thì trả lời
cho các câu hỏi: Là ai?, Là cái gì?, Làm gì?, Như thế nào?, Làm sao? ) Ví dụ;
(1) - Anh / đi đâu đấy (2) - Ai / là chủ nhà đây?
C V C V
(3) - Em / học Tiếng Việt.
C V
Ví dụ: Để thực hiện việc sữa lỗi về chủ ngữ hoặc vị ngữ cho các câu sau;
a) Qua truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí ” cho thấy Dế Mèn biết phục thiện
b) Qua truyện “ Dế Mèn phiêu liêu kí” , em thấy Dế Mèn biết phục thiện.
c) Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
d) Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
* Yêu cầu
- Học sinh xác định được thành phần chủ ngữ và vị ngữ của các câu trên.
- Xác định lỗi sai của câu là do thiếu thành phần nào trong câu.
* Kết quả
2
“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
a) Qua truyện “ Dế Mèn phiêu lưu kí ” cho thấy Dế Mèn biết phục thiện.
Tr V
( Như vậy đây là câu thiếu thành phần chủ ngữ)
b) Qua truyện “ Dế Mèn phiêu liêu kí ”, em / thấy Dế Mèn biết phục thiện.
Tr C V
( Câu đầy đủ thành phần chủ ngữ , vị ngữ)
c) Thánh Gióng / cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
C V
( Câu đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ)
d) Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
C
(Đây là câu thiếu thành phần vị ngữ)
Tr C V
* Cách chữa lỗi sai về vị ngữ: Theo các cách sau:
1) Thêm bộ phận vị ngữ.
d) Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù /
C
đã để lại trong em niềm kính phục .
V
2) Bỏ từ “Hình ảnh”
Thánh Gióng / cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
C V
3) Hoặc biến cụm danh từ : “ Hình ảnh / Thánh gióng cưỡi ngựa sắt, vung
roi sắt, xông thẳng vào quân thù ” thành bộ phận của cụm chủ - vị.
Em rất thích hình ảnh Thánh gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân
thù.
Để thực hiện vấn đề trên hiệu quả hơn, tôi xin đưa ra ứng dụng việc áp dụng đổi mới
phương pháp về việc rèn kỹ năng chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp 6. Qua
việc đưa ra những hoạt động cơ bản nhất, mang tính định hướng cho hoạt động dạy và học
trong một tiết dạy cụ thể.
* ỨNG DỤNG ÁP DỤNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP VÀO VIỆC RÈN KỸ NĂNG
VỀ CHỮA LỖI CHỦ NGỮ, VỊ NGỮ CHO HỌC SINH LỚP 6
TIẾT 120 CHỮA LỖI VỀ CHỦ NGỮ VÀ VỊ NGỮ
* Mục tiêu cần đạt
- Củng cố cách đặt câu của học sinh.
- Phát hiện và chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ khi nói, viết.
- Củng cố và nhấn mạnh, ý thức về câu đúng ngữ pháp. Nắm được lỗi sai về quan hệ ngữ
nghĩa giữa các thành phần trong câu.
* Chuẩn bị
- Giáo viên chuẩn bị bảng phụ.
- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan.
- Học sinh chuẩn bị bài ở nhà chu đáo; Học bài cũ, soạn bài mới chu đáo,
yêu cầu.
- Nhận xét đánh giá kết quả của các nhóm khác.
* Kết quả cụ thể của hoạt động 1.
Đối với việc thực hiện hoạt trên trong việc chữa lỗi thì học sinh chỉ trình bày kết quả vào
phiếu học tập của một trong các cách chữa lỗi như trên miễn là nó phù hợp và đúng với
yêu cầu.
Câu Xác định chủ ngữ, vị ngữ Lỗi sai Nguyên Cách chữa
5
“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
nhân
a
Qua truyện “ Dế Mèn phiêu
Tr
lưu kí ” cho thấy Dế Mèn
V
biết phục thiện.
Đây là
Câu
thiếu
thành
phần
chủ
ngữ.
Do lầm
trạng
ngữ với
chủ ngữ
1. Thêm chủ ngữ ; Tác giả
Qua truyện “ Dế Mèn phiêu
Tr
“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
- Nhận xét đánh giá kết quả của các nhóm khác.
* Kết quả cụ thể của hoạt động 2.
Cũng như hoạt động về chữa lỗi chủ ngữ thì trong quá trình thực hiện chữa lỗi về vị ngữ
học sinh chỉ trình bày kết quả vào phiếu học tập của mình, một trong các cách chữa lỗi như
sau :
Câu Xác định chủ ngữ, vị
ngữ
Lỗi sai Nguyên
nhân
Cách chữa lỗi
b d) Hình ảnh Thánh
Gióng cưỡi ngựa sắt,
vung roi sắt, xông
thẳng vào quân thù.
C
Câu
thiếu
thành
phần
vị ngữ
Lầm
Định
ngữ với
vị ngữ
1)Thêm bộ phận vị ngữ;
Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi
ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng
vào quân thù / đã để
C V
- Rút ra kết luận câu có đầy đủ thành phần theo quy tắc Tiếng Việt không?
* GV yêu cầu học sinh hoạt động độc lập để trình bày kết quả.
( Học sinh suy nghĩ và trả lời câu hỏi – Lớp nhận xét và bổ sung)
* Gợi ý trả lời;
a) Từ hôm đó, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay không làm gì nữa.
- Câu hỏi để xác định chủ ngữ: Ai không làm gì nữa? ( bác Tai, cô Mắt , cậu Chân, cậu
tay).
- Câu hỏi để xác định vị ngữ: Từ hôm đó, bác Tai, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay như thế
nào? ( Không làm gì nữa)
* Kết luận: Đây là câu có đầy đủ thành phần chủ ngữ, vị ngữ theo quy tắc Tiếng Việt
7
“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
b) Lát sau, Hổ đẻ được.
- Câu hỏi để xác định chủ ngữ: Con gì đẻ được? (Hổ)
- Câu hỏi để xác định vị ngữ: Làm gì? Lát sau, Hổ làm gì? (đẻ được)
Kết luận: Câu có đủ thành phần chủ ngữ, vị ngữ.
c) Hơn mười năm sau, bác Tiều già rồi chết.
- Câu hỏi để xác định chủ ngữ: Ai? Ai già rồi chết? (bác Tiều)
- Câu hỏi để xác định vị ngữ: Làm sao? bác Tiều làm sao? (già rồi chết)
Kết luận: Câu có đủ thành phần chủ ngữ, vị ngữ.
Bài tập 2:
- GV cho học sinh xác định yêu cầu bài tập. Xác định câu nào viết sai trong số các câu
dưới đây? vì sao?
- Yêu cầu học sinh suy nghĩ trao đổi thảo luận nhóm ( theo bàn) để xác định câu sai và
cho biết vì sao? cho biết cách sửa.
- Lớp nhận xét và bổ sung
a. Kết quả của năm học đầu tiên ở trường Trung học cơ sở / đã động viên em rất
C V
nhiều.
- Chủ ngữ: Đặt câu hỏi : Cái gì? Cái gì đã động viên em rất nhiều? (Kết quả của năm
- Vị ngữ: Như thế nào? ( thích nghe kể những câu chuyện dân gian)
Kết luận: Câu có đủ thành phần : Chủ ngữ, vị ngữ
4- Kết quả đạt được:
Sau quá trình nghiên cứu tôi đã vận dụng đổi mới phương pháp về vấn đề nghiên cứu
trên vào giảng dạy. Tôi nhận thấy trong giờ học thầy và trò cùng làm việc tích cực, học
sinh hứng thú trong giờ học. Số lượng học sinh hiểu bài ngày càng cao, đặc biệt là kỹ năng
chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ đã đạt được hiệu quả tốt hơn so với trước đó rất nhiều.
Kết quả khảo sát sau khi áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào việc rèn kỹ
năng chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp 6 (Vào thời điểm cuối học kỡ II).
Khối sĩ số Chữa lỗi
SL TL SL TL
6 83 66 79.5% 17 20.5%
III- Bài học kinh nghiệm
- Trong quá trình dạy học giáo viên cần phải triệt để hơn nữa về việc đổi mới
phương pháp giảng dạy- Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, lấy học sinh làm
trung tâm. Giáo viên cần phải nắm chắc từng đối tượng học sinh để có phương pháp tổ
chức hoạt động học tập của học sinh hiệu quả, đặc biệt là khi tổ chức cho học sinh hoạt
động nhóm.
- Cần chuẩn bị chu đáo cho việc thiết kế bài dạy cũng như chuẩn bị và tăng cường
sử dụng đồ dùng dạy học vào các tiết dạy để giờ học đạt hiệu quả hơn. Giáo viên cần tích
cực tự học tìm hiểu kiến thức có liên quan đến bài dạy, rút kinh nghiệm trong qúa trình
giảng dạy, tích cực dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp để có phương pháp và kỹ năng
trong giảng dạy.
- Tránh cách dạy rập khuôn máy móc dẫn đến việc học sinh khó tiếp nhận kiến
thức, cần quan tâm đến việc rèn kỹ năng sửa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ cho học sinh.
9
“Một vài kinh nghiệm về kỹ năng chữa lỗi chủ ngữ, vị ngữ ở môn Ngữ văn 6”.
- Phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, tích cực trong hoạt động học, tăng cường
giao tiếp giữa thầy và trò để tạo được mối liên hệ gần gũi trong quá trình giảng dạy.
IV- Những vấn đề kiến nghị