SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
MỤC LỤC
NỘI DUNG TRANG
A. Đặt vấn đề 3
I. Lí do chọn đề tài 3
1. Cơ sở lí luận 3
2. Cơ sở thực tiễn. 5
II. Mục đích nghiên cứu đề tài 7
III. Đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu đề tài 8
1. Đối tượng. phạm vi nghiên cứu 9
2. Phương pháp nghiên cứu. 9
IV. Nhiệm vụ của đề tài 9
B. Giải quyết vấn đề. 10
I - Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lồng ghép giáo dục kĩ
năng sống
10
II. Tình hình giáo dục kĩ năng sống cho lứa tuổi thanh
thiếu niên ở địa phương nói chung và trong nhà trường nói
riêng:
11
III. Một số hình thức lồng ghép giáo dục kĩ năng sống
trong việc giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9:
12
1.Những yêu cầu có tính nguyên tắc trong việc giáo dục kĩ
năng sống:
12
2. Mục tiêu lồng ghép giáo dục Kĩ năng sống ở trường
THCS thông qua các bài học Ngữ văn theo phương pháp
tích cực.
13
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
trong bài thơ “Nửa đêm” : “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn. Phần nhiều do
giáo dục mà nên” (Nhật ký trong tù). Câu nói trên chính là sự chiêm
nghiệm của Bác về con người. Trước hết, Bác phủ nhận quan điểm cho
rằng, đạo đức, tính cách con người là “tính sẵn”mà nhân cách con người rõ
ràng ảnh hưởng phần nhiều bởi sự giáo dục và môi trường sống, cùng sự
phấn đấu, rèn luyện của mỗi cá nhân mà hình thành những con người thiện,
ác khác nhau. Người cho rằng để mỗi con người trở thành một người thiện,
một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là
quá trình giáo dục có một ý nghĩa thật to lớn. Mục tiêu giáo dục của nhà
trường là hướng tới việc giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người vừa
hồng, vừa chuyên, để các em trở thành những công dân tốt vừa có đức, lại
vừa có tài để đủ sức gánh vác trọng trách mà các thế hệ cha anh trao lại là
không chỉ gìn giữ, bào tồn, phát huy mà quan trọng hơn cả là phải đưa đất
nước ta trở thành một đất nước hùng mạnh về mọi mặt trong tương lai.
Muốn vậy thì thế hệ trẻ ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường không chỉ
cần phải học kiến thức văn hóa, mà điều quan trọng hơn là cần phải học để
“làm người”, nhằm đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Nhưng muốn đạt được mục tiêu chính đáng như trên, hay nói cách
khác là những công dân tương lai muốn trở thành những con người vừa
hồng vừa chuyên thì rất - rất cần phải được rèn các kĩ năng cần thiết, tối
thiểu để có thể thích ứng nhanh chóng với những điều kiên cuộc sống hiện
đại, điều kiện đất nước ta đang hội nhập cả chiều rộng lẫn chiều sâu về mọi
lĩnh vực: kinh tế, tri thức, văn hóa, xã hội, tác phong, lối sống, nếp nghĩ…
Rèn luyện kỹ năng sống cho thế hệ trẻ mà cụ thể là các em học sinh
không chỉ là trách nhiệm chung của các nhà trường mà còn là trách nhiệm
của cả gia đình và xã hội. Trong đó, người giáo viên giữ vai trò quyết định.
Đây cũng là một trong những nội dung của phong trào thi đua “Xây dựng
dục kĩ năng sống vào toàn bộ chương trình giảng dạy trong nhà trường trên
phạm vi toàn quốc như là một nhu cầu, một đòi hỏi tất yếu của cuộc sống.
Với đặc trưng môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung, trường
THCS nói riêng là một môn học về Khoa học xã hội và nhân văn, thì môn
Ngữ văn bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 4
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, thì
môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn
học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người. Vì thế đã từ lâu và nhất là
trong giai đoạn hiện tại, thiết nghĩ hơn hết các môn được đưa vào giảng dạy
trong nhà trường, môn Ngữ văn phải là môn đi đầu trong việc lồng ghép
việc giáo dục kĩ năng sống cho các học sinh trong nhà trường nói chung và
đặc biệt là trường THCS nói riêng.
2. Cơ sở thực tiễn:
Lứa tuổi học sinh trung hoc cơ sở - lứa tuổi vị thành niên - đang ở giai
đoạn quá độ từ trẻ em sang người lớn. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt,
duy nhất của cuộc đời vì giai đoạn này xảy ra đồng thời một loạt thay đổi,
bao gồm: Sự thay đổi từng ngày về thể chất; sự biến đổi, điều chỉnh vô
cùng mạnh mẽ về tâm lí và sự biến đổi không ngừng các quan hệ xã hội
nhằm đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ phát triển.
Theo các nhà tâm lí học lứa tuổi, lứa tuổi học sinh trung hoc cơ sở là giai
đoạn nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình, hướng tới những người
bạn đồng lứa, xã hội hoá cái tôi…Đây cũng là lứa tuổi tràn đầy cảm xúc, dễ
xúc động, khó kiểm chế những xúc cảm bột phát, dễ bi tổn thương… Trạng
thái tình cảm của các em thất thường, không ổn định, thoắt vui, thoắt buồn,
khó kiểm soát xung quanh và khó kiểm soát bản thân mình…
Theo các nghiên cứu gần đây về lứa tuổi vị thành niên ở Việt nam cho
thấy, các em học sinh ở lứa tuổi này đang có một khoảng trống đáng ngại
giáo viên đã hướng các em xích gần lại với đời, để các em hiểu được nhân
vật văn học chính là từ cuộc đời thực mà bước ra vậy. Và ai đã từng đứng
lớp đều không thể không nhận thức được vị trí quan trọng của môn Ngữ
Văn, với tư cách là một môn Khoa học xã hội thì trách nhiệm giáo dục các
em hướng tới cách sống và hành động một cách tự chủ là điều quan trọng
hơn bao giờ hết. Để đạt được điều đó, theo tôi giáo viên không chỉ truyền
thụ cho các em học sinh vẻ đẹp của giá trị nội dung và nghệ thuật của tác
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 6
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
phẩm văn chương mà qua đó còn rất cần phải truyền tải được cả thông điệp
mà nhà văn gửi gắm đến các em và tất cả mọi người nữa. Nếu làm như vậy,
giáo viên đã góp phần định hướng được kĩ năng sống cho các em để các em
có thể nhớ lại tất cả những gì đã được góp nhặt, được giáo dục trong giờ
học môn Ngữ văn mà quan trọng hơn hết là các em còn biết đưa các kĩ năng
đó vào cuộc sống của các em sau này.
II. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Như chúng ta thấy, giáo dục là một quá trình bao gồm cả giáo dục và
giáo dưỡng. Trong giáo dục thì có giáo dưỡng, trong giáo dưỡng thì có giáo
dục. Vậy để hai quá trình này đạt thành một mục tiêu chung thì hoạt động
dạy-hoc đóng một trò chủ đạo, tích cực để hướng tới mục tiêu đó. Trong xu
thế phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ ngày nay, mỗi nội dung
giáo dục đều được thể hiện theo xu thế chung này. Có một vấn đề mà tôi
thấy chúng ta nên đưa tất cả những vấn đề cần thể hiện về giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ và học sinh vào luôn trong nội dung từng môn học, bài học.
Nếu thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học được điều này thì việc thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện sẽ thuận lợi và đạt kết quả cao hơn.
Trong nhà trường, cũng như trong thực tiễn công tác dạy học, suy
cho cùng cái đích của việc học Ngữ văn không chỉ là giúp cho học sinh
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là:
- Tìm tòi, nghiên cứu nội dung để lồng ghép.
- Soạn giảng, trao đổi.
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 8
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
- Thảo luận nhóm, cá nhân.
- Khảo sát, suy nghĩ, ghi chép.
- Nắm bắt tình hình thực tiễn.
- Đúc rút kinh nghiệm thực tiễn giảng dạy để tìm ra giải pháp
Đó là phương pháp tôi là thấy bước đầu đã có hiệu quả.
IV. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Qua từng bài dạy, ngoài việc giúp học sinh song song với nắm các kiến
thức, cảm thu được cái hay cái đẹp của tác phẩm, đoạn trích thì người giáo
viên còn cần khéo léo lồng vào các bài dạy những kĩ năng sống cần thiết
như về tư tưởng, tình cảm, cách ứng xử giữa con người với con người và
ứng xử con người với môi trường xung quang, để các em biết cách vận
dụng trong cuộc sống hàng ngày của mình. Lồng ghép nhưng không làm
cho tiết dạy bị trở thành bị nặng nề thêm, bị giáo điều và quan trọng nhất là
thông qua mỗi bài học sẽ góp phần hình giáo dục, rèn luyện cho các em một
và kĩ năng sống nhất định nào đó để các em có thể vận dụng, ứng xử trong
cuộc sống hiện tại hoặc sẽ là hành trang quí giá trong tương lai.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I - Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh THCS trong việc dạy và học môn Ngữ văn:
Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung và cấp THCS nói
riêng, với đặc trưng của một môn học nghiêng về lĩnh vực Khoa học xã
hội và nhân văn, thì bên cạnh nhiệm vụ cơ bản hàng đầu là hình thành và
phát triển ở học sinh năng lực cảm thụ những cái hay cái đẹp của tác phẩm
thơ văn thông qua giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm để từ đó rèn
Thủ Đô và của đất nước trong giai đoạn cách mạng hiện tại và tương lai
thực sự chưa được đặt xứng tầm với một phường nội đô đang trên đà phát
triển nhanh, mạnh trong giai đoạn đổi mới.
Hoạt động của Đoàn Thanh niên trong nhà trường và tại địa bàn phường
hầu như mới dừng lại ở các hoạt động mang tính chất “thời vụ”, hoạt động
mang tính phong trào chỉ nhằm đáp ứng các yêu cầu cấp bách trước mắt
của tổ chức Đoàn cấp trên, còn rất ít khi có các hoạt động tách biệt để làm
công việc chuyên biệt đối với giáo dục kĩ năng sống cho thanh thiếu niên
trên địa bàn nói chung và học sinh nói riêng.
Năng lực của cán bộ đoàn về khả năng làm công tác tuyên truyền, giáo
dục kĩ năng sống còn có những hạn chế nhất định nếu không muốn nói là
không có.
Học sinh gần như bị buông lỏng vấn đề này, ngoài giờ học trong nhà
trường, thì hầu như các em đều không có được sự quản lí của đoàn thể nào
khác. Mà ngoài sự quản lí của gia đình học sinh, còn lại gần như các em
được tự do, thậm chí là rất nhiều em sa đà vào các quán điện tử, hoặc tụ tập
các nhóm bạn cùng sở thích với nhau để vui chơi một cách tự phát… Vì
vậy nên với tư cách là một nhà sư phạm, hơn nữa lại là một cô giáo dạy
Ngữ văn, tôi nhận thấy rằng những Kĩ sư tâm hồn nên và hoàn toàn có thể
làm được điều đó một cách thuận lợi nhất so với các cơ quan đoàn thể khác
trên địa bàn. Song chỉ còn là vấn đề cái tâm của người thầy có muốn làm và
có ngại khó, sợ tốn thời gian mà thôi.
Đây quả thật cũng còn là một lĩnh vực khá mới không chỉ đối với ngành
mà có thể nói là còn rất mới đối với toàn thể giáo viên cấp học cũng như
nhà trường. Nên từ năm học 2011-2012 và năm học 2012-2013 bản thân tôi
thấy trong điều kiện và khả năng hiện tại của mình nói riêng và khả năng
của phần lớn của giáo viên dạy Ngữ văn trong cấp học THCS nói chung có
thể vận dụng lồng ghép trong quá trình giảng dạy bộ môn và thật sự là tôi
thấy việc áp dụng ấy của mình đã có những hiệu quả nhất định nên tôi
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 11
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
a. Về kiến thức:
Ngoài mục tiêu chung về kiến thức như đã xác định trên đây thì khi lồng
ghép giáo dục kĩ năng sống vào từng bài giảng cụ thể, giáo viên có thể lựa
chọn thêm các mục tiêu sau vào bài soạn:
- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như các
giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc
sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình,
nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp.
- Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng sống giúp cho bản thân
các em sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh
hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần chính mình và người khác.
- Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các kĩ năng
sống.
b. Về kĩ năng:
Có thể bổ sung thêm các kĩ năng sống sau đây:
- Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt,
hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.
- Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng
đắn trong cuộc sống.
- Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người
khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc
sống (như tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể
xác ); giúp HS phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát
triển nhân cách của cá nhân.
c. Về thái độ:
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 13
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
xử lí hiệu quả những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống (nhất là với cuộc
sống xã hội đang thay đổi, diễn biến phức tạp và đầy cạm bẫy hàng ngày).
4. Cấu trúc bài soạn lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong giờ Ngữ
văn như sau:
A. Mục tiêu bài học:
- Kiến thức: (đạt theo chuẩn kiến thức)
- Kỹ năng:
+ Kỹ năng chuyên môn ( cần đạt theo chuẩn kĩ năng)
+ Kỹ năng sống: (Tùy tình hình thực tế đối tượng học sinh, đặc điểm
vùng miền, cảm nhận của người dạy mà chọn thời điểm lồng ghép, nội
dung lồng ghép và hình thành kĩ năng cho thích hợp)
- Thái độ: + Đối với việc lĩnh hội các kiến thức trong bài học.
+ Đối với kiến thức kĩ năng sống ( căn cứ vào nội dung bài
học cụ thể).
B. Chuẩn bị phương tiện dạy - học:
GV: + Giáo án, SGK, đồ dùng phục vụ giảng dạy (máy chiếu, bảng phụ,
phiếu học tập và đặc biết là các tình huống có vấn đề bằng các câu hỏi hặc
các mẩu chuyện nhỏ để rèn kĩ năng sống , )
HS: + Ôn kĩ bài chú chú ý vận dụng các kĩ năng đã được lĩnh hội vào
thực tế.
+ Soạn bài mới.
C. Khởi động: Gồm công việc: ổn định tổ chức và kiểm tra sự chuẩn bị
bài hay kiểm tra bài cũ.
D. Tiến trình dạy học: Đây là bước GV lựa chọn các phương pháp tích
cực có thể sử dụng. Trong quá trình dạy tùy cấu trúc bài học, đối tượng học
sinh và thời gian cho phép của từng bài học mà giáo viên chủ động lồng
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 15
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
ghép giáo dục kĩ năng sống cho từng bài chứ không có một công thức
ý thức mình đang và sẽ làm gì cho bản thân mình, cho gia đình mình trong
hiện tại và tương lai mà có ứng xử giao tiếp phù hợp, hiệu quả. Chú ý từ
việc ăn mặc, nói năng, đi lại, biết tự chủ động, không để bị lôi kéo để rồi
mình chẳng còn gì là của riêng mình và a dua với bạn trên mọi phương
diện.
- Kỹ năng xác định giá trị của bản thân: Ở lứa tuổi học sinh THCS,
các em phải hiểu được rằng mỗi người chúng ta luôn có một giá trị riêng.
Giá trị đó có được hay không, có được đến mức độ nào phụ thuộc vào sự
đánh giá của gia đình, của bạn bè, của nhà trường, của xã hội thông qua kết
quả cụ thể từ các việc làm của chính mình nhờ sự nỗ lực phấn đấu của bản
thân. Mà đối với học sinh giá trị của mình phụ thuộc vào kết quả học tập và
rèn luyện tu dưỡng đạo đức được thầy cô, bố mẹ, người thân và bạn bè công
nhận.
1. 2 Văn bản “ Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” của Gac-xi-a
Mác -ket:
Trong phần củng cố kiến thức của bài học, các em đã thấy rõ hậu quả
khôn lường của vũ khí hạt nhận không chỉ hủy diệt sự sống mà còn đẩy lùi
sự tồn tại của hành tinh, của nhân loại, đây là một cuộc chạy đua vũ trang
vô cùng tốn kém, phi lívà bất nhân. Vì thế đấu tranh cho hòa bình, ngăn
chặn nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thực và cấp bách của
toàn nhân loại, trong đó có trách nhiệm của mỗi chúng ta.
Từ đó, giáo viên có thể đặt câu hỏi:
+ Em có đồng tình sẽ góp sức mình vào cuộc đấu tranh để chống chiến
tranh hạt nhân hay không?
+ Nếu là người được cử làm đại điện cho tầng lớp thanh thiếu niên Việt
Nam, góp tiếng nói vào cuộc đấu tranh này trong một Hội nghị chống
chiến tranh hạt nhân của ”Hội đồng liên hiệp quốc” em sẽ bày tỏ ý kiếm
của mình như thế nào?
Để rồi qua đó có thể hình thành cho các em các kỹ năng:
- Kỹ năng giao tiếp: Các em cần biết chủ động bày tỏ ý kiến của bản
và những người xung quanh hoặc thầy cô giáo, em dự định sẽ giải quyết sự
mâu thuẫn ấy như thế nào?
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 18
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
Giáo viên có thể cho các em trao đổi thảo luận để qua đó khéo léo dẫn
dắt đến hình thành và hướng dẫn cho các em các kĩ năng sau:
- Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn: Cuộc sông không ai có thể tránh
khỏi các mâu thuẫn. Khi mình bị rơi vào hoàn cảnh nào đó có những mâu
thuẫn căng thẳng cần phải biết bình tĩnh, biết cách chịu đựng và khéo léo
tìm cách để giải quyết mâu thuẫn một cách từ từ, nhất là khi phía bên kia
đang quá nóng giận, nếu cả hai phía đều thiếu bình tĩnh sẽ đẩy mọi chuyện
đi quá những giới hạn cho phép và có khi dẫn đến kết quả tiêu cực ngoài
mong muốn, có khi còn dẫn đến hậu quả khôn lường.
- Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ: Mỗi người trong những hoàn cảnh
tình huống cụ thể nào đó, khi tự mình không thể giải quyết được đều rất
cần đến sự giúp đỡ của người khác, nhất là các em chưa có nhiều kinh
nghiệm trong cuộc sống, lại hay gặp phải những tình huống khó xử. Nếu
biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ xung quanh ( sự tư vấn của thầy cô, của các
nhà chuyên môn, các chuyên gia tâm lí, trông sách báo hay tìm kiến các địa
chỉ tin cậy của các wess trên mạng Internet , các em sẽ được hỗ trợ về tinh
thần từ đó sẽ thấy tự tin hơn và sẽ có nhiều cơ hội thành công hơn.
2. 2 Văn bản “ Hoàng Lê Nhất Thống Chí ” của nhóm tác giả Ngô
Gia Văn Phái:
Sau khi giáo viên giúp học sinh hiểu được giá trị đặc sắc về nội dung và
nghệ thuật của văn bản, đặc biệt là vẻ đẹp chân thực của hình ảnh người
anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ qua cuộc tiến công thần tốc đại phá quân
Thanh, giáo viên có thể đưa câu hỏi:
- Từ hình tượng tuyệt vời của vua Quang Trung, em thấy có thể học
tập được gì vẻ đẹp đó của vị anh hùng?
những năm tháng tuổi thanh xuân để cho chúng ta có được cuộc sống tươi
đẹp như ngày hôm nay?
+ Em hiểu được gì về giá trị của cuộc sống hiện tại mà chúng ta đang
sống và dự định sẽ làm gì để xây dưng cuộc sống cuả mình trong tương
lai?
Từ đó mà giáo viên có thể hình thành cho các em các kỹ năng:
- Kỹ năng xác định giá trị: Đó là những chuẩn mực về đạo đức,
niềm tin, chính kiến, thái độ của mỗi người có ảnh hưởng tới quá trình ra
quyết định và giải quyết vấn đề. Việc xác định đúng giá trị sẽ giúp các em
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 20
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
lựa chọn được hướng đi, giải pháp phù hợp trong các tình huống gay cấn
của cuộc sống, tránh được những phản ứng tiêu cực nhất thời.
- Kỹ năng kiên định: Là kĩ năng thực hiện bằng được những gì mà
mình muốn; hoặc biết cách từ chối trước những lời mời mọc; hoặc biết
cách để khước từ sự lôi kéo rủ rê của bạn xấu, tham gia vào các hành động
tiêu cực Với sự tự trọng có xem xét tới nhu cầu và quyền của người khác
với nhu cầu và quyền lợi của mình một cách hài hòa đúng mực. Rèn kỹ
năng kiên định giúp các em làm chủ được tình huống.
3.2 Văn bản “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
Với những hình ảnh thơ đẹp, tươi sáng, khỏe khắn đầy lãng mạn, bài thơ
không chỉ cho ta thấy được vẻ đẹp, sự giàu có của biển quê hương, sự khỏe
khắn của những con người lao động làm chủ biển khơi. Từ đó ta càng thêm
tự hào và càng thêm yêu tha thiết quê hương.
Sau đó giáo viên có thể nêu câu hỏi:
+ Tự hào trước vẻ đẹp của biển quê hương, để thể hiện tình yêu đối với
quê hương em thấy mình cần phải làm gì?
+ Trước tình hình biển đảo quê hương đang có những dấu hiệu bất ổn
trước âm mưu, thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi của nước láng giềng Trung Quốc em
Từ đó giáo viên có thể giáo dục cho các em những kỹ năng:
- Kỹ năng xác định giá trị: Cuộc sống xã hội ngày càng phát triển và sẽ
còn nhiều đổi thay, trong xã hội con người có rất nhiều điều kiện xong dù
bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào cũng cần nhớ rằng: Bữa cơm gia đình là nơi
gắn kết tình cảm các thành viên trong gia đình nhỏ, gia đình lớn của chúng
ta, từ đây chúng ta lớn lên. Vì thế hãy trân trọng gìn giữ các những giây
phút được sống trong vòng tay yêu thương của gia đình.
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 22
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
- Kỹ năng đưa ra quyết định và kỹ năng khẳng đinh: Dù cho cuộc
sống biến động ra sao chúng ta phải biết gìn giữ trận trọng những truyền
thống tốt đẹp của cha ông tổ tiên. Vì vậy, khi đứng trước muôn vàn những
tình huống của cuộc sống, mỗi người cần chủ động lựa chọn, xử lí các tình
huống sao cho hài hòa giữa sở thích cá nhân nhưng lại vẫn hài hòa với hoàn
cảnh gia đình. Có vậy mình mới vừa là chính mình lại vừa giữ gìn được nề
nếp gia phong.
3.4 Văn bản “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của
Nguyễn Khoa Điềm và văn bản “ Con cò” của Chế Lan Viên:
Tuy chỉ là những văn bản đọc thêm nhưng qua hai văn bản này ta
không chỉ giúp cho các em hiểu sâu sắc về giá trị lời ru của cuộc đời mỗi
con người; hiểu được tình cảm sâu nặng của người mẹ, người không chỉ có
công sinh thành nuôi dưỡng ta khôn lớn, trưởng thành mà còn thấu hiểu
niềm mong ước của các bậc phụ huynh đối với những đứa con thân yêu để
từ đó mà biết ơn biết kính trọng và có bổn phận phải biết ơn, biết sống biết
phấn đấu suốt đời để làm cho cha mẹ vui .
Sau đó, có thể đưa ra câu hỏi:
+ Đọc bài thơ em cảm nhận được giá trị bài thơ, tình cảm sâu nặng của
bố mẹ dành cho đứa con như thế nào?
Qua đó giáo dục những kĩ năng sống như:
- Kĩ năng tư duy phê phán: Giúp học sinh có thể có kỹ năng phân tích,
phê phán một cách khác quan toàn diện vấn đề để biết đúng sai, nếu đúng
thì phát huy học tập, làm theo, còn sai thì biết cách làm chủ để tránh. Từ đó
giúp con người có thể đưa ra những quyết định phù hợp với hoàn cảnh của
mình, tránh được những sai lầm không đáng có để rồi bị lỡ thời cơ, rồi
phải hối hận nuối tiếc khi đã quá muộn.
Trần Thụy Phương – Trường THCS Phúc Đồng – Năm học 2012-2013. 24
SKKN: Lồng ghép giáo dục kĩ năng sống qua một số
bài giảng Ngữ văn9
- Kỹ năng giải quyết vấn đề: Đứng trước một hoàn cảnh sinh sống, mỗi
người có thể gặp những biến cố cuộc sống khác nhau. Trước những đổi
thay đó mỗi người cần phải biết chủ động chọn những phương án tối ưu
một cách kịp thời đúng đắn phù hợp với thuần phong mĩ tục của gia đình,
của dân tộc. Không vì bất cứ một lí do gì mà lơ là hay cố tình quên đi mình
là ai? Mình được sinh ra và lướn lên trong một gia đình như thế nào mà
không làm chủ được bản thân, cũng như làm chủ hoàn cảnh để rồi bị bạn bè
lôi kéo hay bị sa ngã.
3.6 Văn bản “M ùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải: Giúp học sinh
không chỉ hòa cảm xúc của mình với cảm xúc của tác giả trong vẻ đẹp tinh
tế của mùa xuân thiên nhiên, rộn ràng sôi động của mùa xuân đất nước và
sâu lắng của mùa xuân trong lòng thi sĩ với ước nguyện được đóng góp,
cống hiến những gì hữu ích cho cuộc đời: (Đặt bài thơ trong hoàn cảnh ra
đời của nó) để các em biết trân trọng hơn nét đẹp của mùa xuân thiên nhiên,
trân trọng hơn những giá cuộc sống mình đang có, biết xây dựng cho mình
một ước mơ được sống, cống hiến có ích trong cuộc đời, trong tương lai, dù
đó là những cống hiến nhỏ bé nhưng là những cống hiến có ích, cống hiến
âm thầm.
Giáo viên có thể ra cho học sinh những câu hỏi:
- Mỗi độ xuân về em thường có những cảm xúc gì?