1
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP CỦA
TÌNH TRẠNG THIẾU VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN
NÔNG THÔN HIỆN NAY.
HÀ NỘI, THÁNG 12/2010
2
MỤC LỤC
1. PHẦN MỞ ĐẦU
2. PHẦN NỘI DUNG
• Các khái niệm liên quan
• Thực trang thiếu việc làm của thanh niên nông thôn.
• Nguyên nhân thiếu việc làm của thanh niên khu vực
nông thôn.
• Hướng giải quyết cho tình trang thiếu việc làm.
3. PHẦN KẾT LUẬN
4. PHỤ LỤC: Một số tài liệu tham khảo.
3
I. PHẦN MỞ ĐẦU
Việc làm có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi
người, mỗi gia đình, cũng như trongg việc phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước.
Giải quyết việc làm là vấn đề mang tính toàn cầu, là một thách thức còn khá lâu dài
với toàn thể nhân loại. Đối với các nước đang phát triển như nước ta, nơi nguồn lao
động còn rất dồi dào và chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn thì tạo việc làm cho
người lao động- nhất là lao động trẻ bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của mỗi
quốc gia.
Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ở giai đoạn đầu nước ta
với khoảng hơn 80% dân số sống ở nông thôn ảnh hưởng đến số lượng lao động.
Thực trạng lao động việc làm diễn ra gay gắt trở thành vấn đề cần giải quyết của xã
hội nông thôn. Việt Nam hiện có khoảng 49,5 triệu lao động và mỗi năm lại có thêm
gần 1,5 triệu lao động mới. Đây vừa là lợi thế cũng vừa là thách thức đối với sự phát
triển của đất nước. Tại Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực
và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả
cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Như vậy, con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội.Song, con người chỉ trở
thành động lực cho sự phát triển khi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập của họ không
bị cấm và được thừa nhận là việc làm.
Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định
của pháp luật có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai
mặt: Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm
việc có thể huy động được của họ. Hiện nay ở nước ta, Bộ Luật lao động quy định về
độ tuổi lao động nam từ 15 - 60, nữ từ 15 – 55. Người lao động hải là người ít nhất đủ
15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.
b. Khái niệm việc làm:
Theo giáo trình Kinh tế Chính trị: “Việc làm là cơ sở vật chất để huy động
nguồn nhân lực vào hoạt động sản xuất trong nền kinh tế quốc dân”.
Theo Bộ Luật lao động và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật
lao động năm 2006 thì: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập,
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.”
c. Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm:
Theo Kinh tế học: “Thất nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và
đang tích cực tìm việc làm”.
6
Thiếu việc làm là trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp.
Đó là tình trạng có việc làm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của
người lao động. Họ phải làm việc nhưng không sử dụng hết thời gian theo quy
định hoặc làm những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống khiến họ muốn
tìm thêm việc làm bổ sung.Như vậy, thiếu việc làm được hiểu là trạng thái việc
làm không tạo điềukiện cho người tiến hành nó sử dụng hết thời gian quy định và
mang lại thu nhập thấp hơn mức tiền lương tối thiểu.
d. Những nhân tố ảnh hưởng đến sức ép về việc làm:
dịch cơ cấu kinh tế, vươn lên thoát nghèo. Nhiều thanh niên nông thôn đã bứt ra khỏi
lối tư duy cũ kỹ, mạnh dạn đầu tư vốn, sức lực, chất xám để sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, thực tế hiện nay là thanh niên nông thôn đang có hạn chế lớn là trình độ học
vấn và kỹ năng nghề nghiệp thấp lại ít có cơ hội được đào tạo nghề nghiệp. Theo điều
tra của Ban Thanh niên nông thôn, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí minh, tỷ lệ lao
động có chuyên môn kỹ thuật trong thanh niên nông thôn thấp hơn 4 lần so với thành
thị; trình độ cao đẳng, đại học trở lên của thanh niên nông thôn thấp hơn 6 lần so với
thanh niên thành thị.
Theo báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam 1/9/2009 của Bộ Kế
hoạch Đầu tư và Tổng cục Thống kê:
-Trong số gần 1,3 triệu lao động thất nghiệp, số người thất nghiệp trẻ tuổi từ 15
đến 29 chiếm gần hai phần ba (64,9%), trong đó chiếm tỉ trọng lớn nhất là nhóm tuổi
20-24 (26,6%), tiếp đến là theo nhóm tuổi 25-29 (20,9%). Nhóm tuổi lao động trẻ
nhất (15-19) vẫn có tới 17,4% không có việc làm. Đây là một trong những nhóm lao
động được xem là dễ bị ảnh hưởng nhất bởi các biến động trên thị trường lao động.
8
Nhóm tuổi
Tỉ trọng lao
động thất nghiệp
( phần trăm)
15-19
20-24
25-29
30-34
35-39
40-44
45-49
50+
17,4
26,6
Chung
Thành
thị
Nông
thôn
• Toàn quốc
-Nam
-Nữ
• Các vùng:
-Trung du và miền núi
phía Bắc
-Đồng bằng sông Hồng
-Bắc Trung Bộ và
Duyên hải miền Trung
-Tây Nguyên
-Đông Nam Bộ
-Đồng bằng sông Cửu
Long
• Hai thành phố lớn:
-Hà Nội
-Hồ Chí Minh
5,4
5,7
5,1
3,1
5,3
5,4
5,4
3,3
9,0
1,4
3,7
3,7
3,1
5,2
4,6
4,3
4,9
3,2
4,3
5,0
3,0
5,1
4,6
4,6
5,7
2,1
2,0
2,1
1,0
1,8
2,1
0,8
2,1
3,5
2,1
2,4
Bảng 2. Tỉ lệ thất nghiệp và tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi khu vực
thành thị/ nông thôn, 1/9/2009.
10
sẽ giảm từ 19% trong năm 2010 xuống còn 17,2% trong năm 2015. Tuy nhiên, tỉ lệ
thiếu việc làm trong thanh niên sẽ tăng cao. Năm 2007 có 52.5% số người thiếu việc
làm ở độ tuổi từ 15-24. Tỉ lệ thiếu việc làm trong thanh niên tăng tương đối cao, tăng
từ 4,8% năm 2000 lên 6% năm 2007. Như vậy tỉ lệ thiếu việc làm của thanh niên so
với tỉ lệ thiếu việc làm của người lớn tuổi đã tăng đều đặn từ 3,1 đến 4 lần. Hầu hết
11
lao động thiếu việc làm đều tập trung ở vùng nông thôn, chiếm 89% dân số thiếu việc
làm tại năm 2007. Tỉ lệ thiếu việc làm ở nông thôn Việt Nam cao hơn (5,8%) so với ở
đô thị (2,1%).
3. NGUYÊN NHÂN THIẾU VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN NÔNG
THÔN.
1. Dân số:
Hơn 80% dân số sinh sống tại nông thôn trong đó gần 70% lao động trong nông
nghiệp với 77% hộ thuần nông. Điều này đã gây ra sức ép trong việc giải quyết việc
làm. Năm 2006 lao động nông thôn chiếm 75.4% tổng số lao động cả nước (tương
đương 33.6 triệu người) và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 1.6%, thấp hơn
tốc độ tăng trưởng việc làm của cả nước (2.3%) trong giai đoạn 1996-2006.
Trong báo cáo “Xu hướng Lao động và Xã hội Việt Nam 2009/10” đã đề cập đến
sự di cư từ nông thôn ra thành thị và đô thị hóa tăng nhanh do sự chênh lệch về thu
nhập và mức sống giữa hai khu vực. Dân cư thành thị hàng năm tăng với mức trung
bình 3,2% từ năm 2000 đến năm 2008, trong khi khu vực nông thôn dân cư chỉ tăng
0,6%. Thanh niên chiếm đa số những người di cư và phần lớn chuyển đến các thành
phố lớn và các khu công nghiệp để tìm việc làm, tạo sức ép việc làm cho khu vực đô
thị. Cần nhấn mạnh rằng lao động nông thôn chiếm tới 3/4 lao động cả nước nhưng lại
tập trung chủ yếu trong ngành nông nghiệp, nơi tạo ra năng suất lao động thấp nhất và
cũng là nơi quỹ đất canh tác đang ngày càng bị thu hẹp và giảm dần do quá trình đô
thị hóa và công nghiệp hóa. Kết quả, nhiều lao động mất đất, hoặc thiếu đất dẫn đến
dư thừa lao động và thiếu việc làm. Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế mà
thấp và thất thường bởi tính thời vụ và rủi ro cao. Đây chính là lí do khiến tỷ lệ nghèo
tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.
3. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp.
Qua tìm hiểu một số tài liệu về đặc thù trong sản xuất nông nghiệp, ta thấy:
Nông thôn nước ta với hơn 90% dân số làm nông nghiệp. Việc làm bị chi phối
bởi đặc điểm đặc thù của sản xuất nông nghiệp đó là: Lệ thuộc vào tự nhiên, mang
tính khu vực rõ rệt, trải rộng trên không gian rộng lớn, ruộng đất là tư liệu sản xuất
không thể thay thế được, có tính thời vụ cao. Rõ nét nhất là tính thời vụ cao trong
nông nghiệp đã làm dư thừa lao động dẫn tới đại bộ phận lực lượng lao động thiếu
việc làm nghiêm trọng, biểu hiện:
13
- Ruộng đất bình quân đầu người thấp (0,1 ha/người) không tạo ra sự tích tụ tập
trung để đưa nông nghiệp nên sản xuất hàng hoá đại diện là kinh tế trang trại.
- Tính thời vụ cao biểu hiện ở cây, con nuôi theo quy luật phát triển sinh học. Để
tồn tại và phát triển phải có thời gian và do thời gian lao động với thời gian sản xuất
không khớp nhau sinh ra tính thời vụ:
+ Vào thời vụ sản xuất thì yếu tố lao động được huy động hết công suất để cho
kịp thời vụ: từ gieo trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Các thời điểm này coi như lao
động có việc làm đầy đủ.
+ Trong thời gian chờ cho cây, con nuôi sinh trưởng thì không cần lao động tác
động. Thời điểm này nông thôn dư thừa lao động nhiều nhất. Tính ra một năm thì
khoảng thời gian hoạt động làm việc 3-4 tháng, số thời gian còn lại là thiếu việc làm.
4. Trình độ phát triển kinh tế nông thôn.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu, sản xuất còn mang tính tự cấp tự
túc.
- Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông, điện cung cấp, nước sạch, thông tin liên
lạc quá thấp kém, nhất là các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa. Nhiều xã ở nông thôn
chưa có đường ôtô tới trung tâm xã, quan hệ kinh tế không phù hợp với thị trường.
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển đặc biệt là công nghiệp chế
biến lạc hậu đã hạn chế giá trị nông sản xuất khẩu.
4. GIẢI PHÁP CHO TÌNH TRẠNG THIẾU VIỆC LÀM.
a. Thu hút vốn đầu tư:
niên có trình độ trở về với nông thôn, nhất là lao động có chất xám cao để phát triển
sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học công nghệ góp phần tạo thêm công ăn việc
làm cho lao động nông thôn.
Để giúp TN lập thân lập nghiệp các Ban, Ngành liên quan nên triển khai nhiều
mô hình, nhiều hoạt động giúp TN chọn nghề, lựa chọn việc làm, tạo điều kiện hỗ trợ
TN vay vốn làm ăn, nâng cao thu nhập và làm giàu…làm tiền đề vững chắc, để
chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn một cách bền vững và toàn diện.
Tổ chức tốt và thực hiện tốt các chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến
ngư, khuyến công nghiệp, dịch vụ nông thôn nhằm không ngừng nâng cao trình độ
hiểu biết về sản xuất hàng hoá, về kinh doanh nông nghiệp
Triển khai nhiều mô hình, nhiều hoạt động giúp thanh niên chọn nghề, lựa chọn
việc làm; tạo điều kiện hỗ trợ thanh niên vay vốn làm ăn, nâng cao thu nhập và làm
15
giàu…làm tiền đề vững chắc, để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn một cách bền
vững và toàn diện.
Nhiều cơ sở khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư thường xuyên mở các lớp
tập huấn nghiệp vụ về khoa học - kỹ thuật giúp thanh niên nông thôn tiếp cận với
những tiến bộ mới của khoa học, công nghệ.
Các làng nghề không ngừng phát triển thị trường, mở rộng quy mô sản xuất để
tăng cơ hội tạo thêm việc làm mới cho thanh niên nông thôn. Cần tìm ra những mô
hình đào tạo nghề phù hợp với từng địa phương. Việc đào tạo nghề cũng nên tiến
hành ở địa phương để tránh tốn kém. Các cấp bộ Đoàn cần nắm rõ nguyện vọng của
thanh niên nông thôn, tư vấn kịp thời về lối sống nghề nghiệp và hỗ trợ các kỹ năng
tham gia lực lượng lao động, hỗ trợ doanh nhân trong nông thôn, khuyến khích đầu tư
của tư nhân vào khu vực này.
Việc tổ chức cho thanh niên nông thôn đi lao động ở nước ngoài cũng là một giải
pháp giúp họ có việc làm và thu nhập.
c. Sự can thiệp của Nhà nước
Hiện nay vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn với nguyên liệu hiện có
không thể giải quyết được. Vì vậy phải có sự tác động rất lớn của Nhà nước thông qua
-Hỗ trợ kiến thức kinh doanh, kinh nghiệm chế biến sản xuất và năng lực tiếp
cận thị trường, hỗ trợ đào tạo tay nghề gắn với tạo việc làm và thị trường tiêu thụ.
-Nhà nước tiếp tục đổi mới chính sách hỗ trợ tạo việc làm qua các chương trình
hằng năm, trong đó có chính sách hỗ trợ như thanh niên lập nghiệp, đào tạo doanh
nghiệp, vay vốn ưu đãi, nhất là chính sách hỗ trợ về bồi dưỡng, đào tạo lại nghề
nghiệp. Ví dụ như sự phối hợp giữa doanh nghiệp sử dụng lao động sau xuất khẩu lao
động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động trợ giúp người lao động đào tạo lại theo
đơn hàng việc làm hoặc tham gia học tập tạo nghề mới. Những hạng mục bồi dưỡng,
đào tạo phải thực sự thiết thực, đúng đối tượng, nhất là sử dụng trong các tập đoàn, tổ
chức sản xuất mà lao động thực hiện theo nhóm (đóng tàu, xây dựng, lắp ráp điện
tử ), như vậy mới phù hợp với chuyên môn, ngành nghề trong điều kiện cụ thể của
nước ta.
Định hướng chiến lược về sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu trong giai đoạn
đầu của lộ trình hội nhập quốc tế, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng lao động khu vực
nông thôn là yêu cầu cần thiết để xác lập bức tranh toàn cảnh về khâu đột phá nguồn
17
nhân lực có kỹ năng, nghề nghiệp, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của
công nghệ tiên tiến và nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động chất lượng, trong khu
vực nông thôn. Bảo đảm hệ thống việc làm phát triển bền vững theo hướng chuyển
dịch cơ cấu thích hợp, tạo động lực cho nền kinh tế nước ta phát triển mạnh và bền
vững
18
III. KẾT LUẬN:
Tạo công ăn việc làm cho thanh niên tại khu vực nông thôn là một trong những
vấn đề cần được ưu tiên giải quyết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Tình trạng thiếu việc làm hoặc không có việc làm đầy đủ sẽ tác động rất lớn
đến nền sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập quốc dân.
Trong nông nghiệp nông thôn, vấn đề việc làm đã được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm, đã đưa ra nhiều kiến nghị và giải pháp tạo việc làm để nông thôn thúc
đẩy kinh tế nông thôn phát triển. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề cần được bàn bởi bản