thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh thcs - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
 BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
VẤN ĐỀ BỎ HỌC CỦA HỌC SINH
TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Điển cứu tại Quận Thủ Đức – TP.Hồ Chí Minh)
GVHD: CN.NGUYỄN THỊ THU HIỀN NHÓM THỰC HIỆN:
Trần Hữu Linh – MSSV :0742101
Phạm Thị Thu – MSSV :0742086
Tô Thị Hà – MSSV :0742004 TP.Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 05 năm 2008
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Để một nền kinh tế phát triển bền vững thì nhân tố con người luôn đóng vai trò
quyết định. Vì vậy, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Cùng với xu hướng trên, Việt Nam luôn tạo mọi
điều kiện để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và
nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho người lao động, nhằm đáp ứng tốt hơn

về vấn đề bỏ học và giải pháp để khắc phục.
Ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ GD-ĐT có công văn số 2092/BGD&ĐT-VP gửi
đến lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố trên cả nước giải trình về tình trạng học sinh bỏ
học trong học kỳ I năm học 2007-2008.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển, Trần Xuân Nhĩ và một số cá nhân
quan tâm (Thạc sĩ Nguyễn Kim Nương - Đại học An Giang, ông Lê Văn Lâm –
Đường Nguyễn Văn Cừ - quận 1) cũng đã có những ý kiến đóng góp trong việc chỉ
ra nguyên nhân và kiến nghị một số biện pháp nhằm ngăn ngừa, khắc phục tình
trạng bỏ học của học sinh trung học.
Liên quan đến vấn đề bỏ học và lưu ban của học sinh, đã có một số nghiên cứu
nhỏ được tiến hành như :
1.Đề tài: “Khảo sát tình hình lưu ban, bỏ học của học sinh 2 trường vùng ven
Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Đặng Văn Minh, Viện Nghiên cứu giáo dục,
năm 1992. Nghiên cứu được tiến hành tại hai trường: Trường THCS Đặng Trần
3
Côn và Trường Cấp II, III Võ Văn Tần (năm học1990 – 1991). Tác giả đã đánh giá
thực trạng và chỉ ra những nguyên nhân bỏ học của học sinh tại hai trường này. Đề
tài đã đưa ra những nguyên nhân chủ quan, cũng như khách quan khiến học sinh bỏ
học, những nguyên nhân từ phía bản thân học sinh, gia đình, nhà trường và xã hội.
Từ việc phân tích nguyên nhân, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu ngăn
chặn tình trạng bỏ học, nó thật sự có ý nghĩa đối với ngành giáo dục tại thời điểm
đó.
2. Bài trích “Hiện tượng lưu ban, bỏ học :Thực trạng, nguyên nhân, vấn đề và
biện pháp / Thái Duy Tuyên // Nghiên cứu giáo dục - 1992 - Số 242 - Tr.4-6”. Tác
giả đã phản ánh thực trạng, nguyên nhân của hiện tượng lưu ban, bỏ học và đưa ra
những biện pháp cần thiết để ngăn chặn và khắc phục tình trạng trên. Qua đề tài, có
thể thấy được tình trạng bỏ học, lưu ban của học sinh ở từng vùng, từng miền là
khác nhau: về nguyên nhân, tỷ lệ, hệ quả từ đó tác giả đưa ra những biện pháp
ngăn chặn, khắc phục phù hợp với từng nơi.
3.Bài trích “Về nguyên nhân và biện pháp chống bỏ học / Phạm Thanh Bình //

chung và học sinh THCS nói riêng còn rất hạn chế.
3. Mục tiêu của đề tài
Hiện nay, tình trạng bỏ học của các em học sinh đang ngày càng gia tăng và trở
thành điểm “nóng” được cả xã hội quan tâm. Có khá nhiều hội thảo, cuộc họp báo
được tổ chức nhằm tìm ra nguyên nhân, giải pháp của thực trạng trên. Dưới góc độ
một cuộc nghiên cứu nhỏ của Sinh viên ngành Công tác xã hội, nhóm chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài “Thực trạng và giải pháp vấn đề bỏ học của học sinh THCS”
5
nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề bỏ học, từ đó đưa ra những suy nghĩ mang tính
giải pháp để hạn chế và ngăn chặn vấn đề này.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu như đã nêu trên, nhóm chúng tôi tiến hành nghiên cứu
nhằm trả lời cho những câu hỏi cụ thể sau:
+ Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện
nay?
+ Thực trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở hiện nay như thế nào?
+ Với hiện trạng bỏ học như hiện nay thì sẽ mang lại hậu quả gì cho chính bản thân
học sinh, cho gia đình và cho toàn xã hội?
+ Những biện pháp nào có thể ngăn ngừa, khắc phục tình trạng bỏ học?
5. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
o Đối tượng nghiên cứu: vấn đề bỏ học của học sinh trung học cơ sở
hiện nay.
o Khách thể nghiên cứu: Học sinh trung học cơ sở (điển cứu tại quận
Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh).
o Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu tại 3 trường
THCS ở quận Thủ Đức, đó là: Trường THCS Linh Trung, Trường
THCS Trương Văn Ngư và Trường THCS Tân Phú.
6
6. Ý nghĩa thực tiễn
Chúng tôi - những sinh viên ngành CTXH trong tương lai sẽ trở thành những

+ Thầy Nguyễn Văn Quí - Hiệu trưởng Trường THCS Tân Phú.
9. Phương pháp xử lý thông tin
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phân tích các thông tin định lượng
dựa vào các nguồn tư liệu sẵn có, chủ yếu là các bảng thống kê về nguyên nhân và
tình hình bỏ học của học sinh.
Đối với các thông tin định tính được thu thập trong quá trình phân tích tư liệu sẵn
có và thực hiện nghiên cứu thực địa thông qua phỏng vấn sâu, được chúng tôi ghi
chép, phân ra theo những nhóm chủ đề đã được xác định từ trước và sử dụng trong
suốt quá trình viết báo cáo. 8
NỘI DUNG
I. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1. Tình trạng bỏ học của học sinh THCS trên cả nước
Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, để hội nhập vào nền kinh
tế chung của thế giới thì vấn đề “đào tạo con người” là một trong những yếu tố then
chốt, luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành quả đạt được của ngành giáo dục thì vẫn còn đó không ít vấn đề nan giải đang
tìm hướng giải quyết. Một trong số đó là vấn đề bỏ học của học sinh hiện nay.
Theo số liệu thống kê đến hết học kỳ I năm học 2007 – 2008, cả nước có
114.000 học sinh bỏ học ở cấp trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông
(THPT). Trong những năm gần đây, được sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt của Đảng,
Nhà nước và các cấp ban ngành, tỉ lệ học sinh bỏ học có giảm về tỷ lệ nhưng về số

gia). Qua đó, một lần nữa có thể khẳng định những con số thống kê trong các báo
cáo về tình trạng bỏ học mặc dù đã rất cao nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với
thực tế. Vậy sẽ có những giải pháp gì nhằm hạn chế và ngăn chặn tình trạng trên, để
không đưa đến những hậu quả đáng tiếc sau này cho bản thân các em, gia đình và xã
hội.
Nhóm chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn đưa ra được cái nhìn khái
quát về tình trạng bỏ học của học sinh trong cả nước cũng như tại Thành phố Hồ Chí
Minh mà cụ thể là tại quận Thủ Đức.
10
2. Tình trạng bỏ học của học sinh tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước. Để đáp ứng nhu
cầu phát triển toàn diện của Thành phố, Giáo dục đóng một vai trò hết sức quan
trọng trong việc đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực có kiến thức, có tay nghề và
trình độ kĩ thuật cao. Trọng trách đó không đơn thuần chỉ từ phía giáo dục Đại học –
Cao đẳng, mà nó là của cả ngành Giáo dục, trong đó không kém phần quan trọng là
Giáo dục Trung học cơ sở.
Hiện nay, toàn Thành phố có 234 trường THCS và 124 trường THPT được rải
đều khắp 24 quận huyện, với 327.652 học sinh THCS và 176.662 học sinh THPT.
Mặc dù Tp.Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế phát triển, trình độ phổ cập luôn
đạt ở mức cao nhưng trên thực tế vẫn có tình trạng học sinh yếu kém và học sinh bỏ
học. Chất lượng đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của học sinh những năm gần
đây cho thấy: số lượng học sinh khá giỏi hàng năm ổn định từ 46 – 47%, yếu từ 9,4
– 10,3% và kém 0,25 – 0,75%. Số học sinh lưu ban và bỏ học hàng năm khoảng 1,5
– 2,0%. Việc giúp đỡ học sinh yếu kém, hạn chế số học sinh bỏ học từ lâu đã là một
chỉ tiêu quan trọng của việc thực hiện nhiệm vụ năm học, nhất là khi hoàn thành phổ
cập giáo dục tiểu học năm 2002 và tiến hành phổ cập bậc trung học theo Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII.
Thực tế, tình hình học sinh bỏ học tại Tp. Hồ Chí Minh tuy vẫn thấp hơn so với
các khu vực khác trong cả nước nhưng nó cũng là một con số khiến cho Sở GD-ĐT
Thành phố quan tâm và luôn tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất.

12
Thứ nhất, do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bố mẹ không đủ điều kiện
cho con đến trường buộc các em phải bỏ học. Một phần vì bố mẹ phải lo kiếm kế
sinh nhai, không có thời gian quan tâm chăm sóc, nhắc nhở các em học hành dẫn
đến tình trạng lười học, không muốn đến lớp. Có trường hợp gia đình khó khăn, các
em phải bỏ học để ở nhà phụ việc hoặc lao động sớm để phụ bố mẹ trang trải. Tuy
nhiên, đây không hẳn là nguyên nhân tuyệt đối vì có những gia đình khó khăn
nhưng con em vẫn đến trường và còn học rất giỏi, nó còn phụ thuộc vào thái độ của
bố mẹ và cá tính của các em. Điều này giải thích tại sao có những gia đình có điều
kiện cho con đi học thậm chí là giàu có nhưng con em của họ vẫn không chịu đến
lớp mà chỉ thích đi chơi. Nguyên nhân này cũng đã được cô Lê Thị Ngọc Sương
giáo viên trường THCS Trương Văn Ngư nhận định: “Nhiều gia đình khá giả quan
tâm đến việc học của con cái nhưng học sinh vẫn nghỉ học, như vậy vấn đề gia đình
gặp khó khăn buộc con cái phải nghỉ học theo tôi là không hẳn”.
Thứ hai, do gia đình chuyển nơi ở, đi làm ăn xa nên việc học của các em không
được đảm bảo. Đây là một nguyên nhân diễn ra chủ yếu ở các tỉnh lẻ hoặc ở vùng
nông thôn vì điều kiện kinh tế ở đây khó khăn nên bố mẹ phải chuyển nơi làm ăn.
Trong khi đó con cái đang còn nhỏ, buộc bố mẹ phải cho con đi theo và điều đó làm
ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề học tập của học sinh. Nhiều hộ gia đình sau khi
chuyển đi cũng tìm cách cho con đi học ở một trường khác nhưng các em vẫn bỏ
học vì nhiều lý do: không làm quen được với môi trường mới, không theo kịp bạn bè
do việc học bị phân tán trong quá trình gia đình chuyển nơi ở…. Nhưng cũng có
nhiều gia đình do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và nhiều nguyên nhân khác nên buộc
long cho con thôi học: không có hộ khẩu, các em không có giấy tờ tuỳ thân (giấy
khai sinh), mất học bạ
Thứ ba, do chính quyền nhiều nơi chưa thật sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục
và chưa có giải pháp phối hợp nhằm ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học, không có
các chính sách khuyến khích học sinh đến trường (như hỗ trợ các gia đình khó
13
khăn). Hoặc có nơi thờ ơ, xem nhẹ vấn đề này. Như chúng tôi đã nói ở trên về vấn

khiến các em bị áp lực, không học nổi và không thi được. Vì vậy, từ tâm trạng chán
nản, tự ty và xấu hổ với bạn bè, các em ngại đến lớp và vì thế lại càng không theo
kịp chương trình, dẫn đến tình trạng bỏ học.
Thứ bảy, do bản thân các em không có ý chí vươn lên trong học tập, ngại khó,
ham chơi… Học sinh không muốn học vì nhiều lý do, lại không được sự quan tâm
của gia đình nên các em thường bỏ học để đi chơi hoặc chơi game. Bên cạnh đó sự
dụ dỗ lôi kéo của bạn bè đã khiến các em không còn quan tâm đến việc học, chỉ biết
chơi suốt ngày và lâu dần trở thành thói quen. Mặt khác, tâm lý của các em đang ở
lứa tuổi 12 đến 16, đây là lứa tuổi dễ dao động nhất, nếu như có biện pháp uốn nắn
tốt thì các em sẽ đi theo hướng tích cực và ngược lại các em sẽ trở nên hư hỏng.
Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với cô Nguyễn Thị Quý - Hiệu trưởng Trường THCS
Linh Trung . Cô đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này: “Các em học sinh bỏ
học phần nhiều là do bản thân của các em, gia đình nhiều khi khuyên bảo các em
cũng không được, các em thích được đi chơi hoặc thích đi làm vì vậy nhiều gia đình
cũng để mặc con cái, không quan tâm đến nữa. Nhiều khi nhà trường xuống động
viên cho em tiếp tục đi học hoặc khu dân phố xuống để nói chuyện với gia đình
nhưng các em đã quyết là không đi học nữa vì vậy nhà trường cũng chỉ xuống vài
lần nếu không thuyết phục được thì đành chịu”.
Thứ tám, đó là một số học sinh trong độ tuổi lao động vừa học vừa làm. Khi các
em đã tiếp xúc với đồng tiền thì vấn đề học tập của các em rất khó khăn.
15
Nhìn chung có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ học của học sinh
trung học cơ sở và ở mỗi vùng miền cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, khái quát lại
thì có tám nguyên nhân như đã nói ở trên và từ việc phân tích những nguyên nhân
này chúng ta sẽ tìm ra hướng giải quyết hữu hiệu nhất.
III. Hậu quả của tình trạng bỏ học
Đồng hành cùng gia đình, nhà trường là cái nôi nuôi dưỡng nhân tài, góp phần
hình thành và ổn định nhân cách cho các em học sinh. Đối với các em, nhà trường
đóng một vai trò hết sức quan trọng, đây là nơi cung cấp kiến thức khoa học nền
tảng, là nơi tạo mọi điều kiện để các em có thể phát triển một cách toàn diện cả về

tốt nhất, triệt để nhất nhằm ngăn chặn và hạn chế tình trạng bỏ học, tạo điều kiện
cho các em đến trường và học tập với kết quả cao. Phấn đấu đến năm 2010 sẽ hoàn
thành phổ cập THPT.
IV. Kết quả nghiên cứu về vấn đề học sinh bỏ học tại các Trường
THCS Linh Trung, Trương Văn Ngư, Tân Phú
Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng đầu trong cả nước về chất lượng
giáo dục. Thành phố phấn đấu đến năm 2008 sẽ hoàn thành xong phổ cập bậc trung
học. Tuy nhiên Đảng bộ Thành phố và Sở giáo dục – đào tạo đang nhức nhối về tình
trạng bỏ học của học sinh trung học cơ sở. Theo ông Mai Phú Thanh – Chuyên viên
phòng giáo dục trung học (Sở GD-ĐT TP.HCM) đã nêu lên vai trò của giáo dục đối
với sự phát triển của Thành phố “TP.HCM muốn phát triển đòi hỏi nguồn nhân lực
phải có trí thức, có tay nghề cao và có mối quan hệ xã hội” (Tại buổi Hội thảo về
“Nguyên nhân và giải pháp ngăn chặn học sinh bỏ học”, ngày 25 tháng 4 năm 2008
tại Trường Đại học Bán Công Tôn Đức Thắng ).
17
Do thời gian hạn chế, không đủ để cho chúng tôi tìm hiểu những trường ở xa có
tình trạng học sinh bỏ học nhiều. Vì vậy, chúng tôi đã có cuộc khảo sát thực tế tại
các Trường THCS Linh Trung, Trương Văn Ngư và Tân Phú (Quận Thủ Đức -
TPHCM). Qua tiếp xúc và nói chuyện với Hiệu trưởng của các trường, chúng tôi đã
hiểu sâu hơn về vấn đề bỏ học của học sinh từng trường. Kết quả nghiên cứu như
sau:
Mặc dù đạt danh hiệu là Trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 – 2010, Trường
THCS Linh Trung vẫn có tình trạng học sinh bỏ học với số lượng là 6 em trên tổng
số 1.485 em (chiếm 0,4 % ) (Kết quả thống kê học kỳ I, năm học 2007 – 2008). Từ
năm 2005 trở lại đây, tỉ lệ học sinh bỏ học của trường chiếm khoảng 2%, tuy nhiên
đến nay trường vẫn chưa tìm ra được biện pháp hiệu quả để hạn chế tình trạng học
sinh bỏ học. Từ thực tế này khiến chúng tôi không khỏi suy nghĩ, đối với một trường
đạt chuẩn quốc gia mà tình trạng bỏ học vẫn diễn ra như vậy, liệu các trường THCS
ở vùng nông thôn, vùng cao miền núi thì tình trạng học sinh bỏ học sẽ như thế nào
khi điều kiện học tập tại những nơi đó vô cùng khó khăn?

Trường thứ ba chúng tôi tìm đến là trường THCS Tân Phú. Tại đây chúng tôi đã
gặp được thầy Nguyễn Văn Quí - Hiệu trưởng của trường, Thầy đã trao đổi với
chúng tôi về tình trạng học sinh bỏ học của trường. Trong học kỳ I (năm học 2007 –
2008) trường có 5 em học sinh bỏ học và 5 em chuyển trường. Các năm học trước tỉ
lệ học sinh bỏ học của trường dưới 1%. Theo lời thầy thì nguyên nhân khiến học
sinh ở đây bỏ học là do các em ham chơi game, “nhiều khi các em chơi game và nợ
nần phải để gia đình đến trả nợ”. Nhà trường cũng đã có nhiều biện pháp để ngăn
chặn tình trạng bỏ học của học sinh như nhà trường kết hợp với phường đến vận
động từng gia đình học sinh, nếu do hoàn cảnh khó khăn trường sẽ giảm tiền học
19
phí, tiền sinh hoạt, tiền phụ huynh, giảm những khoản tự thu của nhà trường. Kết
hợp giữa nhà trường, gia đình và giám thị quản lý các em về giờ giấc học tập và sinh
hoạt. Nhà trường thường xuyên liên lạc với phụ huynh học sinh để trao đổi ý kiến
với phụ huynh. Với những biện pháp như vậy nên nhà trưưòng cũng đã giảm số
lượng học sinh bỏ học đến mức thấp nhất. Nhà trường cũng đã có nhiều hình thức
khuyến khích học sinh như có các phần thưởng cho những em học sinh ngoan học
giỏi và ở mỗi lớp đều có các phong trào thi đua để gây hứng thú học tập cho các
em…. Theo ý kiến của thầy, nếu các em bỏ học thì sẽ có hậu quả to lớn đối với xã
hội là làm cho tệ nạn xã hội ngày càng tăng, các em sẽ tham gia vào những vụ cướp
giật và vi phạm pháp luật… Ngoài ra thầy còn cho chúng tôi biết thêm thông tin nếu
như trường có tỉ lệ bỏ học trên 1% thì nhà trường sẽ không được đạt chuẩn, điều này
đã khiến chúng tôi phải suy nghĩ, liệu rằng nhà trường vẫn đang chạy theo thành
tích? Đó là câu hỏi luôn đặt ra cho chúng tôi trong chuyến đi khảo sát này.
Mặc dù trong một thời gian ngắn, chúng tôi không thể đi thực tế ở nhiều trường
nhưng hi vọng rằng với số liệu này cũng đủ cho mọi người thấy được vấn đề “cấp
thiết” về tình trạng bỏ học của học sinh THCS hiện nay. Qua lần đi thực tế này đã để
lại cho chúng tôi nhiều bài học kinh nghiệm trong quá trình làm đề tài.

V. Suy nghĩ về giải pháp đối với vấn đề bỏ học của học sinh THCS
Xuất phát từ nguyên nhân, thực trạng và những hậu quả của tình trạng bỏ học ở

21
Thứ ba, để hạn chế học sinh bỏ học, cần có những giải pháp từ các cấp - ban
ngành, trong đó ngành giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng. Giải pháp căn bản
để chống bỏ học đối với học sinh phổ thông là phân luồng học sinh sau trung học cơ
sở. Khuyến khích một bộ phận học sinh gồm những em không đủ điều kiện học hết
THPT sẽ sang học nghề để sau 3 - 4 năm các em vừa có bằng tốt nghiệp tương
đương với bằng tốt nghiệp THPT vừa có tay nghề bậc 3/7.
Thứ tư, mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp phải lên danh sách những học sinh có nguy
cơ bỏ học (có hoàn cảnh gia đình khó khăn, học kém) phân nhóm để có biện pháp
phù hợp giúp đỡ các em. Đối với những học sinh có nguy cơ bỏ học, giáo viên phải
siêng tới thăm gia đình các em, trò chuyện với các bậc phụ huynh để hiểu được
những suy nghĩ của học sinh, để kịp thời có biện pháp giải quyết. Đối với những học
sinh học kém, học sinh ở lại lớp giáo viên cần tìm hiểu nguyên nhân. Nếu do hổng
kiến thức của lớp dưới thì tổ chức bồi dưỡng, phụ đạo để các em theo kịp bạn bè.
Với những học sinh có điều kiện kinh tế khó khăn đề xuất các chính sách hỗ trợ như
miễn giảm học phí, tạo điều kiện để các em tiếp tục việc học.
Thứ năm, với những học sinh ở vùng sâu vùng xa, bỏ học do điều kiện đi lại khó
khăn, trường quá xa nơi cư trú thì tổ chức các trường lớp bán trú, nội trú để tiện cho
các em và gia đình. Đồng thời đây cũng thường là những địa phương có kinh tế khó
khăn nên cần vận động các cá nhân, tổ chức tài trợ học bổng, giúp các em có bảo
hiểm y tế, có đầy đủ quần áo, sách vở để đi học.
Thứ sáu, cần có chế tài với những trường hợp buộc học sinh bỏ học. Nhiều gia
đình không thực sự khó khăn nhưng bắt buộc con em mình nghỉ học để lao động.
Nhà trường nên phối hợp với chính quyền địa phương kiên trì tuyên truyền, lay
chuyển nhận thức của phụ huynh học sinh - học chính là con đường thoát khỏi đói
nghèo một cách vững chắc nhất. Ở nước ngoài nếu cha mẹ không tạo điều kiện cho
22
con đến trường sẽ bị pháp luật chế tài. Đối với nước ta việc này chưa được thực hiện
nghiêm túc nên tình trạng học sinh bỏ học vẫn ở mức báo động.
2. Giải pháp dài hạn

sự phối hợp tốt giữa các ban ngành đoàn thể trong việc vận động đưa trẻ đến trường,
kiểm tra khảo sát thường xuyên tình hình học tập thực tế của học sinh trên địa bàn
dân cư. Tăng cường công tác tuyên truyền và đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục. Đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức trách nhiệm của từng người
dân và của cộng đồng dân cư trong quá trình triển khai thực hiện công tác phổ cập
giáo dục, góp phần hạn chế tình trạng bỏ học của học sinh.
Có chính sách hỗ trợ đặc biệt, đủ mạnh cho các địa phương khó khăn. Các địa
phương cần ưu tiên dành kinh phí của mình và các nguồn tài chính vận động được
của quỹ khuyến học, các công ty đóng trên địa bàn để cấp học bổng, xe đạp cho các
học sinh thuộc diện xoá đói giảm nghèo hoặc các học sinh có điều kiện khó khăn
tiếp tục có điều kiện học tập ở các trường THCS và THPT.
Đối với những nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp kém. Cần đầu tư
xây dựng nhiều trường lớp với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho quá trình dạy và
học, tạo điều kiện để cho con em dân tộc thiểu số có cơ hội được đến trường, được
tiếp thu kiến thức như những em học sinh ở đồng bằng.
24
Một số giải pháp khác:
Từ những nguyên nhân đã phân tích cho thấy, học sinh bỏ học không hoàn toàn
là lỗi ở các em mà ngoài ra còn ở người lớn và chúng tôi cũng nêu thêm một số đề
xuất:
- Kết hợp các tổ chức chính quyền ở địa phương, tuyên truyền, vận động nâng cao
nhận thức cho các bậc làm cha, làm mẹ về tầm quan trọng của việc học và tạo điều
kiện cho các em học tập thật tốt, về việc giáo dục con cái, nhất là cần hiểu tâm lí của
con cái. Biện pháp này chỉ có hiệu quả khi người cán bộ quản lý giáo dục cũng như
người cán bộ xã phường có đầy đủ trách nhiệm và bản lĩnh trước nhiệm vụ bức thiết
này.
- Kết hợp với gia đình để tìm ra những nguyên nhân của từng tình hình cụ thể để
có thể giáo dục và ngăn chặn kịp thời tình trạng học sinh bỏ học. Biện pháp này chỉ
có kết quả khi giáo viên chủ nhiệm có nhiều thời gian trên lớp và biết áp dụng nhiều
biện pháp, hình thức giáo dục và phối hợp với gia đình, nhà trường trong những tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status