tài liệu kinh tế chính trị- triết học mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung và vận dụng cho sự phát triển kttt ở nước ta - Pdf 25

Lời nói đầu
Bớc lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai cuộc
chiến tranh giữ nớc khốc liệt, nền kinh tế nớc ta vốn đã lạc hậu lại càng thêm
kiệt quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì trệ
đó, nớc ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, khiến
cho đất nớc lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong khi đó,
nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trờng mà CNTB đã đạt đợc những thành tựu về
kinh tế- xã hội, phát triển lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Cũng
nhờ kinh tế thị trờng, quản lý xã hội đạt đợc những thành quả về văn minh hành
chính, văn minh công cộng; con ngời nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo,
sự thách thức đua tranh phát triển. Trớc tình hình đó, trong Đại hội Đảng VI,
Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển sang xây dựng
kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN, kích thích sản xuất, phát triển kinh tế
nhằm mục tiêu dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng văn minh.
Mới chập chững bớc vào nền kinh tế thị trờng đầy gian khó, phức tạp, nền kinh
tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ sở cân
nhắc, chọn lựa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam. Trong quá
trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học cái chung và
cái riêng có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về kinh tế thị tr-
ờng.
Để góp thêm một tiếng nói ủng hộ đờng lối phát triển kinh tế mà Đảng và
nhà nớc ta đang xây dựng, tôi chọn vấn đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và cái
chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trờng ở nớc ta" làm
công trình nghiên cứu của mình.
Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ của mình
trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi ngời vào công cuộc đổi mới của nhà
nớc ta, và giúp mọi ngời quen thuộc hơn với một nền kinh tế mới đợc áp dụng ở
Việt Nam- nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN trong điều kiện thế giới hiện
nay.
1
Chơng 1

tế thị trờng bắt buộc phải tuân theo.
2
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung đợc quan niệm
khác nhau. Phái duy thực đồng nhất thợng đế với cái chung và cho rằng chỉ có
cái chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng.
Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh nh P. Abơla (1079-
1142), Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tợng tồn tại riêng
biệt với những chất lợng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm cái chung
chỉ là sản phẩm của t duy của con ngời. Thấy đợc và khắc phục hạn chế của hai
quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung và cái riêng có
mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại một cách khách
quan.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện
sự tồn tại. Không có cái chung tồn tại độc lập bên ngoài cái riêng. Ví dụ qui luật
bóc lột giá trị thặng d của nhà t bản là một cái chung, không thế thì không phải
là nhà t bản, nhng qui luật đó đợc thể hiện ra ngoài dới những biểu hiện của các
nhà t bản (cái riêng).
Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung. Nghĩa là không có
cái Riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập ,Thí dụ:Mỗi con ngời là một cái riêng nh-
ng mỗi con ngời không thể tồn tại ngoàI mối liên hệ với tự nhiên và xã hội. Nền
kinh tế nào cũng bị chi phối bởi quy luật cung-cầu,quy luật QHSX phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX,dó là cái chung .Nh vậy sự vật hiện tợng nào
cũng bao hàm cái chung
Cái chung là bộ phận,nhng sâu sắc hơn cái riêng, còn cái riêng là toàn bộ
nhng phong phú hơn cái chung. Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài đặc
điểm chung ,cái riêng còn có cái đơn nhất. Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì
cái riêng phản ánh những thuộc tính ,những mối liên hệ ổn định,tất nhiên, lặp lại
ở nhiều cái riêng cùng loại .Do vậy cái chung là cái gắn liền với bản chất,quy
định phơng hớng tồn tại và phát triển của cái chung.

đối. Có những đặc điểm xét ở trong nhóm sự vật này là cái đơn nhất, nhng nếu
xét ở trong nhóm sự vật khác lại là cái chung. Ví dụ nh cây cối là một đặc điểm
chung khi xét tập hợp các cây nh bạch đàn, phợng vĩ, bàng nhng nếu xét trong
phạm vi thực vật thì cây cối chỉ là một đặc điểm đơn nhất chỉ các loại cây, mà
ngoài ra thực vật còn có cỏ, bụi rậm, nấm Xét một ví dụ khác, qui luật cung-
cầu là cái chung trong nền kinh tế thị trờng, nhng trong toàn bộ các hình thức
kinh tế trong lịch sử thì nó lại chỉ là cái đơn nhất, đặc trng cho kinh tế thị trờng
mà không thể là đặc điểm chung cho mọi hình thức khác nh kinh tế tự cung tự
cấp chẳng hạn.
Trong một số trờng hợp ta đồng nhất cái riêng với cái chung, khẳng định
cái riêng là cái chung. Ví dụ nh những câu sau: hoa hồng là hoa, kinh tế thị
trờng theo định hớng XHCN là kinh tế thị trờng Những trờng hợp đó thể hiện
mâu thuẫn giữa cái riêng và cái chung. Quan hệ bao trùm của cái riêng đối với
cái chung đã trở thành quan hệ ngang bằng. Tuy nhiên những định nghĩa nh trên
chỉ nhằm mục đích tách sự vật ra khỏi những phạm vi không thuộc sự vật ấy, chứ
không dùng để chỉ toàn bộ những đặc tính của sự vật.
Trong quá trình phát triển của sự vật hiện tợng,trong những điều kiện nhất
định cái đơn nhất có thể biến thành cái chung và ngợc lại cái chung có thể
biến thành cái đơn nhất ,nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo
điều kiện thuận lợi để cái đơn nhất có lợi cho con ngời trở thànhcái chung và
cái chung bất lợi trở thành cái đơn nhất.
Trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung, ta đã đa ra một
số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trờng của Việt nam một cách thích
hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trởng của các nớc phát triển trên thế giới, tăng
cờng cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
4
Chơng 2:
Cái chung và cái riêng nhìn dới vấn đề
Kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới
Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nớc ta đang hoà

hàng hoá. ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trờng.
"Khi thị trờng, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì quy mô sản xuất cũng
tăng lên, sự phân công sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn" (1). Theo David Begg,
thị trờng "là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó các quyết định
của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các công ty
về sản xuất cái gì, sản xuất nh thế nào và cái quyết định của ngời công nhân về
việc làm bao lâu, cho ai đều đợc dung hòa bằng sự điều chỉnh giá cả". Ta cũng có
thể định nghĩa thị trờng là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp
cầu.
Kinh tế thị trờng là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng
suất, chất lợng và hiệu quả cao; d thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ đợc mở
rộng và coi nh hàng hoá thị trờng; năng động, luôn luôn đổi
mới mặt hàng, công nghệ và thị trờng. Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ
chế thị trờng, với những đặc trng cơ bản nh: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng
thị trờng, tự do kinh doanh, tự do thơng mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu,
phân phối do quan hệ cung- cầu
3.1.2. Chuyển sang kinh tế thị trờng là một tất yếu khách quan
Xét về hoàn cảnh lịch sử, xuất phát điểm của nền kinh tế nớc ta là kinh tế
phong kiến. Ngoài ra nớc ta vừa mới trải qua hai cuộc chiến tranh giữ nớc khốc
liệt, mà ở đó, cơ sở vật chất vốn đã ít ỏi còn bị tàn phá nặng nề.
Sau chiến tranh, ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hoá tập
trung dựa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX. Trong thời gian đầu sau
chiến tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ của các nớc trong hệ
thống XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy đợc tính u việt của nó. Từ
một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nớc đã tập
trung vào tay mình một lợng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để
ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế kế hoạch hoá trong thời kỳ này tỏ ra
phù hợp, đã huy động ở mức cao nhất sức ngời sức của cho tiền tuyến.
Sau ngày giải phóng miền Nam, trên bức tranh về nền kinh tế nớc ta tồn
tại một lúc cả ba gam màu: kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tập trung

cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế hạch toán kinh doanh XHCN. Đến đại hội VII
Đảng ta xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế ở nớc ta là một tất yếu khách quan
và trên thực tế đang diễn ra việc đó, tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý
luận cũng nh trong thực tế.
Ta đã chính thức chấp nhận kinh tế thị trờng một cách cơ bản, cùng những
u điểm của nó một cách tổng thể, lâu dài mà không còn đơn thuần phủ nhận nh
trớc nữa (rằng kinh tế thị trờng chỉ là đặc trng riêng có của CNTB; nớc ta không
đi theo CNTB thị cũng không thể áp dụng kinh tế thị trờng trong phát triển kinh
tế). Đảng ta còn chỉ rõ rằng nền kinh tế thị trờng có sự phù hợp với thực tế nớc
ta, phù hợp với các qui luật kinh tế và với xu thế của thời đại:
Nếu không thay đổi cơ chế kinh tế, vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể
nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ cha muốn nói đến tích luỹ vốn để
mở rộng sản xuất. Thực tế những năm cuối của thập kỷ tám mơi đã chỉ rõ
thực hiện cơ chế kinh tế cũ cho dù chúng ta đã liên tục chúng ta đã liên tục
7
đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhng hiệu quả của nền sản xuất
xã hội đạt mức rất thấp. Sản xuất không đáp ứng nổi nhu cầu tiêu dùng
của xã hội, tích luỹ hầu nh không có, đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay
của nớc ngoài.
Do đặc trng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc nên nó chỉ có tác
dụng thúc đẩy tăng trởng kinh tế trong giai đoạn ngắn và chỉ có tác dụng
phát triển kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nớc ta tồn tại quá
dài nên nó không những không còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy
sản xuất phát triển mà nó còn sinh ra nhiều hiện tợng tiêu cực làm giảm
năng suất, chất lợng và hiệu quả sản xuất.
Xét về sự tồn tại thực tế ở nớc ta những nhân tố của kinh tế thị trờng. Về
vấn đề này có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều ý kiến cho rằng thị
trờng ở nớc ta là thị trờng sơ khai. Nhng thực tế kinh tế thị trờng đã hình

hơn và "biết làm kinh tế hơn". ở nớc ta hiện nay cũng hình thành và tồn tại cả
những khuyết tật của kinh tế thị trờng: tâm lý quá coi trọng đồng tiền, chạy theo
lợi nhuận, sự phân cực giàu nghèo quá mức, kinh tế phát triển mất cân đối.
Kinh tế thị trờng nớc ta cũng có sự quản lý của nhà nớc để khống chế, giảm bớt
những khuyết tật đó cùng những tác hại của nó. Nhng tuy nhiên, những khuyết
tật đó vẫn còn tồn tại âm ỉ trong xã hội và trong suy nghĩ của một số ngời.
Nền kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay cũng tuân theo xu hớng chung phát triển
kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của mỗi nớc không thể tách rời sự phát
triển và hoà nhập quốc tế, tiến tới hoà nhập thành một thị trờng chung trên toàn
thế giới. Tơng quan giá cả của các loại hàng hoá trong nớc cũng ngày càng gần
gũi hơn với tơng quan giá cả hàng hoá quốc tế.
3.2.2. Những nét đặc thù của nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN ở Việt nam:
Nếu trong CNTB hiện đại, kinh tế thị trờng đặt dới sự quản lý của nhà nớc
t sản độc quyền vì lợi ích của giai cấp t sản, thì trong nền kinh tế thị trờng nằm
dới sự quản lý của nhà nớc XHCN nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, góp phần
thực hiện mục tiêu giải phóng con ngời, và vì con ngời. Để thực hiện mục tiêu
đó, phải tìm kiếm nhiều giải pháp, không giản đơn chỉ xem xét quan hệ sở hữu
mà là giải quyết đồng bộ từ vấn đề sở hữu, quản lý, phân phối; tìm động lực cho
sự phát triển trên cơ sở xây dựng vật chất- kỹ thuật cho xã hội mới, là quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, biến nớc ta từ một nớc nông nghiệp lạc hậu thành
một nớc có nền kinh tế phát triển. Đờng lối phát triển đó đã đợc Đảng ta chỉ rõ:
Xây dựng kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN;
luôn giữ vững định hớng XHCN trong quả trình đổi mới, kết hợp với sự kiên
định về mục tiêu, nguyên tắc và linh hoạt trong giải pháp.
Chúng ta không coi kinh tế thị trờng là mục tiêu mà chỉ là một công cụ,
giải pháp, phơng tiện để phát triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ
lợi ích của đa số nhân dân lao động, nhằm mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, văn minh. Cùng với việc sử dụng động lực của kinh tế thị trờng, ngay
từ đầu, Đảng ta chủ trơng phát triển lực lợng sản xuất phải đi đôi với xây dựng

thấp 400 USD/ ngời, trình độ quản lý kinh tế còn non yếu, khả năng cạnh tranh
kém. Do vậy mà ta cần có thời gian làm quen, học hỏi kinh nghiệm của nớc
ngoài trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quản lý và phát triển kinh tế.
Không chỉ có xuất phát điểm thấp mà còn phải trải qua hai cuộc chiến tranh
khốc liệt, kéo dài. Do hai cuộc chiến tranh đó mà cơ sở hạ tầng vốn đã thấp lại
còn bị tàn phá nặng nề. Ta không đủ khả năng về vốn, kỹ thuật để có thể bớc
ngay vào xây dựng một nền kinh tế thị trờng thực sự hiện đại, với các công nghệ
có hàm lợng kỹ thuật cao nh nhiều nớc t bản vốn đã có tới ba thế kỷ tích luỹ.
Thị trờng nớc ta vẫn còn nhỏ hẹp, sơ khai, còn những rối loạn và nhiều yếu tố
tự phát. Ngoài ra thị trờng ở nớc ta vẫn cha đầy đủ, nhiều hình thức thị trờng còn
thiếu hoặc mới chỉ ở dạng manh nha nh thị trờng tiền tệ, thị trờng vốn, thị trờng
sức lao động , nên cha thể thực sự hoà nhập với thị trờng thế giới.
Nớc ta có truyền thống văn hoá lâu đời, nhân dân ta vốn có sự khéo léo cao
nên có thể phát triển nhiều thành phần kinh tế cần có độ tinh xảo, khéo léo cao
nh trạm khắc, đan đặc biệt là những thành phần kinh tế truyền thống, ở các
làng nghề truyền thống nh tranh Đông Hồ, sơn mài khảm trai Tuy nhiên, trong
lịch sử nớc ta có thể nói chỉ là lịch sử của những cuộc chiến tranh chống xâm lợc
mà không có trang nào về việc phát triển kinh tế, trong vốn từ truyền thông dờng
nh rất xa lạ với thuật ngữ "làm kinh tế". Ngoài ra, ta mới đổi mới nền kinh tế nên
vẫn còn những ngời thuộc "thế hệ cũ"- thế hệ của cơ chế bao cấp. Họ "dị ứng"
với kinh tế thị trờng, coi kinh tế thị trờng là một thứ gì đó rất xấu xa mà mình
không thể chấp nhận, và làm theo đợc; và họ cũng không đủ năng động để thích
ứng với tốc độ phát triển của kinh tế thị trờng.
10
Quan tâm đến các vấn đề chính sách xã hội, bù đắp những tổn thất cho những
ngời, gia đình có công với cách mạng, thành lập những làng tình thơng giúp đỡ
nhiều ngời không nơi nơng tựa , kiểm soát, giảm thiểu những mặt tiêu cực so
kinh tế thị trờng gây ra; đó là những biện pháp giảm khuyết tật xã hội của kinh tế
thị trờng mà nhà nớc ta đã thực hiện. Nhờ đó, nhà nớc không còn là "kẻ gác cổng
trung thành cho sở hữu t nhân" mà đã trở thành một lực lợng quan trọng trong

3.2.4. Một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế thị trờng Việt
Nam những năm tới từ góc độ những đặc điểm riêng củaViệt Nam
Nớc ta đi lên từ một nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất
nghèo nàn. Mặt khác, có thể nói lịch sử 4000 năm của nớc ta là lịch sử của
những cuộc chiến tranh giữ nớc, chống giặc ngoại xâm mà không phải là lịch sử
11
của những quá trình phát triển kinh tế. Cộng thêm với cơ chế bao cấp nhà nớc ta
áp dụng sau chiến tranh đã khiến cho nền kinh tế nớc ta vốn đã bị tàn phá nặng
nề còn "chây lời", ỷ lại vào nguồn tài trợ của nớc ngoài. Tính chất bao cấp đã ăn
sâu vào tận trong ý nghĩ của nhiều ngời. Xuất phát từ cơ sở vật chất lạc hậu cùng
phơng cách quản lý kém hiệu quả đó, nền kinh tế thị trờng nớc ta có trình độ
phát triển thấp, cơ cấu quản lý còn non yếu. Kinh tế thị trờng nớc ta hiện nay đợc
đánh giá là chậm so với thế giới hàng thế kỷ. Muốn đuổi kịp tốc độ phát triển, cơ
sở vật chất của các nớc phát triển trên thế giới ta không thể đi tuần tự từ kinh tế
thị trờng tự do sang kinh tế thị trờng hiện đại nh là hớng phát triển kinh tế thị tr-
ờng chung của toàn thế giới mà phải chọn cách "đi tắt" sang kinh tế thị trờng
hiện đại. Nhng muốn "đi tắt" đợc nh vậy đòi hỏi ta phải chấp nhận những thách
thức rất gay gắt, và sự nỗ lực ghê gớm. Ta "đón đầu", áp dụng những tiến bộ mới
của khoa học kỹ thuật nhân loại vào sản xuất, đẩy mạnh năng suất lao động cả về
số lợng và chất lợng. Điều này đòi hỏi ta phải đào tạo đợc "lớp ngời mới", quen
thuộc với khoa học kỹ thuật, không cảm thấy lạ lẫm với những máy móc hiện
đại, đòi hỏi ngời lao động phải có trình độ cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, ta phải
đẩy mạnh phát triển khoa học, giáo dục đào tạo, cũng nh có những chính sách
phát hiện, nuôi dỡng và giữ gìn nhân tài, tránh hiện tợng chảy máu chất xám.
Nớc ta có vị trí vô cùng thuận lợi, đồng thời lại có nhiều danh lam thắng
cảnh đẹp đợc thế giới công nhận. Do đó, điều kiện để phát triển giao thông vận
tải và du lịch là rất lớn. Nhiều nớc nói rằng họ "thèm" đợc có điều kiện nh Việt
nam về vị trí địa lý, và nếu có đợc thì họ sẽ thu về một doanh thu khổng lồ từ
ngành du lịch. Nhng hiện nay việc phát triển du lịch ở nớc ta còn rất hạn chế, cha
tơng xứng với tiềm năng. Điều đó đặt ra một yêu cầu nữa cho công cuộc phát

định hớng nh trớc.
Hiện nay, sự quản lý bằng pháp luật của ta vẫn còn nhiều sơ hở, tạo điều
kiện cho tội phạm kinh tế phát triển. Do đó yêu cầu đặt ra là phải thiết lập luật
pháp chặt chẽ, dần đa con ngời tới hành động tự giác tuân theo pháp luật, sông
văn minh, có văn hóa, và tạo một môi trờng cạnh tranh công bằng, lạnh mạnh, có
trật tự cho các chủ thể kinh doanh.
Nền kinh tế có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản va có sự quản lý của nhà n-
ớc sao cho vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa đảm bảo phát triển xã hội và con
ngời, giảm thiểu những khuyết tật xã hội mà kinh tế thị trờng mang lại.
13
Kết luận
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tợng, một
quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.
Cái chung là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những
mặt, những mối liên hệ giống nhau, hay lặp lại ở nhiều cái riêng. Cái chung th-
ờng chứa đựng ở trong nó tính qui luật, sự lặp lại.
Giữa cái riêng và cái chung luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng để thể hiện sự tồn tại
của minh; còn cái riêng tồn tại trong mối liên hệ dẫn đến cái chung.
Với vai trò là một cái riêng, nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở Việt
nam cũng tuân theo những quy luật chung mang tính bản chất của kinh tế thị tr-
ờng, đồng thời cũng chứa đựng những đặc điểm, bản sắc đặc trng, vốn có, riêng
của Việt nam.
Chủ trơng lãnh đạo của Đảng đã thể hiện sự sáng suốt trong nhận thức nh-
ng trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót khiến cho kinh tế thị trờng
nớc ta cha vận dụng đợc hết các lợi ích, cũng nh khắc phục hoàn toàn những nh-
ợc điểm của kinh tế thị trờng nói chung, và cha thể hiện đợc thành một nền kinh
tế thị trờng hiện đại mang bản sắc của Việt nam. Trong việc quản lý vẫn còn
nhiều phiền hà, gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc làm ăn. Vì
thế mà nhiều doanh nghiệp nớc ngoài không muốn đầu t vào Việt nam cho dù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status