GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 1 -
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Con người cá nhân hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu.
Cuộc sống càng phát triển, nhu cầu của con người càng cao. Chính sự thỏa mãn nhu
cầu làm họ hài lòng và khuyến khích họ hành động. Đồng thời việc nhu cầu được thỏa
mãn và thỏa mãn tối đa là mục đích hành động của con người. Theo thuyết nhu cầu của
Maslow thì nhu cầu của con người được chia ra thành các cấp độ khác nhau như: Cấp
độ thấp nhất và cơ bản nhất là nhu cầu thể chất hay thể xác của con người gồm nhu cầu
ăn, mặc, ở Cấp độ tiếp theo là nhu cầu an toàn hay nhu cầu được bảo vệ. Nhu cầu an
toàn có an toàn về tính mạng và an toàn về tài sản. Cao hơn nhu cầu an toàn là nhu cầu
quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ
giữa con người với tự nhiên. Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó. Cấp độ
nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển. Ở trên cấp độ này là
nhu cầu được nhận biết và tôn trọng. Đây là mong muốn của con người nhận được sự
chú ý, quan tâm và tôn trọng từ những người xung quanh và mong muốn bản thân là
một “mắt xích” không thể thiếu trong hệ thống phân công lao động xã hội. Việc họ
được tôn trọng cho thấy bản thân từng cá nhân đều mong muốn trở thành người hữu
dụng theo một điều giản đơn là “xã hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người
thường có mong muốn có địa vị cao để được nhiều người tôn vọng và kính nể. Vượt
lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu sự thể hiện. Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt
được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc nào
đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng.
Có thể nói, nhu cầu thành đạt là sự nỗ lực của con người vượt lên những gì mà họ đã
đạt được, hoàn thiện nó để đạt mức độ cao hơn. Đó cũng chính là nguồn gốc tích cực
của con người.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu nhu cầu thành đạt là một vấn đề cần thiết. Nhưng
hiện nay, việc tìm hiểu và nghiên cứu nhu cầu thành đạt của các đoàn viên thanh niên
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 2 -
Trên thế giới, hơn nửa thế kỷ trước đây các nhà tâm lý đã nghiên cứu phương
pháp đo nhu cầu thành đạt. Khi nói đến lịch sử nghiên cứu nhu cầu thành đạt trước tiên
phải nói đến các nhà tâm lý thuộc trường phái Saint –peterbourg họ đã đi sâu nghiên
cứu phẩm chất tâm lý của nhu cầu thành đạt. Đồng thời, P.V. Ximônô đã nghiên cứu
nhu cầu thành đạt ở khía cạnh nhận thức các chuẩn mực xã hội mang tính xã hội lịch sử
ông thấy rằng, với những điều kiện kinh tế, chính trị- xã hội, văn hóa, giai cấp khác
nhau thì chuẩn mực thành đạt cũng khác nhau.
Và trong cuốn sách “Động cơ thành đạt” của hai tác giả McCelland và Akitson
được xuất bản năm 1953 cũng đã đề cập nhiều tới nhu cầu thành đạt, hai ông cho rằng
yếu tố đầu tiên ảnh hưởng tới động cơ thành đạt chính là nhu cầu, mà cụ thể ở đây là
nhu cầu thành đạt. Khi nhu cầu gặp đối tượng và có điều kiện thỏa mãn thì nó trở thành
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 4 -
động cơ của chủ thể. Động cơ chính là sự phản ánh của nhu cầu, nhưng động cơ không
phải là bản thân của nhu cầu mà là nhu cầu được cụ thể hóa, hiện thân bằng động cơ
thúc đẩy. Và trong cuốn sách này, hai ông đã phát triển phương pháp đo động cơ thành
đạt (TAT). Dựa vào phương pháp TAT các ông đã làm sáng tỏ được mối quan hệ giữa
nhu cầu thành đạt với động cơ thành đạt.
Hiện nay, có rất nhiều hướng nghiên cứu nhu cầu thành đạt. Tuy nhiên, kết quả
của những công trình này lại trái ngược nhau. Ngoài ra, có những công trình nghiên
cứu sự khác biệt giữa nhu cầu thành đạt của nam và nữ; nghiên cứu ảnh hưởng của tính
cách, của yếu tố giáo dục…đến nhu cầu thành đạt.
Một hướng nghiên cứu khác về động cơ thành đạt có liên quan tới nhu cầu thành
đạt được khá nhiều nhà tâm lý học quan tâm. Chẳng hạn: Cynthia Fan và Wally
Kanirlowiez đã tìm hiểu động cơ thành đạt của những cô gái Trung Quốc và Úc.
Ở Việt Nam: cho đến nay dưới các góc độ khác nhau đã có một số công trình trực
tiếp hoặc gián tiếp nghiên cứu về nhu cầu thành đạt của con người Việt Nam. Khi Việt
Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường đã có sự thay đổi lớn trong định hướng giá trị
của con người Việt Nam nên trong các nghiên cứu xã hội học, một số tác giả đã xem
Như vậy, nhìn chung ở Việt Nam, vấn đề nhu cầu thành đạt của con người chưa
được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là dưới góc độ tâm lý học. Trong khi đó, theo chúng
tôi đây là vấn đề rất đáng quan tâm bởi nó không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà nó
còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Lý luận về nhu cầu
2.1.1. Khái niệm nhu cầu
Để tồn tại và phát triển, cá nhân phải đòi hỏi ở môi trường xung quanh những yếu
tố cần thiết, không thể thiếu, sự đòi hỏi đó là nhu cầu. Nhu cầu là một biểu hiện của xu
hướng nhân cách, nó chi phối một cách mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến
hành vi của con người nói riêng.
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 6 -
Có nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về nhu cầu:
Theo B.Ph Lomov: “ nhu cầu là đòi hỏi nào đó của con người về những điều kiện
và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển”.
A.G Kovaliov: “nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội
khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phât triển”.
P.A Rudich: “nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần
thiết nhất định nào đó về một điều gì đó”.
GS.VS Phạm Minh Hạc: “nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở
ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc những người khác. Nhu cầu
biểu lộ sự gắn bó của cá nhân với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào
thế giới đó”.
Trong giáo trình “Tâm lý học đại cương” do PGS Nguyễn Quang Uẩn chủ biên
thì “nhu cầu là sụ đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và
phát triển”.
Từ những khái niệm trên có thể đi đến kết luận: “nhu cầu là sự đòi hỏi của con
người về một sự vật và hiện tượng gì đó rất cần thiết, không thể thiếu, đảm bảo cho sự
việc mong muốn phá hủy và xâm lăng. Sự mong muốn này đầu tiến hướng tới môi
trường xung quanh do có sự ngăn cấm của xã hội mà nó lại hướng tới chính bản thân
mình (bản năng sống). Ông nghiên cứu động vật và chứng minh một cách hùng hồn
những hành vi hung bạo hay những hành vi phá hủy là những phương tiện thỏa mãn
nhu cầu quan trọng của cuộc sống và nó được nảy sinh trong những điều kiện tồn tại.
những hành vi hung bạo hay những hành vi phá hủy là những phương thức bảo vệ. Xã
hội chẳng qua là một hệ thống tổ chức và cấm đoán được hình thành từ bề ngoài bản
năng sống của con người.
Trường phái phi hành vi đã nghiên cứu nhân cách xuất phát từ quan niệm về tính
chế ước. Những xung động mới xuất hiện nhờ có sự phối hợp của những kích thích nào
đó với nhu cầu bẩm sinh có giới hạn của cá nhân. Cũng xuất phát từ quan điểm này tất
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 8 -
cả những gì gọi là nhu cầu tinh thần của con người đều là trạng thái cơ thể của con
người. Nó còn là tín hiệu thỏa mãn nhu cầu trong tương lai. Họ khẳng định rằng những
kích thích nguyên phát chỉ là vẻ bề ngoài của nhu cầu cơ thể. Theo Muller thì những
xung động thứ phát là mặt chính diện, đằng sau nó là những chức năng có cơ sở là
những xung động bẩm sinh.
Họ cho rằng nhu cầu chính là động cơ của hành vi, đó chính là hai loại xung động
của hành vi: nguyên phát và thứ phát. Hall cho rằng nhu cầu tiền tàng thường xuất hiện
trước nhu cầu của cơ thể và kèm theo nhu cầu của nó. Đó là động lực thúc đẩy của nhu
cầu. Họ cho rằng, nhu cầu là những xung động mang tính sinh vật. Nhu cầu nguyên
phát nảy sinh do đói, khát, ngủ, thở, tình dục, chạy chốn nguy hiểm…Nhu cầu xã hội là
nhu cầu thứ hai, đó là nhu cầu thống trị, lệ thuộc, ham hiểu biết, nhu cầu quyến rũ…
nhu cầu thứ ba là nhu cầu liên quan đến người khác có được bằng con đường học tập.
Nhu cầu thứ ba này được thể hiện ở nhu cầu cho và nhận, thường có tính mục đích và
tình toàn diện và được xác định một cách tương đối do xã hội mang lại. Sự giàu có hay
thành đạt trong sụ nghiệp chính là loại nhu cầu này.
A. Adler và C.G. Jung hai nhà phân tâm phi S. Freud. A.Adler cho rằng, cơ sở
nghĩ đến thành tích riêng của nhân cách mà quên đề cập đến những ý tưởng nhân đạo
cao quý, sự quan tâm đến hạnh phúc nhân loại, của toàn xã hội, của tập thể mà trong đó
có chủ thể. Ông phủ nhậ tính quy định cảu xã hội của xu hướng ích kỷ của con người
và xem nó như một bản tính phản xã hội của con người.
K. Lewin cho rằng dưới sự tác động của loại nhu cầu nào đó, trạng thái căng
thẳng sẽ xuất hiện, đồng thời chủ thể cũng xuất hiện những liên tưởng có liên quan với
nhu cầu. Ông nhấn mạnh rằng, thật sai lầm nếu chỉ nghĩ rằng những nhân tố thực của
hoạt động tâm lý người chỉ xuất phát từ nhu cầu cơ thể mà con xuất phát từ nhu cầu xã
hội. Mọi dự định, mọi ý nghĩ là một dạng của nhu cầu từ đó dẫn tới sự xuất hiện hệ
thống căng thẳng và đó cũng là nguyên nhân tạo ra sự hoạt động tích cực của con
người, hoạt động này sẽ làm dịu sự căng thẳng…
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 10 -
2.1.2.2. Quan niệm về nhu cầu trong tâm lý học Mác – xít
Dưới ánh sáng của triết học Mác – Lênin, các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên
cứu về con người, đời sống tâm lý người đã khẳng định: nhu cầu là yếu tố bên trong
quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người.
Ngay trong triết học, F.Ằnghen – tuy không phải là một nhà tâm lý học, nhưng
khi nói về quan điểm của mình về nhu cầu. ông khẳng định: “Người ta quy cho trí óc,
cho sự mở mang và hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho xã hội phát triển được
nhanh chóng và đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mìn là do nhu cầu
của mình quyết định (mà những nhu cầu đó quả thật đã phản ánh vào trong đầu óc con
người, làm cho họ có ý thức đối với những nhu cầu đó) thì người ta lại quen giải thích
rằng hoạt động của mình là do tư duy của mình quyết định. (F. Anghen – Phép biện
chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật, H. trang 280).
D.N. Uznetze người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu.
Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Tương ứng theo mỗi kiểu hành
vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có
mặt của nó ở nhu cầu. Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực. Không có nhu cầu
P.X. Ximonov thì cho rằng: trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà
thiếu hụt thông tin về khả năng thoả mãn, sẽ nảy sinh những rung cảm âm tính, tăng
năng lượng nhu cầu. Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi. Kết quả dương
tính sẽ làm giảm tổng thể các hành động thoả mãn nhu cầu. Theo ông, đặc điểm nhu
cầu phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãn
nhu cầu.
B.Ph. Lomov khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến nhu
cầu. Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách. “Nhu cầu cá nhân là
đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và
phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 12 -
quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình. Dĩ nhiên, nhu cầu là
trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [Những
vấn đề lý luận và phương pháp luận trong tâm lý học – Tr 479]. Trong đời sống của cá
nhân, nhu cầu vật chất không phải là tất cả. Con người có thể tồn tại và phát triển chỉ
như một thành viên của xã hội. Còn việc “tiêu dùng” những giá trị tinh thần do xã hội
tạo ra mới có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách. Ông
cho rằng, các nhu cầu đều có cấp độ của nó. Chẳng hạn như nhu cầu nhận thức thì đi từ
sự tò mò, tới sự tìm kiếm chân lý một cách say mê, nhu cầu nghỉ ngơi đi từ việc cần
phải thư giãn, ngủ cho đến cách ly tạm thời với các hình thức quen thuộc của đời sống
xã hội…Nhu cầu cao nhất là nhu cầu sáng tạo.
X.L Rubinstein khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản chất
của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản
của con người với nhân cách. Nói đến nhu cầu của con người nói đến việc đòi hỏi một
cái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người. Thế nên trong quá trình hoạt động
để thoả mãn nhu cầu. Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một mặt phụ thuộc vào thế
giới đối tượng, trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thuộc vào sự nỗ lực,
năng lực của chính chủ thể. Do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế
cầu). Nhưng nhu cầu ấy có được thỏa mãn hay không là còn phụ thuộc vào chính hệ
thống đối tượng thỏa mãn nhu cầu trong hoàn cảnh đó. Bản thân chủ thể trải nghiệm
nhu cầu sẽ chịu sự quy định bởi các đối tượng trong thế giới xung quanh. Khả năng
thỏa mãn nhu cầu ở chủ thể sẽ rơi vào trạng thái bị động. Xét trong bối cảnh đó, ta dễ
nhận thấy tính thụ động của nhu cầu con người. Ví dụ nhu cầu đọc sách khoa học viễn
tưởng ở người có được thỏa mãn hay không còn tùy vào mức độ đa dạng của thị trường
sách về loại này.
- Thứ hai, cũng chính trong ví dụ nêu trên, nhu cầu đọc sách loại ấy ở chủ thể sẽ
thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm trên thị trường sách để chọn lọc, chọn lựa những
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 14 -
loại sách nào phù hợp với nhu cầu chủ thể để đọc. Xét trong hoàn cảnh này, ta thấy
chính sự tồn tại của nhu cầu lại thúc đẩy hoạt động, kích thích hoạt động. Nhu cầu phát
huy được tính tích cực của mình trong quá trình tìm kiếm đối tượng, tìm kiếm phương
thức, phương tiện thỏa mãn nhu cầu. Trong trường hợp này, người ta nói nhu cầu mang
tính tích cực. Trong chương trình nghiên cứu của mình, X.L. Rubinstein rất có lý khi
cho rằng con người là một thực thể và thực thể này đang thể nghiệm sự thiếu thốn, kết
quả là thực thể ấy có ý hướng tích cực để tìm kiếm đối tượng thỏa mãn.
Cũng từ hai mặt nói trên về tính thụ động – tính tích cực của nhu cầu mà ta thấy
được quá trình hình thành và phát triển nhu cầu. Đó là sự vận động bên trong của
những nhu cầu theo những giai đoạn, những cấp độ nhất định. Bản chất của quá trình
trên đây được lý giải như sau :
Nhu cầu, theo tâm lý học, một hiện tượng tâm lí người. Nhu cầu còn là một thuộc
tính tâm lí người, điều đó có nghĩa là nhu cầu có chức năng điều khiển, điều chỉnh
hành vi trong quá trình chiếm lĩnh đối tượng. Song, khi xem xét sự hình thành một nhu
cầu cụ thể, ta thấy nó diễn ra trong hoạt động tâm lí. Trên con đường chiếm lĩnh đối
tượng luôn luôn có sự tham gia của ý thức ở những mức độ khác nhau. Chính ý thức
giúp cho nhu cầu con người khác về chất so với nhu cầu của động vật. Do vậy, khi xem
xét sự hình thành một nhu cầu cụ thể với tư cách như một hoạt động tâm lí, các mức độ
c. Ý định
Đây là giai đoạn cao của ý thức trong nhu cầu của con người, nghĩa là bản thân
chủ thể đã nhận rõ về mục đích của hành động cả về phương tiện để thực hiện mục
đích này. Chủ thể có khả năng nhận rõ cả về sự sẵn sàng hành động theo một phương
hướng xác định, đồng thời chủ thể cũng có khả năng nhận thức về những kết quả (lẫn
hậu quả) do những hành động của mình mang lại. Ý định tự thân nó không chỉ là mục
đích mà còn là hành động, hành động dẫn tới mục đích.
Tóm lại, khi xem xét một nhu cầu nào đó ở con người theo quá trình diễn biến của
nhận thức và của ý thức, của sự thống nhất hai yếu tố khách quan và chủ quan ta sẽ
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 16 -
nhận thấy là ý nghĩa của nhu cầu như là nguồn gốc tính tích cực của con người. Ý
nghĩa này sẽ được nhìn thấy rõ qua ba giai đoạn diễn biến kể trên.
Ba giai đoạn phát triển này của một nhu cầu cụ thể cho phép ta nhìn thấy cách vận
hành của một nhu cầu cụ thể. Tuy nhiên, bất cứ một nhu cầu nào ở con người sẽ khó
mà được thỏa mãn nếu không thông qua các dạng hoạt động khác nhau. Hay nói một
cách khác là nhu cầu, với sức mạnh nội tại của nó, chỉ có thể được thực thi trong hoạt
động.
Định nghĩa nhu cầu của X.L. Rubinstein không những xác định rõ bản chất của
nhu cầu mà còn chỉ ra quá trình hình thành nhu cầu.
Như phân tích ở trên, nhu cầu và hoạt động của con người có mối quan hệ khăng
khít với nhau. Để hiểu rõ hơn về bản chất của nhu cầu cần phân tích các mối quan hệ
gắn bó này.
Vần đề được đặt ra là mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động ra sao, cái nào
quyết định cái nào? đã một thời gây nhiều tranh luận trong các nhà tâm lí học. Nhìn
chung có hai sơ đồ cơ bản thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động, được các
nhà tâm lí học phác họa. Đó là :
Sơ đồ 1 : Nhu cầu – Hoạt động – Nhu cầu…
Sơ đồ 2 : Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động…
nguồn gốc của nhu cầu. Bởi vì nhu cầu của con người về cơ bản có nguồn gốc từ thế
giới khách quan, nó nảy sinh thông qua hoạt động của mỗi người. Tất nhiên đến lượt
mình, nhu cầu lại phát huy tính tích cực trong hoạt động thỏa mãn nhu cầu. Về mặt
này, nhu cầu chỉ là yếu tố thúc đẩy hoạt động mà thôi.
Khoa học tâm lí cho rằng nhu cầu người là một trong những hiện tượng tâm lí
người, do vậy nhu cầu chính là hình thức đặc biệt của sự phản ánh thế giới khách quan,
phản ánh những điều kiện sống bên ngoài thông qua lăng kính chủ quan của con người.
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 18 -
Như trên đã phân tích, trong sơ đồ 1 có một phần đúng vì nhiều nguyên nhân khác
nhau. Một trong những nguyên nhân đó là khi xem xét con người như là một thực thể
tự nhiên (tạm quên đi bản chất xã hội của con người). Chẳng hạn như đứa bé mới sinh,
sức mạnh nội tại của những nhu cầu sinh vật (đảm bảo cho sự tồn tại cá thể người thúc
đẩy đứa bé tìm đối tượng để thỏa mãn : ví dụ như tìm sữa để bú…). Đó cũng là một
loại nhu cầu nhưng không phải là nhu cầu có bản chất người. Khi xem xét con người
về mặt bản chất thì lúc đó sẽ có cái nhìn đúng hơn về nhu cầu. Con người khác xa về
chất so với con vật là nhờ bản chất xã hội – lịch sử của mình, trong đó có bản chất của
nhu cầu người. Nội dung, đối tượng, phạm vi phản ánh nhu cầu người (cũng như
phương thức, phương tiện thỏa mãn nhu cầu) đều khác về chất so với các loài động vật
khác, đó là bản chất xã hội của nhu cầu con người.
Động cơ là một vấn đề trung tâm của tâm lí học. Vấn đề này giữ một vị trí quan
trọng của thuyết tâm lí về hoạt động do A.N. Leonchiev [1] soạn thỏa.
Sự khác biệt của phương pháp nhu cầu được biểu hiện việc phân tích động cơ
được tiến hành như điều cần thiết để phân tích hoạt động. Phương pháp nghiên cứu như
vậy đã đưa nhu cầu đến quan điểm độc đáo để phát hiện bản chất của nhu cầu, về vai
trò của chúng trong hoạt động đến quan điểm về các cơ chế phát triển nhu cầu và chức
năng nhu cầu trong điều khiển hành vi.
Như vậy việc phân tích lĩnh vực động cơ liên quan đến việc nghiên cứu nhân
cách, ý thức và các quá trình cảm xúc.
cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin sẽ dẫn đến cảm xúc âm tính. Điều này làm
phát triển năng lượng của nhu cầu, mặc dù kết quả hành vi không thuận lợi. Trong
trường hợp ngược lại, cảm xúc dương tính làm giảm tập hợp hành động. Như vậy, sự
thay đổi tập hợp cảm xúc của năng lượng nhu cầu được quy định bởi thông tin về khả
năng thỏa mãn nhu cầu và phụ thuộc vào mức độ ý nghĩa của nhu cầu. Sau khi phân
tích sự chuyển tải năng lượng của nhu cầu P.V.Ximônôv đã có lí khi kết luận rằng đặc
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 20 -
điểm của nhân cách phụ thuộc vào sự trang bị thông tin, các công cụ, phương tiện và
cách thức thỏa mãn nhu cầu.
Tóm lại, trong tâm lí học hiện đại rất ít các công trình nghiên cứu về nhu cầu, do
vậy việc nghiên cứu nhu cầu chưa được thực hiện một cách có hệ thống và còn quá ít
kết quả thực nghiệm.
Có hai quan điểm chính nghiên cứu về nhu cầu như sau :
1. Quan điểm phi Mác-xít.
2. Quan điểm Mác-xít.
Phần lớn trong học thuyết động cơ của các nhà tâm lí học tư bản đều có khái niệm
nhu cầu và được hiểu như là một kích thích bên trong, là “động lực của hành vi”. Điều
này dẫn tới khái niệm “bản năng” của Macdagola [40] hay khái niệm “đam mê” của S.
Freud. Với ý nghĩa này nhu cầu được hiểu như là các kích thích có toàn quyền, nhu cầu
xác định mức độ tính tích cực của cá thể và tố chất của nó. Đối với động cơ hành vi,
khái niệm nhu cầu với ý nghĩa như vậy thường giống với khái niệm động cơ. Sự giống
nhau này dần dần sẽ dẫn đến việc giải quyết vấn đề tâm lí học động cơ như là vấn đề
nhu cầu thứ nhất về cơ sở nhu cầu, về phân loại nhu cầu. Động cơ đã chỉ rõ sự tương
quan của chúng với những kiểu nhất định của phản ứng hành vi, nhu cầu cập nhật phát
huy bản ngã của A. Maslow, nhu cầu có những ấn tượng mới, hoặc mối tương quan
của chúng với những nhu cầu khác, ví dụ như nhu cầu thành đạt, nhu cầu chạy trốn,
nhu cầu lớn lên, nhu cầu phát triển.
Sự phân biệt nhu cầu thiết yếu và nhu cầu không thiết yếu là một trong những
dễ nhận ra đó là: thế giới đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể.
2.1.3. Đặc điểm nhu cầu
Theo P.A Durich, nhu cầu có những đặc điểm sau:
Tính nội dung cụ thể của nhu cầu thường có liên quan hoặc là với một vật cụ thể
mà người ta cố gắng để có được thỏa mãn.
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 22 -
Nhận thức khá rõ ràng về nhu cầu có kèm theo trạng thái cảm xúc tiêu biểu. Ví
dụ, tính hấp dẫn của đối tượng có liên quan đến nhu cầu, sự hài long do một nhu cầu
được thỏa mãn…
Trạng thái ý chí, tình cảm thúc đẩy phải thỏa mãn nhu cầu, phải tìm kiếm và tiến
hành những cách thức cần thiết để thỏa mãn nhu cầu đó.
Các trạng thái đó bị giảm yếu,có lúc hoàn toàn biến mất và thậm chí trong một số
trường hợp còn biến thành trạng thái ngược lại khi thỏa mãn. Ví dụ, như cảm giác chán
ghét thức ăn khi đã quá no.
Sự xuất hiện lặp lại khi mà yêu cầu gây nên lại tái hiện, một yêu cầu về điều gì đó
chỉ xảy ra một lần, mang tính chất đơn lẻ và không lặp lại nữa thì sẽ không biến thành
nhu cầu.
Đó là 5 đặc điểm của nhu cầu theo quan điểm của P.A Durich. Các đặc điểm này,
theo Durich, có thể xem như là các trạng thái tâm lý liên quan đến nhu cầu.
Trong giáo trình “ Tâm lý học đại cương”, các tác giả đã nêu ra những đặc điểm
của nhu cầu:
Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng, khi nào nhu cầu gặp đối tượng có khả năng
đáp ứng được sự thỏa mãn thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người
hoạt động nhằm đến đối tượng.
Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và những phương thức thỏa mãn nó
quy định.
Nhu cầu có tính chu kỳ.
Nhu cầu của con người khác xa về chất so với nhu cầu của con vật: nhu cầu của
hội chuộng của chuộng công”. Vì thế, con người thường có mong muốn có địa vị cao
để được nhiều người tôn vọng và kính nể.
Nhu cầu tự hoàn thiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân
cấp của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới chỗ mà một con người có thể đạt tới. Tức
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 24 -
là làm cho tiềm năng của một người đạt tới mức tối đa và hoàn thành được một mục
tiêu nào đó.
Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn. Con người tự nhận thấy bản
thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khi công việc đó được
thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng. Thuyết nhu cầu sắp xếp nhu cầu con người từ
thấp lên cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn
được đáp ứng. Tuy nhiên điều này chỉ đúng trong từng cá thể nhất định. Ở phạm vi
rộng hơn, quan điểm này không chính xác. Điều này có thể thấy ở những dân tộc mặc
dù rất nghèo đói nhưng vẫn mong muốn có được độc lập tự do và đấu tranh vì điều đó.
Các nhu cầu này được A.Maslow mô hình hóa trong một sơ đồ hình tháp, gọi là
“tháp nhu cầu Maslow”:
SVTH: Nguyễn Công Hậu
Lớp : 06CTL Khoa Tâm lý – Giáo dục, ĐHSP - ĐHĐN
1
2
3
4
5
GVHD: ThS. Nguyễn Thị Kim Xuân - 25 -
Trong sơ đồ trên, nhu cầu 1, 2, 3 là những nhu cầu cấp cao, phát sinh do sự thiếu
hụt. Nhu cầu 4, 5 là nhu cầu cấp thấp, phát sinh bản ngã.
Với cách phân chia này, các loại nhu cầu trên có thể được xem là các mức độ nhu
cầu.