nghiên cứu phương pháp tính toán để lựa chọn công suất phù hợp cho các hệ thống máy phát sóng trung công suất lớn - Pdf 25

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

NGUYỄN THẾ HÒA

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN ĐỂ LỰA CHỌN CÔNG
SUẤT PHÙ HỢP CHO CÁC HỆ THỐNG MÁY PHÁT SÓNG TRUNG
CÔNG SUẤT LỚN Chuyên ngành: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ
Mã số: 60.52.70

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Vào lúc: giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luậ
n văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông iMỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN DẪN PHÁT SÓNG CỦA
VOV

5
1.1.Sơ đồ khối các hệ thống thiết bị kỹ thuật phát thanh tại Đài TNVN

5
1.2.Các phương thức phát sóng vô tuyến của VOV

5
1.5. Kết luận chương.

6
Chương 2
NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN ĐỂ LỰA CHỌN CÔNG SUẤT PHÙ HỢP CHO
MÁY PHÁT SÓNG TRUNG CÔNG SUẤT LỚN

ĐÊM

11

ii
3.1 máy phát

11
3.1.4.Các chế độ chạy máy

11
3.2. Hệ thống anten – feeder và các thiết bị phụ trợ

12
3.2.1. Anten

12
3.3. Đặc điểm của truyền sóng của sóng trung công suất lớn vào các giờ ban đêm

12
3.3.1. Các vùng phủ sóng

13
3.3.3. Vùng phủ sóng của ba sóng đối nội ở đài VN2 khi dùng anten chống fading

15
3.3.4. Vùng phủ sóng của ba sóng đối nội ở đài VN2 khi giảm công suất

18
3.5. Kết luận chương 3

đài phát sóng phát thanh khác nhau, nằm rải rác từ Bắc
vào Nam, lại có sự đan xen giữa các hệ thống máy phát và

2
anten-feeder sóng trung cũ do lịch sử để lại và thiết bị mới
được đầu tư, đôi chỗ vẩn chưa được thực sự đạt hiệu quả
cao. Ngay cả đối nội với các hệ thống máy phát và anten-
feeder sóng trung mới được đầu tư, việc khai thác và sử
dụng đôi chỗ vẩn chưa hợp lý nên vẫn chưa đạt được hiệu
quả cao nhất.
Để có thể
phát huy tối đa năng lực hoạt động của hệ
thống máy phát và anten-feeder sóng trung, chúng ta cần
rà soát nghiên cứu cụ thể hoạt động của toàn bộ hế thống
nhất là máy phát cũng như từng bộ phận riêng biệt về
công nghệ thiết bị để xây dựng các phương án phù hợp
trong việc khai thác, sử dụng và phối hợp hoạt động của
các hệ thống nhằm đạt hiệu qu
ả cao nhất. Một phương án
công nghệ thiết bị lựa chọn để sử dụng được coi là tối ưu
không phải là phương án có chi phí thấp nhất mà đó là
phương án hài hòa nhất về khía cạnh công nghệ, kỹ thuật
và kinh tế để đạt được hiệu quả sử dụng cao nhất.
Vì vậy, đề tài “ nghiên cứu, tính toán để lựa chọn công
suất phát phù hợp cho các hệ thống máy phát sóng trung
công suất l
ớn” để đạt được hiệu quả phủ sóng cao nhất là
việc làm hết sức cần thiết và cấp bách.

3

yếu tố của môi trường truyền sóng và các thông số kỹ
thuật ảnh hưởng đến vùng phủ sóng. Phân biệt các đặc
điểm chung và các đặ
c điểm riêng của truyền lan sóng
trung vào ban ngày và ban đêm.
- Trên cơ sở lý thuyết truyền sóng đã nghiên cứu, lựa chọn
các phần mềm tính phủ sóng để xác định vùng phủ sóng
của sóng đất sóng trung cả ngày lẫn đêm, sóng trời sóng
trung và vùng fading vào các giờ ban đêm với các mức
công suất khác nhau.
- Phân tích, so sánh và đánh giá vùng phủ sóng của từng
tần số vào ban ngày và ban đêm, từ đó chọn mức công
suất tối ưu đối vớ
i từng máy phát đang khai thác ở đài
phát sóng phát thanh VN2, đưa ra mức công suất phù hợp
cho từng tần số của ba máy phát đang khai thác ở VN2

5
nhằm tiết kiệm kinh phí khai thác mà vẩn đảm bảo vùng
phủ sóng vào các giờ ban đêm.
Để hoàn thành được toàn bộ nội dung nghiên cứu, luận
văn được bố cục như sau.
Chương 1: Tổng quan về hệ thống truyền dẫn phát sóng
của VOV
Chương 2: Nghiên cứu, tính toán để lựa chon công suất
phù hợp cho máy phát sóng trung công suất lớn
Chương 3: Lựa chọn công suất phát phù hợp cho các máy
phát sóng trung 500KW ở đài PSPT VN2 vào các giờ ban
đêm
Chương 1

phù hợp.
Chương 2
NGHIÊN CỨU, TÍNH TOÁN ĐỂ LỰA CHỌN CÔNG
SUẤT PHÙ HỢP CHO MÁY PHÁT SÓNG TRUNG
CÔNG SUẤT LỚN
2.1. Phổ tần số cho máy phát sóng trung

7
Bảng 2.1. Băng tần trung bình phân chia cho phát thanh
đối với từng khu vực
Khu vực 1 Khu vực 2 Khu vực 3
526,5Khz-
1606,5Khz
535Khz-
1605Khz
526,5Khz-
1606,5Khz
1605Khz-
1705Khz

2.2. Truyền lan của sóng trung
- Trong băng sóng trung truyền lan bằng 2 phương thức:
+ Sóng đất: Truyền lan vào tất cả các giờ trong ngày
+ Sóng trời: Chỉ xuất hiện vào các giờ ban đêm
2.6. Phương pháp tính cường độ trường
2.6.1. Tính cường độ trường sóng đất sóng trung khi môi
trường truyền sóng là một loại đất
Cường độ trường sóng đất sóng trung được tính bằng công
thức dưới đây E =
.( )

1
là E
1
với khoảng cách d
1
và được tính dBμv/m. Ở
đoạn đường S
2
là E
2
(d
1
+d
2
)
Tương tự như vậy S
3
, là E
3
(d
1
+ d
2
) vàE
3
(d
1
+d
2
+ d

thu, điểm thu ở đây không chỉ giới hạn ở ngay mặt đất, mà
ở cả các góc ngẩng tùy ý.
Giản đồ phương hướng trong mặt phẳng đứng của anten
của song trung:
f(

) =
os( sin( )) cos(h)
os (1 cos(h))
ch
c





f(

) là giản đồ hướng của anten trong mặt phẳng đứng
h là độ cao của anten tính bằng độ( = 360h/λ)

là góc ngẩng của điểm thu trên bề mặt trái đất
2.7.2. Phương pháp tính cường độ trường sóng trời
mức cường độ trường và giá trị cường
độ trường sóng trời sóng trung có thể biểu diện bằng công
thức sau :
F
1
= F
0

các loại phương thức phát sóng. Nghiên cứu phương pháp
tính cường độ điện trường sóng đất sóng trung khi môi

11
trường truyền sóng là một loại đất, hay nhiều loại đất. Và
phương pháp tính cường độ trường sóng trời của sóng
trung. Nghiên cứu độ cao anten, hệ thống đất của antenna
sóng trung, độ dẫn điện và hằng số điện mội của đất

Chương 3
LỰA CHỌN CÔNG SUẤT PHÁT SÓNG PHÙ HỢP CHO
CÁC MÁY PHÁT SÓNG TRUNG 500 KW Ở ĐÀI PSPT
VN2 VÀO CÁC GIỜ BAN ĐÊM
Đài phát sóng phát thanh VN2 đang phát sóng 3 hệ
chương trình đối nội là VOV
1
;
VOV
2

và VOV
3

bằng ba
máy phát sóng trung, mỗi sóng có công suất 500 kW, hệ
thống anten-feeder và các thiết bị phụ trợ để phủ sóng các
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền tây
Nam Bộ. Đài VN2 được chính thức đưa vào khai thác
ngày 10 tháng 7 năm 1997
3.1 máy phát

hướng giống như anten sóng trung có chiều cao 0,25λ.
Các anten của ba sóng đối nội của đài PSPT VN2 là loại
anten thấp, hiệu quả phủ sóng không cao
3.3. Đặc điểm của truyền sóng của sóng trung công suất lớn
vào các giờ ban đêm

13
Công suất bức xạ của 3 sóng 711, 783 và 873 kHz đều là
500 kW. Ba sóng này sử dụng để phát các chương trình
đối nội VOV1, VOV2 và VOV3 với thời lượng phát sóng
là 19 giờ/ngày. Trong số 19 giờ phát hàng ngày, thì có 10
giờ hoàn toàn là ban ngày ( 07 h – 17 h 00). Lúc này
truyền sóng của sóng trung chỉ đơn thuần là sóng đất. Còn
07 giờ là ban đêm ( 18 h 00- 24 h 00 và 05 h 00 – 06 h 00)
và 02 giờ tranh tối sáng, vào các giờ này, sóng trung
truyền sóng bằng cả sóng đất và sóng trời. Như vậy thời
lượng phủ sóng bằng cả sóng đất và sóng trời là đáng kể
so vớ
i thời lượng phát sóng hàng ngày. Việc nghiên cứu,
tính toán để lựa chọn công suất phù hợp cho cả ba máy
phát nhằm tiết kiệm kinh phí quản lý và khai thác là việc
làm cần thiết.
3.3.1. Các vùng phủ sóng
Khác với truyền sóng vào các giờ ban ngày sóng trung chỉ
đơn thuần truyền sóng bằng sóng đất, vào các giờ ban
đêm, sóng trung truyền lan bằng cả sóng đất như ban ngày
và còn truyền sóng bằng sóng trời. Vì cùng lúc tồn tại cả
hai phương thức truyền sóng vào các giờ ban đêm, vùng
phủ sóng của cả đài phát sóng trung công suất lớn có tạo


/ E
t
≥ (-
8dB).
- Vùng phủ sóng trời sóng trung:
Là vùng mà việc thu sóng trung chỉ thực hiện được bằng
sóng trời, nó bắt đầu từ điểm mà tại đó E
d
/ E
t
≤ (-8dB), đó
chính là cận ngoài của vùng fading gần. Vùng phủ sóng
bằng sóng trời sóng trung sẽ cho vùng phủ sóng rất rộng
nếu công suất máy phát lớn, có thể đến 1000 km. Tại đây
cũng có hiện tượng fading, nhưng không phải do sóng đất
và sóng trời sinh ra mà do các sóng trời gặp nhau không
cùng pha được phản xạ có số bước nhảy khác nhau ( 1x E
và 2 x E ). Việc thu sóng trời sóng trung tại vùng này cũng
không ổn định, nhiều lúc không nghe được. Thông thường
sóng trời sóng trung dùng để phủ
sóng đối ngoại. Đài
Tiếng Nói Việt Nam phủ sóng đối ngoại gần cho các vước
Đông Nam Á bằng sóng trung tần số 1242 kHz với công
suất từ 500 đến 1000 kW.
3.3.3. Vùng phủ sóng của ba sóng đối nội ở đài VN2 khi
dùng anten chống fading

16
Vùng phủ sóng của các sóng 711, 783 và 873 kHz ở đài
PSPT VN2 được tính hoàn toàn giống như tính vùng phủ


17
10 90 178 167 156
11 100 192 180 168
12 110 193 181 169
13 120 193 181 169
14 130 193 181 169
15 140 192 180 168
16 150 191 179 167
17 160 190 178 166
18 170 188 176 165
19 180 180 169 159
20 190 177 166 156
21 200 175 164 154
22 210 173 162 152
23 220 175 164 154
24 230 177 166 156
25 240 181 170 159
26 250 185 173 162
27 260 190 178 167
28 270 205 193 182
29 280 203 191 180
30 290 184 172 161

18
31 300 159 148 138
32 310 155 146 126
33 320 158 148 139
34 330 165 155 145
35 340 165 155 145

hơn công suất tối ưu thì mức cường độ điện trường của cả
sóng đất và sóng trời trong vùng fading đều tăng tương
ứng và như vậy vùng fading vẩn không thay đổi.

Nhận xét:
Vùng phủ sóng của ba sóng 711, 783 và 873 kHz vào
các giờ ban đêm không thay
đổi khi giảm công suất từ 500
kW xuống 200 kW. Vì đây là công suất tạo ra mức cường
độ điện trường tại nơi thu đủ để bắt đầu sinh ra fading gần.
Nếu tăng công suất lớn hơn nữa cũng không mở rộng
được miền phủ sóng của sóng đất do cả sóng đất và sóng
trời tăng tương ứng với mức tăng công suất.

20
Khi dùng anten là anten chống fading, vùng phủ sóng
của sóng đất của cả ba sóng tăng đáng kể, diện tích phủ
sóng lúc này tăng khoảng 1,85 lần so với hiện tại, bởi vì
với anten chống fading, mức cường độ trường sóng đất
tăng khoảng 2,7 dB, còn cường độ trường sóng trời giảm
khoảng 4 dB.
Chỉ tính riêng chi phí do tiêu thụ nguồn điện ( đây
cũng là kinh phí chủ yếu) thì với giá hiện hành, hàng năm
có thể gi
ảm kinh phí được 3 đến 4 tỉ VNĐ cho cả ba máy
phát 500 kW ở đài PSPT VN2. Một mức chi phí không thể
bỏ qua.

3.5. Kết luận chương 3
Nội dung chương nghiên cứu về cấu hình máy phát sóng

vùng phủ sóng và tiết kiệm kinh
phí quản lý và khai thác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status