Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của giống ngô nếp lai HN88 tại thái nguyên - Pdf 25


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––––––– NGÔ MẠNH TIẾN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN BÓN
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG
CỦA GIỐNG NGÔ NẾP LAI HN88
TẠI THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC CÂY TRỒNG Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Trung Kiên


Thái Nguyên, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Ngô Mạnh Tiến
i


Ngô Mạnh Tiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

iv
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Yêu cầu của đề tài 2
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
4.1. Ý nghĩa khoa học 2
4.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.2.1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới 3
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam 7
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc 9
1.2.4. Tình hình sản xuất ngô của tỉnh Thái Nguyên 11
1.3. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới và ở Việt Nam 12
1.3.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp trên thế giới 12
1.3.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp ở Việt Nam 13
1.4. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới và ở Việt Nam 15
1.4.1. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô trên thế giới 15
1.4.2. Tình hình nghiên cứu phân bón cho ngô ở Việt Nam 17
Chƣơng 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 47
3.2.2. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới một số đặc điểm hình thái, sinh lý của
giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 48
3.2.3. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới khả năng chống chịu của giống ngô nếp
lai HN88 tại Thái Nguyên 50
3.2.4. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 53
3.2.5. Ảnh hưởng của phân vô cơ đến chất lượng của giống ngô nếp lai HN88
tại Thái Nguyên 55
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
1. Kết luận 56
2. Đề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

vi
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

CIMMYT : Trung tâm cải tạo ngô và lúa mỳ quốc tế
CV% : Hệ số biến động
FAO : Tổ chức nông nghiệp và lương thực Liên Hiệp Quốc
IPRI : Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới
KL1000 : Khối lượng 1000 hạt
LAI : Chỉ số diện tích lá
LSD
.05
: Sự sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
M 1000 : Khối lượng 1000 hạt
NSLT : Năng suất lý thuyết

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của phân hữu cơ tới chiều dài bắp và đường kính bắp
của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 39
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của phân hữu cơ tới trạng thái cây, trạng thái bắp và độ
bao bắp của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 40
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của phân hữu cơ tới khả năng chống chịu sâu, bệnh và
khả năng chống đổ của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 41
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của phân hưu cơ tới các yếu tố cấu thành năng suất của
giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 42
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của phân hữu cơ tới năng suất bắp tươi và năng suất
thân lá của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 43
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến năng suất lý thuyết và năng suất
thực thu của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 44

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

viii
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của phân hữu cơ đến chất lượng của giống ngô nếp lai
HN88 tại Thái Nguyên 45
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới các giai đoạn sinh trưởng và phát
triển của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 46
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới chiều cao cây, chiều cao đóng bắp
của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 47
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của phân vô cơ tới số lá trên cây và chỉ số diện tích lá
của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 48
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của phân vô cơ tới chiều dài bắp và đường kính bắp
của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 49
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của phân vô cơ tới trạng thái cây, trạng thái bắp và độ
bao bắp của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 50
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phân vô cơ tới khả năng chống chịu sâu, bệnh và
khả năng chống đổ của giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên 51

1. Đặt vấn đề
Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù chỉ đứng
thứ ba về diện tích (sau lúa nước và lúa mỳ), ngô đã có năng suất và sản lượng cao
nhất trong các cây cốc (Ngô Hữu Tình, 2009) [32]. Lượng ngô sử dụng làm thức ăn
chăn nuôi chiếm (66%), nguyên liệu cho ngành công nghiệp (5%) và xuất khẩu trên
10% (Ngô Hữu Tình, 1997) [31]. Với vai trò làm lương thực cho người (17% tổng sản
lượng), ngô được sử dụng để nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu, trong đó các nước ở
Trung Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi ngô được dùng làm lương thực chính (Ngô Hữu
Tình, 2003) [34].
Ngô nếp (Zea mays L.subsp. Ceratina Kulesh) có nội nhũ chứa gần như 100%
amylopectin là dạng tinh bột có cấu trúc mạch nhánh, trong khi ngô thường chỉ chứa
75% amylopectin còn lại 25% là amylosa - dạng tinh bột có mạch không phân nhánh.
Do vậy, hạt ngô nếp cũng giàu lyzin, triptophan và protein, khi nấu chín có độ dẻo,
mùi vị thơm ngon, tinh bột của ngô nếp dễ hấp thụ hơn so với ngô tẻ.
Trong các yếu tố làm tăng năng suất cây trồng thì phân bón ảnh hưởng tới 30,7%
năng suất, thuốc bảo vệ thực vật từ 13 – 20%, thời tiết thuận lợi 15%, sử dụng giống
lai 8%, tưới tiêu 5% và các biện pháp kỹ thuật khác từ 11 – 18% (Berzenyi Z., Gyorff,
B., 1996) [3]. Hiện nay, người nông dân trong tỉnh trồng ngô nếp áp dụng các biện
pháp kỹ thuật canh tác đơn giản theo truyền thống nên năng suất và chất lượng còn
thấp, hiệu quả kinh tế không cao.
Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng đã lai tạo và nhập nội được nhiều
giống ngô nếp đáp ứng về năng suất, chất lượng. Vì vậy, việc lựa chọn các biện pháp
kỹ thuật canh tác đặc biệt là chế độ bón phân cân đối hợp lý nhằm tăng năng suất và
chất lượng ngô nếp phù hợp với điều kiện của Việt Nam nói chung cũng như tỉnh Thái
Nguyên nói riêng, từ đó góp phần tăng thu nhập cho người nông dân là nhiệm vụ
chính của các nhà khoa học.
Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của
giống ngô nếp lai HN88 tại Thái Nguyên”.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Để việc bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng xấu
tới cây trồng và môi trường chúng tac cần quan tâm tìm ra quy trình bón phân phù hợp
với đặc điểm của từng loại cây và đất trồng nó. Cơ sở của việc bón phân hợp lý cho
cây trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản như: (1) Cây
trồng cần được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết để cho năng suất
cao, phẩm chất tốt. (2) Không ngừng ổn định và tốt hơn nâng cao độ phì của đất nhằm
bảo vệ tư liệu sản xuất không thể thay thế cho người trồng trọt – cơ sở quan trọng cho
sản xuất bền vững. (3) Đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất trên cơ sở phối hợp
tốt các biện pháp kỹ thuật trồng trọt nhằm nâng cao hiệu suất phân bón để có hiệu quả
kinh tế của sản xuất cao. (4) Phù hợp với điều kiện và trình độ sản xuất hiện tại.
Để xác định được lượng phân bón hợp lý cho cây trồng, cần chú ý tới các yếu tố
như: Đặc điểm sinh lý của cây trồng về nhu cầu dinh dưỡng tổng số và mục tiêu năng
suất cần đạt; Đặc điểm đất đai về khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng;
Đặc điểm và tình hình phát triển của cây trồng trước; Đặc điểm khí hậu thời tiết vụ cây
trồng cần tính lượng phân bón.
Hiện nay, nông dân vẫn còn lạm dụng nhiều vào phân bón nhằm tăng năng suất
ngô nhưng hiệu quả mà nó mang lại chưa cao, mặt khác còn gây hậu quả như tăng
mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường, thoái hóa đất. Việc bón phân cho cây ngô
theo kinh nghiệm, bón không cân đối, bón theo khả năng kinh tế của mỗi gia đình, bón
không hiểu tác dụng của từng loại phân đã dẫn đến tình trạng không đáp ứng đủ nhu
cầu dinh dưỡng của cây, trong khi ngô lại là những cây rất phàm ăn, lượng dinh dưỡng
cây ngô hút rất lớn nhưng ở mỗi giai đoạn sinh trưởng lượng hút rất khác nhau.

883,46
2012
178,55
48,88
872,79
2013
184,24
55,17
1016,43
(Nguồn FAOSTAT, 2014) [47]
Diện tích ngô trên thế giới qua các năm có sự biến đổi rõ rệt. Diện tích không
ngừng tăng lên trong những năm trở lại đây đặc biệt là các nước khu vực châu Á. So
sánh giữa sản lượng và diện tích cho thấy, từ năm 2009 tới năm 2013 diện tích tăng
hơn 28 triệu ha, sản lượng tăng hơn 226 triệu tấn. Có được kết quả trên, trước hết là
nhờ ứng dụng rộng rãi lý thuyết ưu thế lai trong chọn tạo giống, đồng thời không
ngừng cải thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác. Đặc biệt, từ năm 1996 đến nay, cùng
với những thành tựu mới trong chọn tạo giống ngô lai nhờ kết hợp phương pháp
truyền thống với công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác
cây ngô đã góp phần đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.

Bảng 1.2. Sản xuất ngô ở một số châu lục trên thế giới năm 2013
Khu vực
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Châu Á
59,40

Châu Âu đứng thứ 2 trên thế giới về năng suất đạt 61,92 tạ/ha nhưng lại là khu
vực có diện tích trồng ngô thấp nhất (chỉ 18,97 triệu ha), châu Phi có diện tích đứng
thứ 3 trên thế giới nhưng có năng suất ngô rất thấp, chỉ đạt 20,33 tạ/ha thấp hơn gần 3
lần so với năng suất bình quân của thế giới, do đó sản lượng ngô của khu vực này
cũng thấp nhất. Nguyên nhân của sự phát triển không đồng đều giữa các châu lục trên
thế giới là do sự khác nhau rất lớn về trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện tự nhiên,
điều kiện kinh tế chính trị …
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất, sản lƣợng ngô, lúa mì, gạo lúa
của thế giới năm 2013
Loại cây trồng
Diện tích (triệu
ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
( triệu tấn)
Ngô
184,24
55,17
1016,43
Lúa mì
218,46
32,65
713,22
Gạo lúa
166,08
44,88
745,17
(Nguồn FAOSTAT, 2014)[47]
Diện tích ngô của thế giới năm 2013 đã vượt lúa gạo với 184,24 triệu ha, sản

7
1.2.2. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam
Ở Việt Nam, sản xuất lương thực luôn là một nhiệm vụ quan trọng trước mắt và lâu
dài, được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện tự nhiên
phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng trên cả nước.
Số liệu bảng 1.4 cho thấy sản xuất ngô của nước ta tăng nhanh về diện tích, năng
suất và sản lượng trong giai đoạn 2009 – 2013. Năm 2009 cả nước trồng được 1.086,8
nghìn ha, năm 2013 là 1.172,6 nghìn ha, tăng hơn 80 nghìn ha so với năm 2009. Việc
tăng cường sử dụng giống ngô lai cho năng suất cao kết hợp với các biện pháp kỹ
thuật canh tác tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học đã khiến cho năng suất ngô
liên tục tăng trong giai đoạn 2009 – 2013.
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam trong giai đoạn 2009- 2013
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ ha)
Sản lƣợng
(nghìn tần)
2009
1.086,8
40,8
4.431,8
2010
1.126,9
40,9
4.606,3
2011
1.081,0

* Tình hình sản xuất ngô ở một số vùng trong cả nước
Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy diện tích sản xuất ngô lớn nhất (505,8
nghìn ha) nhưng năng suất lại thấp nhất trong cả nước (37,6 tạ/ha). Ngược lại vùng đồng
bằng sông Cửu Long diện tích sản xuất nhỏ nhất (40,3 nghìn ha), nhưng lại cho năng
suất cao (56,1 tạ/ha) thứ 2 chỉ sau Đông Nam Bộ (57,6 tạ/ha). Sự trái ngược này có thể
được giải thích do nhiều nguyên nhân: Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tuy có diện
tích lớn song chủ yếu tập trung ở các vùng miền núi, diện tích rải rác nhỏ lẻ thuộc các
vùng dân tộc ít người. Họ không có đủ điều kiện đầu tư về vốn cũng như các biện pháp
kỹ thuật canh tác phù hợp mà chủ yếu canh tác theo lối truyền thống lạc hậu. Cộng thêm
vào đó là các điều kiện đất đai nghèo dinh dưỡng, khí hậu khắc nghiệt với hạn hán và rét
kéo dài vào mùa đông, lượng mưa phân bố không đều trong năm dẫn tới năng suất thấp.
Tuy nhiên, với ưu thế về diện tích (chiếm 43,14% diện tích của cả nước) nên sản lượng
chung của vùng vẫn cao hơn các vùng khác, đạt 1.904,2 nghìn tấn chiếm 36,67% sản
lượng của cả nước và trở thành một trong những vùng sản xuất ngô trọng điểm cung cấp
lượng ngô lớn nhất cả nước.
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất ngô ở các vùng năm 2013
Vùng
Diện tích
(nghìnha)
Năng
suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(nghìntấn)
Đồng bằng sông Hồng
88,3
46,1
406,7
Trung du và miền núi phía Bắc
505,8

kỹ thuật canh tác phù hợp đã dẫn tới sự tăng vọt năng suất trung bình của vùng. Tiếp
đến là Tây Nguyên với diện tích 252,4 nghìn ha đứng thứ 2 sau vùng trung du và miền
núi phía Bắc. Năng suất trung bình đạt 51,7 tạ/ha. Đứng thứ 3 sau vùng Đông Nam Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long. Do có diện tích và năng suất khá cao nên sản lượng ngô
năm 2013 thu được là 1306,1 nghìn tấn đứng thứ hai của cả nước.
Từ những kết quả đã đạt được chúng ta vẫn có thể khẳng định sản xuất ngô của
Việt Nam trong giai đoạn đổi mới, từ năm 1985 - 2013 đã có sự phát triển vượt bậc. Sở
dĩ chúng ta đạt được những thành quả to lớn trong phát triển sản xuất ngô là do Đảng,
Nhà nước và Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn thấy được vai trò của cây ngô
trong nền kinh tế và kịp thời đưa ra những chính sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến
khích sản xuất.
1.2.3. Tình hình sản xuất ngô vùng Đông Bắc
Vùng Đông Bắc bao gồm các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang,
Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang và Phú Thọ, là một trong các vùng
trồng ngô có diện tích lớn ở Việt Nam. Diện tích trồng ngô năm 2013 của vùng Đông
Bắc là 199,3 nghìn ha, tuy diện tích lớn nhưng phân bố rải rác, đất trồng ngô có địa
hình phức tạp, chủ yếu là đất phiêng bãi, thung lũng, thềm sông suối, độ cao so với
mặt nước biển thay đổi từ vài trăm mét (Lạng Sơn) đến hơn nghìn mét (Cao nguyên
Đồng Văn - Hà Giang). Khí hậu của vùng Đông Bắc thường khắc nghiệt, hạn và rét
kéo dài, lượng mưa không phân bố đều trong năm, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản
xuất ngô của vùng.
Mặc dù sản lượng ngô của vùng Đông Bắc chiếm tới 14,96% sản lượng ngô cả
nước nhưng mới chỉ cung cấp được cho nhu cầu ngô của vùng, sản xuất ngô hàng hóa
chưa nhiều. Phần lớn diện tích trồng ngô của vùng là trồng trên đất dốc và nhờ nước
trời, đầu tư thâm canh thấp, một số tỉnh có tỷ lệ giống ngô địa phương và giống ngô
thụ phấn tự do cao, là nguyên nhân làm cho năng suất ngô đạt thấp hơn các vùng khác.
Các giống ngô địa phương và giống thụ phấn tự do tuy năng suất thấp nhưng lại có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/



39,0

33,8

131,7

3

Bắc Kạn

16,4

40,9

67,0

4

Tuyên Quang

16,2

43,8

70,9

5

Thái Nguyên


9,3

38,8

36,1

9

Phú Thọ

18,6

45,4

84,4

Vùng Đông Bắc

199,3

40,6

776,8

Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2014 [35]
Hà Giang là tỉnh có diện tích trồng lớn nhất nhưng lại là tỉnh có năng suất ngô
trung bình thấp nhất vùng Đông Bắc, do chủ yếu diện tích ngô vẫn được trồng bằng
giống địa phương năng suất thấp và điều kiện kinh tế khó khăn, người dân không có khả
năng thâm canh, đa phần diện tích trồng trên đất dốc, không chủ động tưới tiêu nên làm

2010
17,9
42,0
75,2
2011
18,6
43,3
80,6
2012
17,9
42,2
75,5
2013
19,0
42,6
81,0
Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014 [38]
Qua số liệu bảng 1.7 cho thấy: Từ năm 2009 đến 2013, diện tích ngô của tỉnh
Thái Nguyên tăng từ 17,4 nghìn ha lên 19,0 nghìn ha. Năm 2011, năng suất ngô của
tỉnh đạt cao nhất từ trước đến nay, và giảm nhẹ ở những năm sau, cụ thể năm 2013 còn
42,6 tạ/ha. Nguyên nhân do thời tiết khí hậu những năm trở lại đây có nhiều thay đổi
nhiều giống ngô chưa kịp thích ứng nên năng suất giảm nhẹ. Năm 2013 đạt 81,0 tạ/ha
(Tổng cục thống kê, 2014) [38].
Ngoài việc thâm canh ngô lai ở những vùng thuận lợi, cần tăng cường sử dụng
các giống ngô thụ phấn tự do cải tiến ở những vùng khó khăn, nhằm tăng năng suất,
sản lượng và chất lượng ngô, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo
cho nông dân. Đặc biệt phải tiến hành nghiên cứu khả năng thích ứng của các giống
ngô nhập nội và mở rộng các giống mới ra sản xuất nhằm đảm bảo nhu cầu lương
thực, đồng thời nâng cao được chất lượng lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số
vùng cao và góp phần giảm giá thành sản phẩm ngành chăn nuôi, nâng cao hiệu quả

suất của ngô có hàm lượng amyloza cao biến động tùy thuộc vào đất trồng, nhưng trung
bình cũng đạt từ 65- 75% so với ngô tẻ bình thường (Thompson Peter, 2005) [64]. Ngô
nếp có thể cho năng suất thấp hơn ở điều kiện thời tiết bất thuận. Theo thông báo của
trường Đại học Illinois, gần đây đã có một số giống nếp lai điển hình cho năng suất cao
hơn những giống ngô lai thông thường (College of AgricuIture of Illinois, 2003) [45].
Ngô nếp được sử dụng làm lương thực và thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Khi
nấu chín có độ dẻo, mùi vị thơm ngon. Nó có giá trị dinh dưỡng cao, bởi tinh bột của nó
có cấu trúc đặc biệt, dễ hấp thu hơn so với tinh bột của ngô tẻ. Có khá nhiều báo cáo về
những kết quả đạt được trong chăn nuôi cho cả động vật thường và động vật nhai lại
(Fergason, 1994) [48]. Một số thử nghiệm ở Mỹ đã chỉ ra rằng, bò đực non lớn nhanh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

13
hơn khi được nuôi bằng ngô nếp (US.Grains Council, 2001) [69]. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến hiệu quả trên là do trong ngô nếp có hàn lượng các axitamin
không thay thế như lyzin và tryptophan cao (Grawood, 1972) [49]
1.3.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng ngô nếp ở Việt Nam
Ở Việt Nam Ngô nếp tuy đã được sử dụng nhiều nhưng tình hình nghiên cứu về
ngô vẫn tập chung chủ yếu vào ngô tẻ. Còn ngô nếp đến nay chỉ có một công trình được
công bố.
Theo các nghiên cứu phân loại ngô địa phương ở Việt Nam từ những năm 1960
cho thấy, ngô Việt Nam tập trung chủ yếu vào 2 loại phụ chính là đá rắn và nếp (Ngô
Hữu Tình, 1997) [31]. Ngô nếp được phân bố ở khắp các vùng, miền trong cả nước, với
nhiều dạng mày hạt khác nhau: Trắng, vàng, tím, nâu, đỏ… Hiện nay ở Viện nghiên cứu
Ngô, đã thu thập và lưu trữ 148 mẫu ngô nếp địa phương, trong đó có: 111 nguồn nếp
trắng, 15 nguồn nếp vàng và 22 nguồn nếp tím, nâu đỏ. Diện tích trồng ngô nếp không
ngừng tăng nhanh trong thời gian qua, đặc biệt là ở vùng đồng bằng ven đô thị. Thời
gian sinh trưởng ngắn, đầu ra ổn định, hiệu quả kinh tế cao nên diện tích trồng ngô nếp
gần đây tăng nhanh không ngừng, hiện chiếm khoảng 12 - 15% trong tổng số 1,1 triệu

ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng vụ Xuân 100- 105 ngày, vụ hè Thu 80-85 ngày,
năng suất bình quân đạt 30 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 40 tạ/ha. Ngô nếp VN2 cũng
là giống có chất lượng dinh dưỡng cao. Qua phân tích 43 giống ngô, trong đó có 24
giống ngô nếp tại Viện Công nghệ sau thu hoạch cho thấy, VN2 có hàm lượng protein
rất cao, trên 10%, đặc biệt là hàm lượng lyzin đến 4,86%, chỉ đứng sau 2 giống opaque
là sữa Dĩ An và sữa Phát Ngân (Phan Xuân Hào, 1997) [10].
Các tác giả Nguyễn Hữu Đồng, Phan Đức Trực, Nguyễn Văn Cương và cộng sự ở
Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam và Ngô Hữu Tình cùng cộng sự ở Viện Nghiên
cứu ngô đã nghiên cứu gây tạo đột biến bằng tia gamma kết hợp xử lý Diethylsulphat ở
ngô nếp đã thu được một số dòng biến dị có các đặc tính nông học quý so với giống ban
đầu (Nguyễn Hữu Đồng và cs, 1997) [9].
Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Vui và Trần Trung Kiên, 2014 [19] về thời vụ đối
với giống ngô nếp HN88, trên đất một vụ lúa tại phường Gia Sàng, TP. Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên. Thí nghiệm với 5 thời vụ, thời vụ 1 (gieo ngày 9/2), thời vụ 2 (gieo
ngày 19/2), thời vụ 3 (gieo ngày 1/3) thời vụ 4 (gieo ngày 11/3), thời vụ 5 (gieo ngày
21/3). Kết quả thí nghiệm cho thấy: Gieo càng sớm thời gian sinh trưởng càng dài, dao
động từ 90- 99 ngày. Các thời vụ khác nhau đều không ảnh hưởng đến chiều cao cây,
chiều cao đóng bắp của giống HN88, số lá, chỉ số diện tích lá của các thời vụ sớm cao
hơn thời vụ muộn. Thời vụ 1, thời vụ 3 và 5 có khả năng chống đổ tốt. Giống bị nhiễm
nhẹ sâu bệnh qua các thời vụ. Năng suất bắp tươi của giống ngô nếp HN88 qua các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/

15
thời vụ biến động từ 85,71 - 135,7 tạ/ha, thời vụ gieo ngày 19/2 có năng suất cao nhất
(135,7 tạ/ha), thời vụ gieo ngày 21/3 có năng suất bắp tươi thấp nhất (85,7 tạ/ha).
Năng suất thân lá giảm qua các thời vụ trồng muộn. Thời vụ gieo ngày 9/2 có năng
suất thân lá lớn nhất (33,44 tạ/ha), thời vụ gieo ngày 21/3 có năng suất thân lá là thấp
nhất (21,47 tạ/ha).
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ khoảng cách đến sinh trưởng phát

nhiều nguyên tố bị thiếu htuj làm cho năng suất ngô bị giảm. Muốn trồng ngô đạt năng
suất cao cần thường xuyên cung cấp, bổ xung các chất dinh dưỡng chính cho ngô.
- Nhóm nguyên tố vi lượng (Sắt, Molipđen, Bo, Kẽm, Mangan) đây là các chất
được cây ngô hút với lượng rất ít nhưng đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây
ngô vì các yếu tố vi lượng tham gia vào thành phần các enzim, các chất có hoạt tính
sinh lý cao, đóng vai trò điều tiết quá trình sống của cây. Các yếu tố vi lượng được hút
từ đất còn rất ít, tuy nhiên ở những ruộng ngô thâm canh cao, trồng ngô liên tục nhiều
năm có thể dẫn đến thiếu hụt một số chất,nên bổ sung các nguyên tố vi lượng hoặc
thông qua các chế phẩm dinh dưỡng có sẵn ngoài thị trường.
Cây ngô là có tiềm năng năng suất lớn, trong các biện pháp thâm canh tăng năng
suất ngô thì phân bón đóng vai trò quan trọng. Theo Berzennyi và cộng sự năm 1961
thì phân bón ảnh hưởng đến 30,7% năng suất ngô. Còn lại các yếu tố khác như: Mật
độ, phòng trừ cỏ dại, đất trồng…Nguồn cung cấp chủ yếu cho cây là đất trồng trọt,
theo các nhà nghiên cứu của viện Lân, kali - Alanta (Mỹ) cho biết: Để tạo ra 10 tấn
ngô hạt trên 1ha, cây ngô lấy đi của đất một lượng dinh dưỡng rất lớn: 197N + 80P
2
0
5

+ 208 K
2
0.
Theo Chudry G.A cộng sự (Chudry GA) đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng
nhất của cây ngô. Nó tham gia vào thành phần cấu tạo của tất cả các axit amin, các
axit nucleic, là chất giữ vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp protein và trao đổi
các chất trong cơ thể. Đạm thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, nâng cao
hàm lượng protein trong sản phẩm.
Routchenko đã chứng minh rằng: trong mùa xuân lạnh và ẩm trên đất chua quá
trình nitrat hóa xảy ra yếu, ngô thường bị vàng cây và chết non. Hiện tượng ức chế này
xảy ra là do cây đã hút quá nhiều NH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status