Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN THỊ THẢO NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ
VI SINH SÔNG GIANH KẾT HỢP VỚI PHÂN CHUỒNG ĐẾN
NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG CỦA LÚA NẾP TRÊN ĐẤT
PHÙ SA CỔ Ở HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH
L
L
U
U
Ậ
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
Mã số: 60 62 01
L
L
U
U
Ậ
Ậ
N
NV
V
Ă
Ă
N
NT
T
H
H
Ạ
Ạ
C
N
Ô
Ô
N
N
G
GN
N
G
G
H
H
I
I
Ệ
Ệ
P
P
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Đặng Văn Minh đã
tận tình hƣớng dẫn và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành công trình
nghiên cứu này.
Tôi xin cảm ơn Khoa Sau Đại học - Trƣờng ĐHNL Thái Nguyên đã
giúp đỡ rất nhiều cho việc hoàn thành báo cáo này.
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo xã Phú Lâm huyện Tiên Du tỉnh Bắc
Ninh, gia đình anh Khôi ở xã Phú Lâm huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh đã tạo
điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những bạn bè đồng nghiệp, ngƣời
thân và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thiện
luận văn này.
Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong
nhận đƣợc những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân
trọng cảm ơn.
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 10 năm 2010
Tác giả luận văn TRẦN THỊ THẢO
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv
3.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU 44
3.2.1. Địa điểm 44
3.2.2. Thời gian tiến hành 44
3.3. NỘI DUNG PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
3.3.1. Nội dung nghiên cứu 45
3.3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 45
3.3.3. Các chỉ tiêu và phƣơng pháp theo dõi 47
3.3.4. Phƣơng pháp xử lý kết quả nghiên cứu 54
Phần IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
4.1. DIỄN BIẾN THỜI TIẾT VÀ KHÍ HẬU TRONG THỜI GIAN LÀM THÍ
NGHIỆM TẠI TỈNH BẮC NINH 55
4.1.1. Về nhiệt độ 56
4.1.2. Về ẩm độ 57
4.1.3. Lƣợng mƣa 58
4.2. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ PHÂN
CHUỒNG ĐẾN THỜI GIAN SINH TRƢỞNG 58
4.3. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ
PHÂN CHUỒNG ĐẾN CHIỀU CAO CÂY LÚA QUA CÁC GIAI
ĐOẠN SINH TRƢỞNG 62
4.4. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ
PHÂN CHUỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG ĐẺ NHÁNH 64
4.5. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ
PHÂN CHUỒNG ĐẾN CHỈ SỐ DIỆN TÍCH LÁ 67
4.6. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ
PHÂN CHUỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG TÍCH LUỸ VẬT CHẤT KHÔ 70
4.7. ẢNH HƢỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ VI SINH SÔNG GIANH VÀ
PHÂN CHUỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU SÂU BỆNH VÀ
KHẢ NĂNG CHỐNG ĐỔ 74
* : Độ tin cậy 95%
CNVSV : Công nghệ vi sinh vật
VSV : Vi sinh vật Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Diễn biến sản xuất lúa trên thế giới (1970 và giai đoạn từ 2000-2007) 6
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa của Việt Nam (1987 - 2007) 10
Bảng 2.3: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 23
Bảng 2.4. Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Ấn Độ 32
Bảng 2.5. Hiệu quả sử dụng phân vi sinh vật ở Trung Quốc 33
Bảng 2.6. Sản xuất phân bón vi sinh vật ở Thái Lan 33
Bảng 2.7. Các loại phân vi sinh vật ở Ấn Độ 34
Bảng 2.8. Tình hình sản xuất phân bón vi sinh vật của Trung Quốc 34
Bảng 2.9. Hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với lúa ở một số quốc gia 35
Hình 4.1: Biểu đồ năng suất thực thu vụ mùa 2008 và vụ xuân 2009 84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Lúa có tên khoa học là Oryza sativa L, là một trong những cây
lƣơng thực chủ yếu và quan trọng có ảnh hƣởng tới đời sống ít nhất 65% số
dân trên thế giới. Ở Việt Nam, lúa vừa đảm bảo lƣơng thực cho hầu hết dân số
vừa đóng góp vào việc đƣa nƣớc ta trở thành một quốc gia xuất khẩu gạo
đứng thứ 2 thế giới.
Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc ở nƣớc ta thì hiệu quả sản xuất lúa
vẫn còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chú ý nhiều đến năng suất
mà chƣa chú trọng đến chất lƣợng. Trong xã hội ngày càng phát triển đời
sống của ngƣời dân ngày càng đƣợc nâng cao, nhu cầu sử dụng các loại gạo
có chất lƣợng cao ngày càng tăng nhất là ở khu vực đô thị. Do đó nhiều địa
phƣơng đã đƣa các giống lúa thơm, lúa nếp mới có năng suất và chất lƣợng
cao nhằm đáp ứng một phần nhu cầu của ngƣời tiêu dùng lúa gạo.
Những năm gần đây xu hƣớng xây dựng nền nông nghiệp bền vững
nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng cây trồng nhƣng vẫn giữ đƣợc độ phì
nhiêu của đất thông qua phát triển nông nghiệp hữu cơ đƣợc coi là một biện
pháp quan trọng trong quá trình hình thành nhanh các cân bằng sinh học dựa
trên cơ sở sử dụng cân đối giữa phân vô cơ, phân hữu cơ và phân bón vi sinh
vật. Phân hữu cơ vi sinh đã và đang góp phần tích cực vào việc xây dựng nền
nông nghiệp hữu cơ bền vững.
Bắc Ninh là tỉnh thuộc đồng bằng Sông Hồng. Trong sản xuất nông
nghiệp lúa vẫn là cây trồng chính với 2 vụ là lúa xuân và lúa mùa. Đất trồng
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp một cách đầy đủ và hệ thống mối quan
hệ giữa cây lúa với các yếu tố đất đai, phân bón. Trên cơ sở đó xây dựng qui
trình bón phân hợp lý cho lúa nếp nhằm đạt năng suất, chất lƣợng, hiệu quả
kinh tế cao và bảo vệ môi trƣờng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lƣợng
lúa nếp, tăng thu nhập cho hộ nông dân trồng lúa góp phần vào việc xây dựng
và thực hiện định hƣớng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Ninh 2005-
2010 trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hƣớng sản xuất
hàng hóa có giá trị kinh tế cao và bảo vệ môi trƣờng.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Về khoa học: kết quả của đề tài góp phần vào cơ sở lý luận sử dụng
phân bón hữu cơ vi sinh Sông Gianh trên đất phù sa cổ ở huyện Tiên Du tỉnh
Bắc Ninh.
- Về thực tiễn: kết quả nghiên cứu của đề tài có tác dụng nhân rộng
diện tích bón phân hữu cơ vi sinh cho cây lúa.
Việc bón phân hữu cơ vi sinh có tác dụng cải tạo đất trồng, giảm ô
nhiễm môi trƣờng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
đƣợc một phần chi phí ngoại tệ nhập khẩu phân hóa học.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Trong sản xuất hiện nông nghiệp hiện nay đều thiếu phân bón hữu cơ
trầm trọng. Trong canh tác truyền thống phân chuồng là giải pháp chủ yếu của
sản xuất nông nghiệp tuy nhiên hiện nay lƣợng phân chuồng trong chăn nuôi
hiện có trong các nông hộ không thể đáp ứng hết cho sự mở rộng diện tích
trồng và thâm canh trong sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình thâm canh lúa nƣớc với sự có mặt tràn lan, mất cân đối
của phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật đã làm cho chất lƣợng nông sản
giảm. Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu sản xuất phân hữu
cơ vi sinh từ rác thải đã đạt đƣợc những thành công bƣớc đầu, một số sản
phẩm phân bón hữu cơ vi sinh chế biến từ rác thải đã có mặt trên thị trƣờng
làm phong phú thêm nguồn cung cấp chất hữu cơ cho cây trồng.
Vì vậy, việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh kết hợp với phân chuồng đối
với lúa nếp là biện pháp có hiệu quả nhất hiện nay để bổ sung chất hữu cơ cho
đất, cải tạo và bồi dƣỡng đất, tiến tới nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Giảm
thiểu ô nhiễm môi trƣờng, đảm bảo cho việc sản xuất đƣợc bền vững trên đất
trồng lúa vùng đồng bằng sông Hồng.
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, NGHIÊN CỨU LÚA TRONG NƢỚC VÀ
TRÊN THẾ GIỚI
2.2.1. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa trên thế giới
2.2.1.1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu gạo trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, cho năng suất cao. Hiện nay
trên thế giới có khoảng trên 100 nƣớc trồng lúa. Theo thống kê của Viện
Nghiên cứu lúa quốc tế, cho đến nay lúa vẫn là cây lƣơng thực đƣợc con
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
ngƣời sản xuất và tiêu thụ nhiều nhất. Để đáp ứng kịp thời tốc độ tăng trƣởng
37,9
587
2004
150,6
40,0
595,8
2005
152,6
41,0
622,1
2006
153,0
41,0
622,2
2007
153,7
41,0
626,7
(Nguồn: FAOSTAT, USDA, 2008)
2.2.1.2. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
Cùng với sự phát triển của loài ngƣời, nghề trồng lúa đƣợc hình thành
và phát triển. Trình độ thâm canh cây lúa của nông dân ngày một nâng cao.
Các giống lúa địa phƣơng không ƣa thâm canh, khả năng chống chịu kém,
năng suất thấp. Vì thế việc tạo ra các giống lúa có năng suất cao, ƣa thâm
canh thích nghi với điều kiện sinh thái từng vùng là vấn đề hết sức cần thiết.
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trải qua hơn 40 năm tồn tại và phát triển
đã lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt trồng phổ biến trên thế giới. Các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
nghiên cứu cao lƣơng, bằng phƣơng pháp lai xa giữa hai giống Nam Phi và
Bắc Phi, tháng 11/1970 Lý Tất Hồ - Cộng tác với Viên Long Bình thu đƣợc
cây bất dục đực trong loài lúa dại: (O.rufipogon Grif hoặc O. sativa
F.stontaneu) ở đảo Hải Nam. Năm 1972 từ dòng bất dục đực sắn có đã tạo ra
đƣợc một số dòng bất dục khác nhƣ: Nhị cửu nam số 1, Nhị cửu lùn số 4,
Trân sán 97.71 - 72, V20, V41… [21].
Năm 1973 cùng với các nhà chọn giống khác họ đã tìm ra những dòng
phục hồi nhƣ: IR661, Thái dân số 1, IR24… Nhƣ vậy sau khi đã tìm đủ 3 dòng
họ đã tạo ra giống lúa ƣu thế lai đầu tiên nhƣ: Nam ƣu số 2, Sán ƣu số 2… [21].
Năm 1974 các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai
có ƣu thế lai cao, đồng thời quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ “3 dòng”
đƣợc hoàn thiện và đƣa vào sản xuất năm 1975, đánh dấu một bƣớc ngoặt to
lớn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ở Trung Quốc nói riêng và trên toàn
thế giới nói chung [21].
Năm 1996, Trung Quốc lại thành công với quy trình sản xuất lúa lai “2
dòng" sau khi các nhà nghiên cứu tìm đƣợc dòng bất dục di truyền nhân, mẫm
cảm với môi trƣờng, góp phần làm giảm giá thành sản xuất hạt lai F1 [21].
Hiện nay Trung Quốc đã nghiên cứu thành công giống lúa “2 dòng”
cho năng suất cao hơn lúa lai “3 dòng” khoảng 20% và đang nghiên cứu
giống lúa lai “1 dòng”. Sau những thành công của Trung Quốc, IRRI và một
số quốc gia khác trên thế giới đã bắt tay vào nghiên cứu, phát triển lúa lai và
đã thu đƣợc những thành công đáng kể. Ngoài ra còn các nƣớc khác nhƣ Ấn
Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam đã áp dụng công nghệ sản
xuất lúa lai vào sản xuất nông nghiệp [21].
Ở Ấn Độ, công tác chọn giống lúa lai bắt đầu từ năm 1911. Ngay từ khi
bắt đầu tiến hành, ngƣời ta đã chú ý đến vấn đề nâng cao năng suất. Ở Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
sản xuất tiên tiến nên họ đã dám mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản
xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ƣu thế lai, các giống lúa chất
lƣợng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu , kết hợp với đầu tƣ thâm canh cao hợp
lý. Nhờ vậy, ngành trồng lúa nƣớc ta đã có bƣớc nhảy vọt về năng suất, sản
lƣợng và giá trị kinh tế. Năm 1996, nƣớc ta xuất khẩu đƣợc 3,2 triệu tấn
lƣơng thực; năm 1999 nƣớc ta vƣơn lên đứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất
khẩu gạo. Năm 2002 tổng sản lƣợng lƣơng thực đạt 36,4 triệu tấn, trong đó
lúa chiếm 70%. Tuy nhiên, con số này bị chững lại vào năm 2003 giảm xuống
còn 34,5 triệu tấn. Điều này đang đặt ra những yêu cầu mới trong nông
nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, xu hƣớng đô thị hoá, công nghiệp hoá nói
chung và diện tích đất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp. Vì vậy, vấn
đề cấp thiết đặt ra ở đây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lƣợng
lúa, nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu lƣơng thực cho ngƣời dân và cho xuất khẩu.
Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng lúa của Việt Nam (1987 - 2007)
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
1987
5,60
2,69
15,10
2000
7,66
4,24
29,14
2001
7,49
11
Qua bảng 2.2 cho thấy hai mƣơi năm qua (1987 - 2007) diện tích lúa
của nƣớc ta tăng từ 5,6 triệu ha năm 1987 lên 7,66 triệu ha năm 2000. Năng
suất lúa từ 2,69 tấn/ha năm 1987 tăng lên 4,24 tấn/ha năm 2000.
Giai đoạn 2000 - 2007 diện tích trồng lúa nƣớc ta giảm từ 7,66 triệu ha
năm 2000 xuống còn 7,30 triệu ha năm 2007, giảm 0,36 triệu ha. Năm 2000
năng suất là 4,24 tấn/ha thì đến năm 2007 đạt 4,86 tấn/ha tăng 14,6%. Sản
lƣợng năm 2000 là 29,14 triệu tấn đến năm 2007 là 35,56 triệu tấn tăng 6,42
triệu tấn tƣơng đƣơng 22,03%. Thông qua bảng tình hình sản xuất lúa Việt
Nam ta thấy giai đoạn 2000 - 2007 diện tích trồng lúa của nƣớc ta giảm và
dần ổn định, năng suất và sản lƣợng thì ngày càng tăng cao.
Những thành tựu trên là kết quả của việc chọn tạo các giống lúa mới có
năng suất cao, ngắn ngày, kháng sâu bệnh, chất lƣợng tốt và áp dụng các biện
pháp thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với vùng sinh thái.
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất lúa ở Việt Nam
Trƣớc năm 1954, với đức tính cần cù sáng tạo, dân tộc Việt Nam đã
đúc kết đƣợc nhiều kinh nghiệm sản xuất và đã sử dụng các giống lúa địa
phƣơng, tuy năng suất không cao nhƣng có chất lƣợng tốt, chống chịu giỏi với
các điều kiện bất lợi của môi trƣờng và sâu bệnh hại. Nhiều giống lúa đƣợc
ông cha ta truyền lại đời này qua đời khác, đó là các giống: Chiêm Tép,
Chiêm Sài Đƣờng, Chiêm Cút…, các giống trồng trong vụ mùa nhƣ lúa Di,
lúa Tám Xoan, lúa Dự…[21].
Công tác nghiên cứu và chọn tại các giống lúa lai ở Việt Nam cũng
đƣợc thúc đẩy mạnh mẽ, tập trung vào việc thu thập, đánh giá các dòng bất
dục đực nhập nội, sử dụng các phƣơng pháp chọn giống truyền thống nhƣ lai
hữu tính, đột biến để tạo ra các dòng bố mẹ mới. Các kết quả nghiên cứu đã
xác định đƣợc các vật liệu bố mẹ tốt, thích ứng với điều kiện sinh thái miền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Phƣơng pháp tiến hành là lai chuyển các gen cảm ứng với độ dài ngày với
giống lúa có nguồn gốc xuất xứ xa với vùng phát sinh của giống khởi đầu để
tìm kiểu phản ứng với pha sáng ngắn hơn. Cơ sở của phƣơng pháp này là tính
cảm ứng với quang chu kỳ có thể biến đổi khi tồn tại ở các môi trƣờng khác
nhau, tức là khi chuyển gen pms từ một giống có mức cảm ứng nhất định sang
một giống khác thì gen pms có thể biểu hiện phản ứng khác. Trong môi
trƣờng mới này, độ dài pha sáng ảnh hƣởng đến chức năng hoạt động của gen
có thể thay đổi theo. Thực tế ở Việt Nam, các nhà chọn giống lúa lai đã chọn
lọc thành công dòng PGMS mới P5S bằng phƣơng pháp lai dòng T1S-96 và
Peiai64S. Dòng này có phấn hữu dục khi độ dài ngày ngắn hơn hoặc bằng
12h20
/
, bất dục hoàn toàn khi độ dài ngày từ 12h30
/
trở lên. Thời kỳ cảm ứng
vào bƣớc 5 của phân hoá đòng. Dòng P5S có thể sử dụng làm mẹ để sản xuất
hạt lai nếu hỗ vào đầu đến trung tuần tháng 5 ở miền Bắc. Nhân dòng trong
vụ xuân cho trỗ trƣớc 12/4 [33].
Nhƣ vậy, số lƣợng dòng TGMS thực sự đƣợc ứng dụng để phát triển
các tổ hợp lúa lai hai dòng phục vụ sản xuất ở nƣớc ta còn rất ít, một số dòng
còn có hạn chế về khả năng kết hợp, khả năng cho con lai có ƣu thế lai cao về
năng suất, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
Ngoài ra, nguồn vật liệu dòng phục hồi phục vụ cho công tác chọn tạo
lúa lai hai dòng cũng chƣa thực sự đa dạng, phong phú. Chúng ta cũng chƣa
có các dòng phục hồi có khả năng kết hợp cao, chống chịu sâu bệnh tốt, có thể
sử dụng để chọn tạo nhiều tổ hợp lai có ƣu thế lai cao về năng suất.
Theo Nguyễn Trí Hoàn (2003), Để công tác chọn tạo lúa lai hai dòng ở
cao, tăng mức thu nhập cho ngƣời lao động khu vực nông thôn. Nhiều loại
giống HT1, VT1, N46, DT28, QNT1, ĐV8, nếp 9603… Hàng năm đã đƣợc
đƣa vào gieo cấy, mở rộng trên diện tích gần 1000 ha cho năng suất trung bình
mỗi vụ từ 56 tạ đến 60 tạ/ha/vụ, cao hơn hẳn so với nhiều loại giống đƣợc sử
dụng thâm canh nhiều năm trƣớc đây. Có thêm nhiều giống mới, bà con nông
dân ở các hợp tác xã trên địa bàn 8 huyện, thành phố đã từng bƣớc xây dựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
đƣợc trên 100 vùng sản xuất lúa hàng hoá với quy mô hàng trăm ha/vụ, đem lại
hiệu quả kinh tế cao, gấp 1,5 đến 2 lần gieo cấy các giống lúa thƣờng. Nhờ đó,
tuy mỗi năm tỉnh Bắc Ninh đã chuyển gần 1000 ha đất nông nghiệp sang xây
dựng, phát triển các khu cụm công nghiệp nhƣng sản lƣợng thóc vẫn tăng từ
4% đến 5% (đạt mức trung bình mỗi năm gần 460.000 tấn) đảm bảo tốt an ninh
lƣơng thực, ngoài ra còn dƣ hàng vạn tấn cung ứng cho xuất khẩu nội địa
(xttm.agroviet.gov.vn)[1].
2.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG CÁC LOẠI PHÂN BÓN Ở VIỆT
NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọng
trong việc tăng năng suất. Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử
dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ. Đặc biệt trong
những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai đƣợc đƣa vào sử dụng, có khả
năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng
tăng năng suất lúa. Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dƣỡng quan trọng
nhất, nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất. Với lúa lai, vai trò
của phân bón kali cũng có vai trò quan trọng tƣơng đƣơng với đạm.
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), hàm lƣợng đạm trong cây và sự tích luỹ
đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều
lƣợng đạm bón. Nhƣng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh,