đánh giá quy trình và nội dung cuộc thanh tra của thanh tra bộ lao động - thương binh và xã hội tại trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh nam định - Pdf 25

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

TIỂU LUẬN
MÔN HỌC : THANH TRA, KIỂM TRA, GIÁM SÁT TRONG
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Đề tài :
Đánh giá quy trình và nội dung cuộc thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động
Xã hội tỉnh Nam Định
Giảng viên : Phó giáo sư, Tiến sỹ Lê Thiên Hương
Trưởng khoa Nhà nước và Pháp luật - Học viện Hành chính
Người thực hiện : Vũ Ngọc Sang
Lớp : Cao học Quản lý công - K17C
Nam Định, tháng 9/2012
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
2
MỤC LỤC
TT Nội dung Trang
Lời mở đầu
2
Nội dung chính
Chương 1: Tổng quan về công tác Thanh tra, kiểm tra giám sát
trong quản lý hành chính nhà nước
3
1.1
Sự cần thiết phải giám sát, kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động hành
chính
3
1.2

23
Kết luận
24
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Thời gian qua, việc tổ chức thanh tra còn nhiều vấn đề hạn chế và bất cập, một số
cuộc thanh tra còn chưa cụ thể rõ ràng, thiếu tính thuyết phục đối với đối tượng thanh tra
dẫn đến việc thực hiện chưa nghiêm túc, hiệu quả. Vì vậy việc tổ chức thanh tra đúng
quy trình, quy định sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hơn với công tác thanh tra, kiểm tra.
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản của công tác thanh tra, kiểm tra
tổ chức nghiên cứu, đánh giá nội dung quy trình cuộc thanh tra, kiểm tra của của Thanh
tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao
động Xã hội tỉnh Nam Định.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, chuyên đề sử dụng tổng hợp
các phương pháp phân tích với khái quát hoá, kết hợp lý luận với so sánh thực tế từ nội
dung quy trình cuộc thanh tra, kiểm tra của của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam Định.
4. Kết cấu của chuyên đề
- Gồm có phần Mở đầu, Nội dung và Kết luận;
- Phần nội dung chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công tác Thanh tra, kiểm tra giám sát trong quản lý hành
chính nhà nước.
Chương 2: Quy trình và nội dung cuộc thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam
Định.
Chương 3: Đánh giá, phân tích và so sánh nội dung cuộc thanh tra của Thanh tra
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động
Xã hội tỉnh Nam Định với những kiến thức cơ bản đã được tiếp thu sau môn học.

giám sát, kiểm tra và thanh tra để bảo đảm sự duy trì cân bằng về quyền lực giữa các cơ quan
thực thi quyền lực, chống lạm quyền.
Như vậy có nghĩa là, ở đâu có quyền lực nhà nước thì ở đó cần có giám sát, kiểm tra và
thanh tra. Cho nên, để đạt được mục tiêu mà quyền lực nhà nước đặt ra thì nhất thiết phải duy trì
giám sát, kiểm tra, thanh tra và thực hiện hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra có hiệu quả.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại kiểm soát quyền lực nhà nước
a. Khái niệm về kiểm soát quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước được hiểu là sức mạnh hay khả năng của nhà nước có thể bắt các
chủ thể khác trong xã hội phải phục tùng. Quyền lực nhà nước trên thực tế được thực hiện bởi
các cơ quan trong bộ máy nhà nước mà cụ thể là bởi những con người làm việc trong bộ máy
đó. Nhưng đam mê quyền lực vốn là thuộc tính của con người. Quyền lực - một khi đã thuộc về
người nào đó thì họ luôn muốn níu giữ và cố gắng bằng mọi cách để củng cố và gia tăng quyền
lực khi có cơ hội, từ đó dẫn đến dễ lạm quyền, dễ vụ lợi và vi phạm khi có điều kiện. Và một khi
điều đó xảy ra (và rất dễ xảy ra) thì nó sẽ gây nguy hại đến quyền tự do công dân cũng như lợi
ích của xã hội. Vì thế, muốn bảo vệ quyền tự do của công dân và lợi ích xã hội thì cần phải có
một cơ chế để kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước, kiềm chế sự lạm quyền của nhân
viên và cơ quan nhà nước.
Từ sự phân tích trên đây, có thể hiểu: Kiểm soát quyền lực nhà nước là tổng hợp các
hình thức và các biện pháp do luật định để đảm bảo cho hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
3
nước có thẩm quyền trong việc giám sát, kiểm tra, thanh tra quá trình thực thi chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của bộ máy công quyền cũng như hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công
chức trong bộ máy nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước.
b. Đặc điểm của kiểm soát quyền lực nhà nước
- Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm các hình thức và biện pháp do pháp luật qui định;
- Hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan giám sát,
kiểm tra, thanh tra) phải được tổ chức phù hợp với ba nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành
pháp, tư pháp) nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học và đồng bộ trong quá trình thực hiện

quá trình xã hội cũng như hành vi của cá nhân, tổ chức, nhằm tạo lập và duy trì trật tự quản lý
cần thiết cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Nói một cách ngắn gọn, chức năng của
nền hành chính là quản lý công vụ quốc gia.
Xã hội loài người từ khi có nhà nước, dù ở giai đoạn phát triển nào chăng nữa thì cũng
cần phải được kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước, của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
và các cá nhân cụ thể, trong đó đặc biệt là hoạt động của bộ máy hành chính, thông qua các cơ
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
4
quan giám sát, kiểm tra, thanh tra chuyên môn lẫn toàn bộ hệ thống tổ chức xã hội. Thông qua
giám sát, kiểm tra, thanh tra nhằm thu nhận thông tin về các quá trình, hiện tượng diễn ra trong
xã hội, về các cấu thành cụ thể của xã hội với các mục đích đã được dự tính, về các hành vi của
công dân đối chiếu với các qui định pháp luật…, từ đó có những quyết sách phù hợp.
Trong hệ thống quản lý nhà nước, kiểm soát hành chính đóng vai trò rất to lớn.
Hoạt động kiểm soát của các cơ quan nhà nước theo nghĩa đầy đủ là hoạt động theo dõi,
kiểm tra, xem xét, đánh giá hoạt động của một tổ chức hoặc các cá nhân xem có đúng với những
điều đã được pháp luật qui định không, trong đó Hiến pháp được coi là chuẩn mực cao nhất, có
tính chất nền tảng. Mọi hình thức kiểm soát, xét đến cùng đều là hoạt động thực hiện quyền lực
nhà nước, nhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
Ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước. Khác với các nhà
nước tư sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập quyền, mọi
quyền lực nhà nước đều tập trung vào Quốc Hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc
Hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề cơ bản về đối
nội và đối ngoại…; Quốc Hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ
máy nhà nước. Để thực hiện quyền giám sát, một mặt Quốc Hội tự mình thực hiện, mặt khác
giao cho các cơ quan nhà nước khác thực hiện. Thông qua giám sát nhằm mục đích kiểm soát
việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức và
mọi công dân.
Như vậy, vai trò của kiểm soát hành chính đối với quyền lực nhà nước được thể hiện ở
những điểm sau đây:

chức và thực hiện quyền lực nhà nước.
Thứ năm, tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Thứ sáu, đảm bảo sự thống nhất nội tại, tính hệ thống của cơ chế kiểm soát đối với việc
tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trên cơ sở đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với quá
trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, đồng thời kiểm soát được việc tổ chức, thực hiện
quyền lực nhà nước thông qua các kênh khác nhau, bao gồm:
- Hệ thống (cơ chế) kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước, gồm có: sự giám sát, kiểm
tra, thanh tra lẫn nhau giữa các cơ quan, các bộ phận của toàn thể bộ máy nhà nước và tự kiểm
tra của từng bộ phận, từng cơ quan trong bộ máy đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của
chính các cơ quan, bộ phận đó.
- Hệ thống (cơ chế) kiểm soát bên ngoài bộ máy nhà nước bao gồm: kiểm tra của Đảng;
kiểm tra, giám sát của xã hội.
1.2.2. Các phương thức kiểm soát đối với hoạt động hành chính
Kiểm soát đối với hoạt động hành chính là loại hoạt động đặc biệt thuộc chức năng của
nhà nước và xã hội nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính hợp lý trong quản lý hành chính nhà
nước. Hoạt động này bao gồm tổng thể các phương thức tổ chức – pháp lý bao gồm hoạt động
giám sát, kiểm tra, thanh tra do các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân tiến hành
nhằm thiết lập trật tự trong quản lý, bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích xã hội cũng như quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động giám sát, kiểm tra thanh tra có nội dung, tính chất, đối
tượng tác động cũng như thủ tục tiến hành khác nhau. Mỗi loại hoạt động có vai trò, tác động xã
hội nhất định, chúng phối hợp với nhau tạo thành “công lực” để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước. Để kiểm soát đối với hoạt động hành chính nhà nước, cần sử dụng các
phương thức cơ bản sau đây:
a. Giám sát: Giám sát là khái niệm dùng để chỉ hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà
nước, các cơ quan tư pháp, các tổ chức xã hội và mọi công dân nhằm đảm bảo sự tuân thủ
nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội. Như vậy, hoạt động giám sát
chủ yếu được thực hiện ngoài quan hệ trực thuộc theo chiều dọc. Hoạt động này được tiến hành
bởi Quốc Hội, HĐND các cấp, các cơ quan tư pháp và toàn thể nhân dân thông qua hoạt động
thực hiện chức năng, thẩm quyền do pháp luật qui định.
b. Kiểm tra: Kiểm tra là khái niệm rộng được hiểu theo hai góc độ:

xã hội. Để bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý trong hoạt động hành chính, cần phải có cơ chế
kiểm soát bằng quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo hiệu lực, hiêụ quả quản lý nhà nước.
1.3. Quy trình thanh tra
1.3.1. Xác định các vấn đề cần thanh tra
Việc xác định các vấn đề cần thanh tra xuất phát từ rất nhiều phương diện khác nhau:
* Phương diện thứ nhất: xuất phát từ những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý
nhà nước của các cấp, các ngành. Cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra cần luôn xác định rõ
vấn đề này để thực hiện kịp thời hoạt động thanh tra. Những vấn đề đó thường là:
- Vấn đề ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý nhà nước; Vấn đề liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực quản lý; Vấn đề có tính chất cấp thiết, bức xúc;
Liên quan đến vấn đề này, chủ thể có thẩm quyền thanh tra thường gặp những vấn đề
khó khăn sau:
- Cùng một thời điểm có nhiều vấn đề ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý nhà nước cần được
thanh tra; Cùng một thời điểm có nhiều vấn đề có tính chất cấp thiết, bức xúc cần được thanh
tra; Chủ thể có thẩm quyền thanh tra thường bận quá nhiều nhiệm vụ khác nhau trong quản lý
nhà nước; Thông tin thiếu, thông tin không có độ tin cậy; Chủ thể quản lý thiếu hiểu biết sâu sắc
về một lĩnh vực nào đó; Quan điểm của lãnh đạo.
Phương án giải quyết những vấn đề khó khăc là:
- Xác định vấn đề cần được ưu tiên nhất để thanh tra; Trao nhiệm vụ một cách hợp lý
cho những chủ thể có thẩm quyền thanh tra khác.
* Phương diện thứ hai: xuất phát từ đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, tổ chức .
Trong trường hợp này vấn đề liên quan đến thanh tra, kiểm tra đã rõ. Chủ thể có thẩm
quyền thanh tra cần xác định:
- Vấn đề liên quan (khiếu nại, tố cáo) ảnh hưởng như thế nào đến quản lý nhà nước (tầm
quan trọng); Vấn đề liên quan còn thuộc thẩm quyền của những cơ quan, tổ chức nào khác.
→ Từ vấn đề đó, cơ quan, người có thẩm quyền xác định nhiệm vụ thanh tra.
Trong trường hợp đơn, thư tố cáo nặc danh thì cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra
không có trách nhiệm phải xem xét, giải quyết đơn, thư đó. Tuy nhiên, nếu đơn, thư tố cáo nặc
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C

Những việc không được làm (bị cấm) được quy định trong các văn bản pháp luật hoặc
quy chế hoạt động tuỳ theo từng lĩnh vực nhất định.
Ví dụ: Điều 12 Luật thanh tra năm 2004 quy định các hành vi bị nghiêm cấm, trong đó
có các hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra như:
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thanh tra để thực hiện hành vi trái pháp luật, sách nhiễu,
gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra;
+ Thanh tra vượt quá thẩm quyền, phạm vi và nội dung trong quyết định thanh tra;
+ Cố ý kết luận sai sự thật, quyết định, xử lý trái pháp luật, bao che cho người có hành vi
vi phạm pháp luật;
+ Tiết lộ thông tin, tài liệu về nội dung thanh tra trong quá trình thanh tra khi chưa có kết
luận chính thức;
+ Các hành vi khác bị nghiêm cấm trong hoạt động thanh tra theo quy định của pháp
luật.
c. Xác định rõ yêu cầu thanh tra
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
8
Yêu cầu thanh tra là những đòi hỏi đối với cơ quan, người có thẩm quyền thanh tra để
thực hiện được thanh tra và đạt được mục đích đề ra. Những yêu cầu đó thường là:
- Nắm vững mục đích, nội dung thanh tra; Xác định được trọng tâm của thanh tra; Nắm
vững cơ chế, chính sách, các quy định của pháp luật liên quan đến vụ việc thanh tra; Nắm được
những nguyên lý cơ bản của vụ việc để hiểu được bản chất của vụ việc; Tìm hiểu cá nhân, tổ
chức bị thanh tra và các cá nhân, tổ chức khác liên quan; Tìm hiểu, xác định phương pháp thích
hợp để tiếp cận, giải quyết vấn đề.
d. Xác định rõ đối tượng thanh tra
- Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nào; Đối tượng thanh tra có vị
trí, vai trò như thế nào trong bộ máy quản lý nhà nước; Đối tượng thanh tra có những nhiệm vụ và
quyền hạn gì trong quản lý nhà nước; Đối tượng thanh tra đã và đang thực hiện nhiệm vụ như thể
nào; Có những ưu điểm và nhược điểm gì; Dư luận xã hội về đối tượng thanh tra như thế nào.
e. Xác định rõ những vấn đề trọng tâm trong thanh tra

Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
9
- Góp phần sớm giải quyết được vụ việc; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước; Làm cho
chủ thể thanh tra có thái độ khẩn trương trong việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra; Góp phần củng
cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động của nhà nước.
Thời hạn thanh tra, được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật tuỳ thuộc vào cấp
hoặc lĩnh vực thanh tra.
Ví dụ: Điều 38 Luật thanh tra quy định thời hạn thanh tra hành chính như sau:
“Cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ tiến hành không quá sáu mươi ngày, trong trường
hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá chín mươi ngày. Đối với cuộc thanh tra đặc biệt
phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều địa phương thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài,
nhưng không quá một trăm năm mươi ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra tỉnh, Thanh tra bộ tiến
hành không quá bốn mươi lăm ngày, trường hợp phức tạp thì có thể kéo dài, nhưng không quá bảy
mươi ngày; Cuộc thanh tra do Thanh tra huyện, Thanh tra sở tiến hành không quá ba mươi ngày;
ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn thì thời hạn thanh tra có thể kéo dài, nhưng không quá bốn
mươi lăm ngày. Thời hạn của cuộc thanh tra được tính từ ngày công bố quyết định thanh tra đến
khi kết thúc việc thanh tra tại nơi được thanh tra”. Trên cơ sở quy định đó, người có thẩm quyền ra
quyết định thanh tra xác định thời hạn thanh tra cho mỗi cuộc thanh tra cụ thể.
i. Xác định kinh phí, phương tiện vật chất cho việc thanh tra
1.3.3. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết
Đây là giai đoạn trước khi tổ chức thực hiện thanh tra. Chủ thể thanh tra chuẩn bị tốt các
điều kiện cần thiết sẽ góp phần quan trọng làm cho việc thanh tra có hiệu quả và hoàn thành
được đúng thời hạn quy định. Chủ thể thanh tra cần chuẩn bị những điều kiện cần thiết sau:
* Nghiên cứu tổng quan về vụ việc
Nghiên cứu tổng quan về vụ việc làm cho chủ thể thanh tra nắm được nội dung cơ bản
của vụ việc và định hình những công việc cần phải làm. Chủ thể thanh tra cần nghiên cứu tổng
quan về những vấn đề sau:
- Nội dung thanh tra;
-Đối tượng thanh tra;
- Người khiếu nại, tố cáo hoặc cá nhân, tổ chức đã cung cấp thông tin.

- Nguyên nhân về sự chỉ đạo, lãnh đạo;
- Nguyên nhân về năng lực, trình độ, nghiệp vụ của cán bộ, công chức;
- Nguyên nhân về thái độ, lập trường, quan điểm của lãnh đạo và của cán bộ, công chức;
- Nguyên nhân khác.
* Tập huấn, họp đoàn
Chủ thể thanh tra, kiểm tra cần được tập huấn để có sự chuẩn bị tốt nhất trước khi thực
hiện thanh tra. Tập huấn có thể về nhiều nội dung nhưng đặc biệt chú trọng đến kỹ năng thanh
tra. Điều này là cần thiết bởi vì:
- Có những cá nhân lần đầu tiên thực hiện thanh tra hoặc đã thực hiện thanh tra nhưng
vẫn cần được tập huấn sâu hơn về kỹ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Vụ việc trong thực tế rất
đa dạng, phong phú làm cho các kỹ năng thực hiện cũng có sự đa dạng, phong phú.
Trước khi thực hiện thanh tra một việc cũng rất cần làm là: họp đoàn. Họp đoàn có ý
nghĩa để thống nhất mục đích, yêu cầu, nội dung thanh tra, thời gian, phương pháp thanh tra, dự
kiến những điều phức tạp có thể nảy sinh.
* Thông báo với đối tượng thanh tra về việc thanh tra
Sự thông báo với đối tượng thanh tra về việc thanh tra là cần thiết để đối tượng thanh tra
có sự chuẩn bị, chủ động bố trí thời gian, địa điểm làm việc và đặc biệt là chuẩn bị về nội dung
để trả lời những vấn đề mà chủ thể thanh tra đặt ra. Chủ thể thanh tra cần thông báo cho đối
tượng thanh tra về ngày công bố quyết định thanh tra, nội dung, kế hoạch công việc.
* Chuẩn bị các điều kiện cần thiết khác
Để thực hiện có hiệu quả việc thanh tra, chủ thể thanh tra cần được chuẩn bị chu đáo các
điều kiện cần thiết khác như: Phương tiện đi lại; Kinh phí phục vụ thanh tra; Văn phòng phẩm;
Các loại công văn, giấy tờ liên quan đến thủ tục hành chính;
1.3.4. Tổ chức thực hiện thanh tra
a. Công bố quyết định thanh tra
Công bố quyết định thanh tra là nội dung đầu tiên trong việc tổ chức thanh tra. Công bố
quyết định thanh tra có ý nghĩa rất quan trọng nhằm:
- Khẳng định tính hợp pháp của đoàn thanh tra và hoạt động thanh tra; Thống nhất giữa
đoàn thanh tra với đối tượng thanh tra về quan điểm nhận thức, mục đích, yêu cầu và nội dung của
cuộc thanh tra; Xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của chủ thể thanh tra và của đối tượng thanh

cuộc thanh tra ở diện rộng, có rất nhiều báo cáo, tài liệu mà chủ thể thanh tra không thể nghiên
cứu kỹ tất cả thì phải chọn nội dung báo cáo để nghiên cứu kỹ.
Thứ ba, chủ thể thanh tra phải xác định được đâu là những mâu thuẫn giữa sự việc với
các quy định của pháp luật. Muốn vậy, chủ thể thanh tra cũng phải xem lại để hiểu rất kỹ về các
quy định pháp luật liên quan.
Trong quá trình nghiên cứu, phân tích báo cáo của đối tượng thanh tra, có thể có những
vấn đề nảy sinh mà chủ thể thanh tra cần giải quyết. Những vấn đề đó có thể là:
- Những vấn đề mà báo cáo của đối tượng thanh tra chưa làm sáng tỏ. Trong trường hợp
này, chủ thể thanh tra yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo bổ sung hoặc chất vấn đối tượng
thanh tra.
- Phát hiện những vi phạm pháp luật mới. Trong trường hợp này, chủ thể thanh tra cần
tiếp tục nghiên cứu sâu để làm rõ, xác định đầy đủ cơ sở của vấn đề.
- Có những vấn đề thuộc nội dung chuyên môn mà chủ thể thanh tra không tự làm rõ
được, trường hợp này chủ thể thanh tra cần hỏi ý kiến của các nhà chuyên môn để được rõ.
d. Tổng hợp sơ bộ kết quả nghiên cứu hồ sơ, kết quả thẩm tra, xác minh, chất vấn để
lựa chọn những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu sâu
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
12
Đây là công việc có ý nghĩa vừa xác lập kết quả nghiên cứu (thanh tra) ban đầu vừa có
tính chất định hướng công việc nghiên cứu, thẩm tra, xác minh tiếp theo để việc thanh tra đi
đúng hướng và sớm có kết quả.
Tổng hợp sơ bộ kết quả nghiên cứu hồ sơ, kết quả thẩm tra, xác minh nên làm theo từng
mảng vấn đề hoặc do từng thành viên của đoàn thanh tra thực hiện.
Khi đã có kết quả tổng hợp sơ bộ nghiên cứu hồ sơ, thẩm tra, xác minh, chủ thể thanh tra
cần từng bước công khi kết quả nghiên cứu những sai phạm, trách nhiệm trước những sai phạm.
Khi đó, chủ thể thanh tra cũng dễ dàng hơn để hiểu được phản ứng của đối tượng thanh tra. Điều
này có tác dụng định hướng cho chủ thể thanh tra tìm hiểu rõ nguyên nhân của những sai phạm
để đi đến kết luận cuối cùng.
e. Đối thoại, chất vấn đối tượng thanh tra về kết quả tổng hợp sơ bộ

• Phối hợp để xử lý đúng đắn các vi phạm pháp luật là: vi phạm hành chính, vi phạm
kỷ luật và vi phạm hình sự.
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
13
- Xử lý các hành vi chống đối
Hành vi chống đối là hành vi của đối tượng thanh tra chống lại hoặc cản trở hoạt động
thanh tra. Hành vi chống đối của đối tượng thanh tra để trốn tránh sự sai phạm nhằm trốn tránh
trách nhiệm pháp lý.
Những hiểu biết của hành vi chống đối thường là:
+ Cố tình chậm lại hoặc thậm chí không cung cấp báo cáo, tài liệu;
+ Trả lời chất vấn của chủ thể thanh tra không thành khẩn;
+ Sửa chữa hoặc thay đổi số liệu, hiện vật, chứng từ;
+ Làm giả hoặc hủy bỏ chứng cứ, tài liệu;
+ Đe dọa, trù dập hoặc thuyên chuyển, kỷ luật người muốn tố cáo với chủ thể thanh tra
hoặc người mà chủ thể thanh tra cần hợp tác;
+ Hối lộ, mua chuộc hoặc đe dọa chủ thể thanh tra hoặc hối lộ cấp trên của hoặc hối lộ
cấp trên của chủ thể thanh tra hoặc cấp trên của mình để được bao che khuyết điểm, sai phạm
hoặc để cấp trên can thiệp trái pháp luật vào hoạt động thanh tra.
+ Cố tình tạo ra một dư luận không tốt để xuyên tạc, kích động quần chúng hiểu sai sự
thật, hiểu sai về cuộc thanh tra; thậm chí kích động cả người khác sử dụng bạo lực để chống lại
cán bộ thanh ta.
Khi có những hành vi chống đối như vậy một câu hỏi được đặt ra là: chủ thể thanh tra
phải xử lý như thế nào để đạt được hiệu quả của thanh tra. Các cách xử lý thường là:
Thứ nhất, chủ thể thanh tra phải làm tốt công tác tư tưởng; vận động giải thích để đối
tượng thanh tra hiểu rõ lợi ích của sự hợp tác tích cực của đối tượng thanh tra. Khi đối tượng
thanh tra không nhận ra điều đó và còn có ý muốn chống đối thì chủ thể thanh tra cần cho đối
tượng thanh tra biết rõ đó là những hành vi vi phạm pháp luật và phải chịu trách nhiệm pháp lý
tương ứng.
Thứ hai, khi đối tượng thanh tra vẫn có hành vi chống đối, thì chủ thể thanh tra phải sử

chính sách trong quản lý của nhà nước.
+ Kiến nghị các hình thức xử lý: Trách nhiệm kinh tế; Trách nhiệm hành chính; Trách
nhiệm kỷ luật; Trách nhiệm hình sự;
Tuy nhiên, để quyết định thanh tra có đủ cơ sở và có giá trị pháp lý phải bảo đảm những
yêu cầu sau:
Một là, trước khi trở thành quyết định chình thức phải có văn bản dự thảo kết luận thanh
tra. Văn bản dự thảo này phải được: Tất cả thành viên đoàn thanh tra thảo luận; Tổng hợp kỹ
những nội dung đã kết luận; Sự chỉ đạo của người ra quyết định thanh tra; Các cơ quan chức
năng cho ý kiến khi cần thiết.
Hai là, việc thảo luận về dự thảo kết luận thanh tra phải được lập thành biên bản.
Ba là, Thông báo dự thảo kết luận thanh tra cho đối tượng thanh tra (nếu cần thiết) để
đối tượng thanh tra giải trình và nghe ý kiến các tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng trong cơ
quan. Những giải trình và ý kiến này cần được xem xét để có thể bổ sung, hoàn thành dự thảo
kết luận thanh tra.
Bốn là, nội dung kết luận thanh tra phải có chứng cứ và căn cứ pháp lý để bảo đảm tính
hợp pháp về nội dung. Ngoài ra, nội dung kết luận thanh tra cần tính đến yếu tố hợp lý.
b. Công bố kết luận thanh tra
Kết luận thanh tra phải được công bố chính thức tại cơ quan, đơn vị được thanh tra.
- Thành phần tham dự cuộc họp công bố kết luận thanh tra gồm có: thủ trưởng cơ quan
được thanh tra; đại diện các phòng, ban, đơn vị cấp dưới của đối tượng thanh tra có liên quan,
đại diện tổ chức đảng và các đoàn thể quần chúng, thanh tra của các cơ quan, đơn vị, ban thanh
tra của đối tượng thanh tra.
- Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm công bố kết luận thanh tra và công bố cả những
quyết định xử lý của đoàn thanh tra (nếu có).
- Để bảo đảm tính dân chủ, đối tượng thanh tra có quyền giải trình những vấn đề trong
kết luận thanh tra. Khi không đồng ý với kết luận thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền khiếu
nại những vấn đề trong kết luận đó. Các đại biểu tham dự cuộc họp công bố kết luận thanh tra
có quyền phát biểu ý kiến tham gia.
- Cuộc họp công bố kết luận thanh tra phải được lập biên bản đầy đủ (thành 2 bản).
Trưởng đoàn thanh tra và thủ trưởng của đối tượng thanh tra cùng ký tên và có đóng dấu. Mỗi

b. Người ra quyết định thanh tra
Người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm sau:
- Báo cáo kết quả thanh tra lên cấp trên; Ra quyết định xử lý theo thẩm quyền những vấn
đề đã được đoàn thanh tra kết luận;
- Xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của đối tượng thanh tra đối với kết luận thanh tra
hoặc đối với chính đoàn thanh tra;
- Tổ chức kiểm tra việc đối tượng thanh tra thực hiện các kiến nghị, các quyết định xử lý
đối với đối tượng thanh tra;
- Tổ chức phúc tra cuộc thanh tra nếu cần thiết;
- Quyết định tổ chức thực hiện các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để phát huy tối đa
hiệu quả của cuộc thanh tra
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
16
CHNG 2
Quy trỡnh v ni dung cuc thanh tra ca Thanh tra B Lao ng - Thng binh v Xó
hi ti Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi tnh Nam nh.
2.1. Gii thiu khỏi quỏt v Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi
tnh Nam nh.
2.1.1. Chc nng, nhim v:
Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi tnh Nam nh l n v s nghip
thuc S Lao ng - Thng binh & Xó hi Nam nh, cú chc nng nhim v t chc, qun
lý, cha tr cho ngi nghin ma tuý, ngi bỏn dõm v tip nhn tỏi ho nhp cng ng cho
ph n v tr em b buụn bỏn t nc ngoi tr v. Trung tõm l n v s nghip do ngõn sỏch
nh nc m bo ton b kinh phớ hot ng.
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động - Xã hội đợc thành lập năm 1992 theo
Quyết định số 522 ngày 29/11/1992 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Hà. Ngày 22/4/2005 Giám
đốc Sở Lao động Thơng binh và Xã hội tỉnh Nam Định đã ra Quyết định số 20/LĐTBXH-TC
về việc qui định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục
Lao động Xã hội; Ngày 07/10/2009 Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định ra Quyết định số

học viên: 33 phòng/ 288 m
2
; Khu văn phòng: 520 m
2
+ Trang thiết bị: Chủ yếu mới có 1 số dụng cụ y tế đơn thuần.
- Khả năng tiếp nhận học viên bình quân hàng năm: 150 học viên/năm.
- Quy trình tiếp nhận: Theo quy định tại Nghị định số 135 và Thông t số 22.
Tiu lun mụn : Thanh tra, Kim tra, Giỏm sỏt trong Qun lý Hnh chớnh Nh nc.
V Ngc Sang - Lp Qun lý cụng K17C
17
- Quy trình điều trị: Theo quy định, cần thực hiện 5 giai đoạn (Điều trị cắt cơn - Giáo dục
hành vi nhân cách - Lao động sản xuất - Dạy nghề - Tạo việc làm, tái hòa nhập cộng đồng). Hiện
tại, đơn vị mới thực hiện đợc 3 giai đoạn đầu. 2 giai đoạn sau cha thực hiện đợc do cha có cơ sở
lao động sản xuất và dạy nghề sau cai.
2.1.4. Quản lý các học viên tại Trung tâm
Biểu 1: Số học viên Trung tâm quản lý:
TT Nội dung Năm 2009 Năm 2010 Quý II/2011
1 Tổng số học viên 269 226 112
- Từ 18 tuổi trở lên 269 226 112
- Dới 18 tuổi 0 0 0
- Nam 265 225 112
- Nữ 04 01 0
2 Học viên bắt buộc 187 162 61
3 Học viên vào lu trú tạm thời 0 0 0
4 Học viên tự nguyện 82 64 51
Biểu số 2: Biến động học viên cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm qua các năm:
Năm
Số học viên
năm trớc
chuyển sang

2009 6 76 0 82
2010 4 60 0 64
Quý II/2011 13 38 0 38
- Tình hình học viên mại dâm: Hiện tại TT cha có học viên mại dâm vào chữa trị
2.1.5. Quy trình, thủ tục tiếp nhận học viên vào trung tâm và chế độ lập hồ sơ quản lý
học viên, bảo quản, lu giữ hồ sơ:
Trung tâm đã thực hiện quy định của Thông t 41/2010/BLĐTBXH-BYT. Học viên vào
chữa bệnh tại Trung tâm trớc hết phải qua phòng t vấn để đợc t vấn phơng pháp cai nghiện, đợc
an ủi động viên tạo niềm tin yên tâm ở lại chữa bệnh; đợc hớng dẫn và cam kết thực hiện các
quy định và nội quy của Trung tâm.
Tiu lun mụn : Thanh tra, Kim tra, Giỏm sỏt trong Qun lý Hnh chớnh Nh nc.
V Ngc Sang - Lp Qun lý cụng K17C
18
Các học viên trớc khi chuyển đến khu điều trị cắt cơn, giải độc đều đợc các bác sỹ khám
sức khỏe ban đầu, làm bệnh án theo dõi, điều trị cho từng ngời và lu hồ sơ tại phòng y tế quản lý
học viên.
Cán bộ phòng hành chính có trách nhiệm kiểm tra đồ dùng cá nhân của học viên theo
đúng nội quy, quy chế của Trung tâm.
Tất cả số ngời nghiện khi vào trung tâm đều đợc kiểm tra sức khoẻ ban đầu, trên cơ sở cụ
thể về tình trạng sức khoẻ, mức độ sử dụng ma tuý, qua đó đã giúp bộ phận Y tế của Trung tâm
phân tích, đánh giá và làm hồ sơ bệnh án để có phác đồ điều trị phù hợp, hiệu quả;
Bệnh án điều trị giữ vai trò rất quan trọng, việc cập nhật và bổ sung thờng xuyên diễn
biến tình trạng sức khỏe của học viên chính là cơ sở khoa học giúp y, bác sỹ đa ra các quyết định
đúng trong việc điều trị. Hàng ngày bác sỹ điều trị khám bệnh cho những học viên đang trong
giai đoạn cắt cơn và cập nhật diễn biến tình trạng sức khỏe của học viên vào bệnh án;
Đối với bệnh án ARV: Sau khi có kết quả xét nghiệm HIV và xét nghiệm CD4 các học
viên này sẽ đợc t vấn khám sức khoẻ và hội chẩn trình Ban xét duyệt điều trị bằng ARV của
Trung tâm. Những học viên đủ tiêu chuẩn điều trị bằng ARV đợc bác sỹ làm bệnh án theo dõi
sức khoẻ và phát thuốc theo quy định.
Thực hiện đúng quy định của Bộ y tế bệnh án điều trị phải lu trữ trong 14 năm nên khi

đoàn kết tơng thân, tơng ái Trung tâm là nhà, chúng ta là anh em Thông qua các hoạt động rèn
luyện các học viên về nếp sống tập thể Mình vì mọi ngời, mọi ngời vì mình xây dựng tình
bạn, tình yêu trong sáng, lành mạnh.
2.1.7. Quy trình, thủ tục đa học viên đã chấp hành xong Quyết định tái hoà nhập cộng đồng:
Thực hiện nghị định 135/NĐ-CP, Trung tâm cấp Giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết
định đa vào cơ sở chữa bệnh cho các học viên đã thực hiện đủ thời gian chữa bệnh theo Quyết
định của UBND huyện (thành phố); Học viên khi chấp hành xong Quyết định sẽ đợc bàn giao
bằng Biên bản giữa Trung tâm và gia đình học viên.
2.2. Quy trỡnh, ni dung cuc thanh tra ca Thanh tra B Lao ng - Thng binh
v Xó hi ti Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi tnh Nam nh
2.2.1. Quy trỡnh cuc thanh tra ca Thanh tra B Lao ng - Thng binh v Xó hi ti
Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi tnh Nam nh:
- Ngy 27 thỏng 10 nm 2011, Chỏnh thanh tra B Lao ng - Thng binh v Xó hi cú
Quyt nh s 125/Q-TTr v vic quyt nh kim tra cụng tỏc phũng, chng ti phm, theo ú
quyt nh kim tra vic t chc cai nghin, qun lý sau cai v cụng tỏc phũng, chng mi dõm
t nm 2009 n ht quý II nm 2011 i vi Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó
hi tnh Nam nh, thi hn thanh tra t 01 n 02 ngy, bt u t 11/11/2011.
- Quyt nh thanh tra cng nờu rừ thnh phn on thanh tra, nhim v quyn hn ca
trng on thanh tra, thnh viờn on thanh tra theo quy nh ti iu 53, 54 ca Lut thanh
tra; ng thi quyt nh thanh tra cng c gi ti thnh viờn on thanh tra v i tng
c thanh tra ( õy c th l Trung tõm Cha bnh - Giỏo dc - Lao ng Xó hi tnh Nam
nh). Kốm theo Quyt nh thanh tra, Thanh tra B Lao ng - Thng binh v Xó hi cng
gi kốm theo cng bỏo cỏo v vic thc hin cụng tỏc phũng chng ti phm yờu cu n
v c kim tra chun b bỏo cỏo bng vn bn theo cỏc ni dung c th sau:
- Chc nng, nhim v ca n v;
- C cu t chc ca n v;
- C s vt cht ca n v;
- Tỡnh hỡnh c th vic qun lý cỏc i tng ti n v, trong ú ngh lm rừ s i
tng nghin ma tỳy, mi dõm; vic thit lp h s qun lý i tng, ch qun lý, giỏo dc,
cha tr, dy ngh v lao ng tr liu cho i tng nghin ma tỳy, mi dõm ti n v;

chống tội phạm số 281/KL-TTr gửi Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh
Nam Định.
Kết luận kiểm tra khái quát những kết quả đơn vị đạt được và những thiếu sót, hạn chế
mà đơn vị cần khắc phục đồng thời cũng đưa ra một số kiến nghị đối với Trung tâm Chữa bệnh -
Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam Định và yêu cầu trung tâm sớm thực hiện những kiến
nghị đã nêu, báo cáo kết quả thực hiện về Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trước
15/01/2012. Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sẽ tổ chức kiểm tra việc thực hiện
các kiến nghị đối với Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam Định nếu
xét thấy cần thiết.

Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
21
CHƯƠNG 3
So sánh, phân tích và đánh giá nội dung cuộc thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội
tỉnh Nam Định với những kiến thức cơ bản đã được tiếp thu sau môn học.
3.1. So sánh quy trình, nội dung cuộc thanh tra với những kiến thức cơ bản đã
được tiếp thu sau môn học:
TT Quy trình, nội dung thanh tra
Quy trình, nội dung cuộc thanh
tra của Thanh tra Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội tại Trung
tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao
động Xã hội tỉnh Nam Định
Có thực hiện
Không thực
hiện
1 Xác định các vấn đề cần thanh tra
X

X
5.3 Hoàn tất hồ sơ cuộc thanh tra
X
5.4 Báo cáo kết quả thanh tra
X
6 Công tác sau thanh tra
6.1 Đoàn thanh tra
X
6.2 Người ra quyết định thanh tra
X
3.2. Phân tích và đánh giá quy trình, nội dung cuộc thanh tra với những kiến thức
cơ bản đã được tiếp thu sau môn học:
3.2.1. Về quy trình:
Tiểu luận môn : Thanh tra, Kiểm tra, Giám sát trong Quản lý Hành chính Nhà nước.
Vũ Ngọc Sang - Lớp Quản lý công K17C
22
Cơ bản, đoàn thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tiến hành
thực hiện tương đối đầy đủ các bước so với quy trình thanh tra theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ giới hạn yêu cầu của bài tiểu luận, chỉ xin được phân tích sâu bước 5 -
về Kết thúc thanh tra và bước 6 - về công tác sau thanh tra:
+ Về bước 5 - Kết thúc thanh tra :
Sau khi tổ chức thanh tra, đoàn thanh tra đã tổ chức lập biên bản kiểm tra sau đó đã đưa
ra được kết luận thanh tra nhưng không tổ chức công bố kết luận thanh tra mà chỉ gửi kết luận
thanh tra đến đối tượng được thanh, kiểm tra ( ở đây cụ thể là gửi đến Trung tâm Chữa bệnh -
Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam Định).
+ Về bước 6 – công tác sau thanh tra :
Mặc dù Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động Xã hội tỉnh Nam Định đã tổ chức
hội nghị quán triệt kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tới
cán bộ chủ chốt của đơn vị, đồng thời khẩn trương khắc phục những hạn chế, thiếu sót và báo
cáo kết quả về Thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định nhưng đến nay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status