các cuộc cải cách hành chính trên thế giới và kinh nghiệm áp dụng cho nước ta - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà Nội
KHOA LUẬT
Môn học: Cải cách hành chính
Hà Nội, 10/2012
Danh sách nhóm 5
1. Nguyễn Thanh Bình
2. Trần Văn Lý
3. Phan Trà My
4. Nguyễn Thị Kim Oanh
5. Nguyễn Văn Thái
6. Phan Thanh Thủy
2
Các cuộc cải cách hành chính trên thế giới và
kinh nghiệm áp dụng cho nước ta
Hướng tới một nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong giai
đoạn mới. Sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước cùng với những sự thay đổi to lớn của
bối cảnh quốc tế đặt ra những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi cải cách hành chính
trong giai đoạn tới phải thay đổi hẳn phương hướng và cách thức tiến hành.
Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ủy
viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã tạo cơ hội lớn cho Việt
Nam tham gia vào thị trường thế giới; đồng thời, cũng đặt ra những thách thức không nhỏ
trong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO. Hơn lúc nào hết, cải cách hành
chính là một yêu cầu cấp bách để Việt Nam phát triển kinh tế và tăng sức cạnh tranh trên
thị trường quốc tế, biến cơ hội thành thế mạnh của mình. Ngày nay, cải cách hành chính
là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem
cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, phát
triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội.
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, trong
khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng
được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu
được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan

lên Chính phủ. Hơn một năm sau, tháng 12-1997, bản báo cáo cuối cùng của Hội đồng đã
hoàn tất và được Chính phủ thông qua.
Dựa vào kết quả khảo sát, nghiên cứu trên, tháng 6-1998, Nhật Bản đã ban hành một
đạo luật (cơ bản) về cải cách cơ cấu Chính phủ Trung ương và lập ra Ban Chỉ đạo Cải
cách cơ cấu Chính phủ Trung ương. Trên cơ sở Luật Cải cách Chính phủ, Nhật Bản đã
ban hành liên tiếp 17 luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trung ương và cơ quan
hành chính độc lập (7-1999), 61 luật quy định vai trò, chức năng của các bộ và các cơ
quan mới dự kiến sẽ thành lập (12-1999) và 90 nghị định của Chính phủ về tổ chức bên
trong của các bộ, các hội đồng và các tổ chức khác (5-2000).
Sau gần 4 năm tiến hành từng bước những công việc trên, một bộ luật cơ bản, các luật
khác và nhiều văn bản dưới luật về cải cách hành chính và cơ cấu của Nhật Bản đã lần
lượt được ban hành và tất cả bắt đầu có hiệu lực từ ngày 6-1-2001. Với việc ban hành
một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như vậy, cuộc cải cách hành chính và cơ
cấu tại Nhật Bản, về cơ bản được xem là thành công. Các tổ chức lâm thời được lập ra để
làm nhiệm vụ cải cách đã hoàn thành công việc và đã giải tán.
Kết quả thu được rất thành công, bộ máy Chính phủ ở trung ương được thu gọn đáng
kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng; số lượng các tổ
chức bên trong của các CQHC giảm đáng kể, từ 128 đơn vị cấp vụ, cục và tương đương
thuộc các CQHC trước đây, nay đã giảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng
và tương đương thuộc các cơ quan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn vị. Số lượng
công chức làm việc tại các CQHC giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảm
trong thời gian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăng
cường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ. Trước cải cách,
đa phần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chính sách quan
trọng có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và đề xuất…
Cuộc cải cách hành chính và cải cách cơ cấu tại Nhật Bản hiện nay được đánh giá là
một cuộc cải cách lớn nhất kể từ thời Minh Trị đến nay. Nhật Bản tiến hành cuộc cải cách
này với những lý do :
4
- Sau những thành công rực rỡ về kinh tế, Nhật Bản có tâm lý chung là ỷ lại : các đơn

lập.
Phương pháp thực hiện cải cách là quy định rõ phạm vi thẩm quyền của các bộ và
thiết kế những thủ tục chặt chẽ để phối hợp công tác giữa các bộ ; thiết lập một hệ thống
tổ chức để đánh giá giá trị, đánh giá chính sách và đặc biệt là xây dựng các bộ phận thông
tin mạnh ; tách bộ phận kế hoạch, hoạch định chính sách khỏi các cơ quan có chức năng
tổ chức, thực hiện và tư nhân hóa những công việc có thể tư nhân hóa được.
5
1.1.2.Bài học kinh nghiệm
Để thúc đẩy công cuộc CCHC nói chung và cải cách thể chế hành chính nói riêng ở
Việt Nam, việc học tập kinh nghiệm nước ngoài trong bối cảnh hội nhập là hết sức cần
thiết. Sở dic chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản là do những lý do sau :
- Nhật Bản là quốc gia - do yếu tố lịch sử - có rất nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp thu
những thành tựu của pháp luật nước ngoài cũng như các xu thế cải cách tiến bộ trên thế
giới
- Nhật Bản là điển hình của quốc gia chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hai hệ thống
pháp luật tiêu biểu trên thế giới là hệ thống luật châu Âu lục địa (ảnh hưởng trước Thế
chiến II) và hệ thống luật Anh - Mỹ (sau thất bại trong Thế chiến II và sự đầu hàng lực
lương Đồng minh), nhưng vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng trong tổng thể quá
trình CCHC và cải cách tư pháp;
- Nhật Bản là quốc gia có nền hành chính phát triển hiện đại với công cuộc CCHC diễn
ra lâu đời, từng bước và có kế hoạch, chiến lược cụ thể.
- Nhật Bản là một trong hai quốc gia (cùng với đối tác Thụy Điển) tiến hành các dự án
hợp tác pháp luật sớm nhất với Việt Nam, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, cho tới nay vẫn luôn là đối tác lâu năm và tin cậy.
Học tập kinh nghiệm của Nhật Bản liên quan đến cải cách thể chế hành chính cho
thấy nhiều ưu điểm có thể chia sẻ với Việt Nam trong bối cảnh Chính phủ đang đánh
giá Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2000 - 2010 và xây dựng Chương trình cải
cách giai đoạn 2010 - 2020. CCHC ở Việt Nam cần phải tiếp tục mở rộng nghiên cứu
cả phương diện lý luận và học hỏi kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài, trên cơ sở của
việc xây dựng chương trình, kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cải cách trong

giản hóa và đạt hiệu quả, như các công ty môi trường, xử lý rác thải, thu gom đồ đạc
đã qua sử dụng. Từ tháng 4/2004, các trường đại học công lập đã được chuyển từ quy
chế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức sang quy chế quản lý như đối với người lao
động trong khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao tính tự chủ của các tổ chức công cộng
độc lập này.
- Chính phủ Nhật Bản nỗ lực cải cách hệ thống công vụ, theo đó chế độ thâm niên
công tác bị bãi bỏ, thay vào đó là hệ thống tuyển dụng và trả lương dựa trên năng lực.
Cải cách thể chế, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương. Cải cách chính
quyền địa phương trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc của Hiến pháp, trong đó các cơ
quan này phải thực sự là các tổ chức bảo vệ và thực thi có hiệu quả các quyền con
người và quyền tự do cơ bản của người dân.
- Thành lập các tổ chức công cộng độc lập trong mỗi tỉnh và liên tỉnh nhằm xử lý các
công việc chung một cách hiệu quả và đơn giản hóa.
Theo đề xuất cải cách của Nội các do Thủ tướng Hashimoto Ryutaro khởi xướng
năm 1997 với khẩu hiệu: “Tập trung cải cách Chính phủ và bộ máy hành chính hướng
tới thế kỷ XXI”, một cơ cấu chính quyền mới, rút gọn và hiệu quả đã được xây dựng
năm 2001. Theo đó, cơ cấu 12 bộ như trước đây đã được tổ chức lại thành 10 bộ =>
Việt Nam hiện nay có 18 Bộ và 4 cơ quan ngang bộ(năm 2007 là 26 Bộ và cơ quan
ngang bộ 12 cơ quan thuộc chính phủ) điều đó cho thấy chúng ta đang tinh gon bộ máy
nhà nước nhằm hạn chế sự chồng chéo công việc giữa các Bộ tạo hiệu quả trong giải
quyết công việc
1.2. Hàn Quốc
1.2.1.Tóm tắt quá trình cải cách
7
Trong những thập niên gần đây, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tốc độ
phát triển kinh tế nhanh nhất. Tuy nhiên không phải vì thế mà bộ máy điều hành chính
phủ Hàn Quốc không có những hạn chế và yếu kém. Cuộc khủng hoảng kinh tế cuối năm
1997 đã cho thấy điều đó. Bộ máy điều hành của Chính phủ Hàn Quốc đã bộc lộ những
điểm yếu và cần được cải tiến để có thể thích ứng với thực tế hiện nay. Ðể có một Chính
phủ nhỏ vững mạnh và hiệu quả, Hàn Quốc đã không ngừng đẩy mạnh công cuộc cải

lương. Hiện nay, tại Hàn Quốc, bình quân có 27 công chức/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này
ở Mỹ là 75,4, Pháp là 82,2…; đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại
tốt nhất trên thế giới, thiết lập xong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các
cơ quan hành chính (CQHC) thông qua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ
8
công thông qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di
động, công khai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng…
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong CCHC, nhưng Hàn Quốc vẫn
tiếp tục tiến trình cải cách. Ngày 14/11/2010, Tổng thống Hàn Quốc đương nhiệm Lee
Myung-bak cho biết, Chính phủ đang lập kế hoạch cụ thể về cải cách khu vực hành chính
giai đoạn tiếp theo và sẽ công bố kế hoạch này trong thời gian sớm nhất.
1.2.2.Bài học kinh nghiệm
Việt Nam với điều kiện thiên nhiên thuận lợi và tài nguyên dồi dào hơn Hàn Quốc
mà hiện nay Nước ta vẫn còn đang phải tiếp tục cố gắng rất nhiều để phát triển. Như vậy,
học hỏi kinh nghiệm từ công cuộc cải cách của Hàn Quốc cũng là một điều quan trọng để
có thể rút ra được bài học cho chính mình:
- Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt đề cao nhiệm vụ cải cách. Cuộc cải cách bộ máy nhà
nước được đẩy mạnh hơn từ khi Tổng thống Roh Moo-Hyun lên nắm quyền và những
biện pháp mạnh mẽ được áp dụng từ đầu năm 2003 trở lại đây. Mục tiêu đề ra là xây
dựng Chính phủ có hiệu quả, cởi mở, gần dân, được dân tin cậy, minh bạch, hoạt động
linh hoạt, có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao và loại trừ tham nhũng.
=> Việt Nam cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Đảng cầm quyền . Từ kinh
nghiệm CCHC Hàn Quốc nêu trên, ta thấy rằng sở dĩ việc tổ chức, thực hiện thành công
là nhờ sự kiên quyết của Đảng cầm quyền mà đại diện là Tổng thống, Thủ tướng, Chủ
tịch nước… tùy theo thể chế chính trị tại mỗi quốc gia.Ta cần phải có quyết tâm và sự
lãnh đạo quyết liệt từ ngay cấp cao nhất của hệ thống chính trị thì cải cách mới có thể
thành công.
- Về cải cách thể chế của Hàn Quốc, Tư tưởng xuyên suốt được đề ra là sửa đổi các qui
định của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển của thị trường theo hướng
chuyển từ quản lý chặt sang định hướng mở. Thay đổi cơ bản mối quan hệ Nhà nước - thị

- Việc cải cách chế độ công vụ và công chức cũng được đẩy mạnh từ năm 1998 trở lại
đây, Hiện tại số lượng công chức ở Hàn Quốc khá thấp (576.000 người; bình quân 27
công chức/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 75,4, Pháp là 82,2). Nhờ sắp xếp lại
khối sự nghiệp, từ 1997 đến nay Hàn Quốc đã giảm được 7% tổng biên chế.
=>> Xây dựng, đào tạo đội ngũ công chức nhà nước đủ năng lực, có khả năng đáp ứng
được các yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới. Kinh nghiệm CCHC của các nước
trên thế giới cho thấy việc xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đủ năng
lực chuyên môn, tinh thần thái độ, có trách nhiệm trong thực hiện công vụ có vai trò rất
quan trong trong thành công của cải cách.
- Hàn Quốc đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế
giới, đã hoàn tất việc kết nối mạng trung ương-địa phương, thiết lập xong hệ thống xử lý
công việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử. Hiện
đang hoàn thiện việc cung cấp dịch vụ công thông qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch
vụ hành chính thông qua điện thoại di động
=>> Trong thời đại internet, cùng với việc khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão là xu
thế hội nhập quốc tế thì tăng cường đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầng
phục vụ nền hành chính cần được coi như một trong các giải pháp quan trọng hàng đầu
để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của BMHC nhà nước.
- Để quản lý và kiểm soát quá trình cải cách, bảo đảm các mục tiêu cải cách được thực
hiện có kết quả, tháng 4/2003 một cơ quan mang tên "Uỷ ban của Tổng thống về đổi mới
chính quyền và phân cấp" đã được thành lập. Chức năng chính của Uỷ ban là tham vấn
cho Tổng thống về các vấn đề có liên quan đến đổi mới chính phủ và phân cấp. Tổ chức
10
của Uỷ ban gồm Ban chỉ đạo, 5 Tiểu ban điều hành, các tổ công tác cố vấn và Văn phòng
kế hoạch và quản lý.
=>> Đề ra, lập ra công cuộc cải cách hành chính là chưa đủ, muốn đạt được kết quả sát
thực nhất với những gì đã đề ra, chúng ta phải kiểm tra và giám sát chặt chẽ từng bước
hoạt động.Có như vậy mới đảm bảo được tính minh bạch, công bằng và rõ ràng.
1.3. Singapore
1.3.1.Tóm tắt quá trình cải cách

Chính phủ Singapore đã thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp với chức năng chủ yếu
là thu thập ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn
trong hoạt động, đồng thời lập ra một nhóm công tác gồm khoảng 100 cán bộ, có trình độ
cao đủ sức tìm hiểu, đánh giá và giải quyết các kiến nghị của các doanh nghiệp. Bằng
cách làm này, chỉ trong một thời gian ngắn, trên 50% trong tổng số 1.104 đề nghị của các
doanh nghiệp đã được tiếp nhận và xử lý.
Thứ ba, đề ra chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của bộ máy
hành chính mang tên "Zero-In-Process". Mục tiêu đề ra là việc gì cũng phải có cơ quan
chịu trách nhiệm, các sáng kiến và đề xuất của dân liên quan đến hoạt động của các cơ
quan hành chính, của công chức phải được xem xét xử lý nhanh. Theo thống kê của bạn,
20% trong tổng số 210 đề xuất xoá bỏ quan liêu của bộ máy hành chính được chấp nhận;
21 trường hợp trùng lắp chức năng giữa các cơ quan đã được loại bỏ.
Thứ tư, thường xuyên rà soát để loại bỏ những qui định lỗi thời không còn phù hợp.
Để làm việc này, một Ban rà soát văn bản đã được thành lập với thành phần là 5 Tổng
thư ký của các bộ; cứ 5 năm tiến hành tổng rà soát một lần.
Về đổi mới công tác đào tạo công chức
Chính phủ Singapore đặc biệt chú trọng đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công
chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả.
Theo qui định, mỗi cán bộ công chức bắt buộc phải được bồi dưỡng 100 giờ/năm;
Mỗi công chức phải tự đề ra chương trình học tập cho mình, trong đó có việc sử dụng
100 giờ học theo qui định, tối thiểu phải bảo đảm 60% thời lượng phục vụ công việc
trong cương vị hiện tại, 40% cho công việc tương lai. Để khuyến khích việc tự đào tạo,
Chính phủ qui định hỗ trợ 50% chi phí cho người tự học để phục vụ cho công việc đang
đảm trách.
Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức được áp dụng là: đào tạo ban đầu (cơ
bản), đào tạo nâng cao, đào tạo mở rộng và đào tạo bổ sung. Trường Công vụ Singapore
thành lập năm 1971. Từ năm 2001 là đơn vị tự chủ của Ban Công vụ trực thuộc Văn
phòng Thủ tướng nhưng không có tài trợ từ phía Chính phủ. Các bộ tự quyết định việc
chọn nơi đào tạo công chức, không nhất thiết phải gửi vào trường công vụ.
Về việc xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử

1.3.2.Bài học kinh nghiệm
Đến nay Singapore đứng ở nhóm những nước dẫn đầu về tốc độ phát triển chính phủ
điện tử và đang bước sang giai đoạn "phát triển công dân điện tử", trong nhóm đó 3 bài
học kinh nghiệm được rút ra là:
• Có chiến lược quốc gia tốt làm cơ sở xác định lộ trình cụ thể cho từng ngành, từng
lĩnh vực trong từng giai đoạn;
• Có cơ quan chuyên môn mạnh giúp chính phủ quản lý quá trình phát triển
• Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực.
Ngoài ra, quá trình cải cách Hành Chính của Singapore chúng ta có thể học tập và áp
13
dụng vào cải cách Hành Chính ở Việt Nam đó là: Singapore đã làm những công việc
- Áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong BMHC, coi đó vừa là công cụ cải tiến lề lối
làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức.
- Đưa tinh thần “doanh nghiệp” vào hoạt động của BMHC mà cốt lõi là lấy hiệu quả
làm thước đo.
- Thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tìm hiểu, đánh giá và đề xuất phương
án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp.
- Đề ra Chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của BMHC với
mục tiêu là việc gì cũng phải có cơ quan chịu trách nhiệm.
- Thường xuyên rà soát để loại bỏ những quy định lỗi thời không còn phù hợp.
- Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải
pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả.
Việt Nam cần đã tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công nghệ thông tin,
tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức để áp dụng công nghệ mới, tiến tới cung cấp
dịch vụ công thông qua Internet và tiến tới giải quyết công việc của dân qua điện thoại di
động trong mọi thời điểm. Ngoài ra, cần có chính sách cụ thể trong việc trả lương xứng
đáng cho cán bộ, công chức, qua đó hạn chế tối đa nạn tham nhũng, minh bạch hóa chính
phủ, tạo đà cho cán bộ công chức dành hết tâm sức cho công việc được giao và có chính
sách thu hút và sử dụng nhân tài ngoại quốc phải bài bản.
1.4. Trung Quốc

là 1.800.
Thứ tư, cải cách ở các thị trấn và tiến hành các cuộc thử nghiệm về hội nhập ở đô thị
và nông thôn đang được tiến hành. Chính phủ Trung Quốc bắt đầu tiến hành cải cách ở
thị trấn từ đầu năm 2000. Ngoài việc tiếp tục giảm và sáp nhập các thi trấn, chính phủ
Trung Quốc hiện này đang cân nhắc cải cách thị trấn như một giải pháp cho vấn đề tồn
tại và kéo dài ở Trung quốc nhiều năm qua. Đó là cấu trúc hai mặt giữa đô thị và nông
thôn. Việc giải quyết này nhằm thực thị chiến lược kiến tạo vùng nông thôn XHCN tiến
tiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
* Các biện pháp cải cách
Để thực hiện những cải cách trên, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một số các biện
pháp thực hiện để đẩy nhanh việc quản lý hành chính theo luật pháp, cụ thể như sau:
Năm 2004, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng và ban hành " Chương trình thực hiện
toàn diện quản lý hành chính của Chính phủ theo Luật". Trong Chương trình đã làm rõ các tư
tưởng chỉ đạo, mục tiêu cụ thể, nguyên tắc cơ bản, yêu cầu và nhiệm vụ chủ yếu để thực hiện
việc quản lý toàn diện hệ thống hành chính trong 10 năm.
Chính phủ đã hỗ trợ, tập trung nâng cao chất lượng xây dựng thể chế trong quá trình
hoàn thiện luật pháp về kinh tế và giám sát thị trường, Chính phủ đã gắn kết tầm quan
trọng của hoạt động lập pháp trong quá trình quản lý xã hội, dịch vụ công và các vấn đề
liên quan đến lợi ích của nhân dân. Từ năm 2003 đến 2007, Chính phủ đã gửi 33 sáng
kiến lập pháp sang Uỷ bản thường trực của Đại hội đại biểu nhân dân và trực tiếp ban
15
hành 125 quy định về hành chính, trong đó có 52 luật và quy định về pháp luật kinh tế và
106 về quản lý xã hội và dịch vụ công
Hệ thống cơ chế và luật pháp về quản lý tình trạng khẩn cấp trong các lĩnh vực thảm
hoạ, nguy hiểm sức khỏe của cộng đồng, dịch bệnh được hoàn thiện để nâng cao khả
năng ngăn chặn và đối phó với tình trạng khẩn cấp.
Xây dựng và ban hành "Luật cấp phép hành chính nước Cộng hoà nhân dân Trung
Hoa" để khuyến khích việc chuyển đổi chức năng của Chính phủ và đổi mới phương thức
hành chính. Theo số liệu thống kế, trong 31 tỉnh, vùng tự trị và thành phố thuộc TƯ, 28
Uỷ ban và Bộ đã có 25.797 vấn đề phê chuẩn mang tính hành chính được hoàn thành

vụ công, sự không rõ ràng trong chức năng, hợp tác không hiệu quả giữa các cơ quan,
tính lạc hậu của phương thức quản lý, tình trạng giải quyết không triệt để những vấn đề
liên quan đến lợi ích của người dân, đặc biệt là chủ nghĩa hình thức, quan liêu, gian lận,
lãng phí, thiếu ý thức của một bộ phận công chức trong quản lý hành chính và tình trạng
tham nhũng trầm trọng ở một số cơ quan và một số địa phương. Đây là những vấn đề thu
hút mối quan tâm của nhân dân và toàn xã hội và việc đẩy mạnh cải cách hành chính trên
phạm vi sâu rộng hơn nữa là tiếng nói dứt khoát của Đảng Cộng sản, Nhà nước Trung
Quốc và toàn xã hội.
* Những yêu cầu đảm bảo thành công của cải cách hành chính
Theo kế hoạch cải cách hành chính của Hội nghị TƯ lần thứ 17 Đảng Cộng sản Trung
Quốc, mục tiêu của cải cách hành chính hướng tới là " xây dựng chính quyền hướng về dịch
vụ" và tạo dựng một hệ thống quyền lực tương xứng với trách nhiệm, phân chia công việc một
cách hợp lý, giúp hình thành phương thức hoạch định chính sách có tính khoa học và bảo đảm
thực thi trôi chảy, giám sát có hiệu quả thông qua chức năng chuyển đổi, minh bạch các mối
quan hệ, tối ưu hoá tổ chức và làm tăng hiệu quả.
Để thực hiện thành công kế hoạch cải cách này, có 2 yêu cầu đặt ra và cần được xem
xét để bảo đảm thành công của cải cách.
Thứ nhất là thiết kế một kế hoạch tốt. Thiếu một kế hoạch tổng thể là vấn đề nghiêm
trọng trong cải cách hành chính trước đây ở Trung Quốc. Các cải cách tìm cách lấp các
chỗ hở hơn là tìm ra nguyên nhân của vấn đề. Kế hoạch cho cải cách hành chính không là
biểu thị quyền. Kết cục là không có cơ cấu tổ chức và cơ cấu quyền lực tương đối ổn định
trong chính quyền và cơ cấu quản trị hiệu quả Nhà nước chưa được hình thành.
Thứ hai là tạo ra bước ngoặt trong hạn chế quyền lực công. Vấn đề nổi bật trong quản
lý của Chính phủ Trung Quốc hiện nay là cơ chế hạn chế quyền lực công hiệu quả vẫn
chưa được xây dựng. Điều này giải thích lý do tại sao một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước
thậm chí ở vị trí lãnh đạo cấp cao có hành vi tham nhũng trong những năm gần đây. Nó
không chỉ huỷ hoại lòng tin của công chúng mà còn gây ra những nguy hiểm cho đất
nước và nhân dân. Có nhiều mối quan tâm nhằm hạn chế quyền lực công trong một vài
cải cách hành chính trước đây. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng lan tràn gây ra những
mối nghi ngờ về hiệu quả của cải cách.

kinh tế của mình. Có thể thấy hầu hết các điều tra về chống bán phá giá đều nhằm trực
tiếp vào Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng chủ động điều tra nhằm vào các nước
khác. Đó là một bài học có thể rút ra từ Trung Quốc, và một bài học nữa là Trung Quốc
sử dụng các quy định của WTO nhưng cũng thay đổi chúng để tăng lợi thế cho mình.
Ở đây có một bài học rất thú vị, và cũng là bài học cho Việt Nam, đó là khi đàm
phán, nếu các nước công nhận Trung Quốc là nền kinh tế thị trường, điều sẽ có lợi trong
các vụ kiện chống bán phá giá, Trung Quốc sẽ nhường một số điều khoản liên quan đến
lợi ích kinh tế. Rõ ràng là Trung Quốc không vi phạm các quy định của WTO, nhưng
biến đổi chúng theo hướng có lợi cho mình. Đây là điều đáng để Việt Nam học tập vì
trong các vụ kiện bán phá giá, việc các bạn bị coi là nền kinh tế phi thị trường là một trở
ngại lớn.
Tuy nhiên, Việt Nam sẽ đi con đường đổi mới của riêng mình:
Đổi mới cũng có nhiều con đường khác nhau và Việt Nam có nhiều điều để tự
hào về công cuộc đổi mới của mình. Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh mà
không gia tăng quá nhanh tình trạng bất bình đẳng. Trung Quốc có tốc độ phát triển
nhanh và sự gia tăng bất bình đẳng cũng nhanh.
18
Điều đáng nói nữa là thông điệp từ chính quyền trung ương. Ngay từ đầu Chính
phủ Việt Nam đã nói rõ rằng không muốn “phát triển bằng mọi giá”. Còn thông điệp của
chính quyền trung ương Trung Quốc khi quán triệt đến cấp địa phương đã khiến nhiều
người hiểu rằng phải tìm cách giàu hơn những người khác. Và hậu quả của điều đó chính
là những gì mà ngày nay Trung Quốc đang phải giải quyết
Tuy nhiên, Việt Nam rất nên học tập Trung Quốc ở chỗ đầu tư xứng đáng cho cơ
sở hạ tầng, tạo điều kiện tiếp cận các nguồn lực để mọi người đều có cơ hội phát triển.
2. Cải cách hành chính ở một số quốc gia khác
2.1. Vương quốc Anh
2.1.1.Tóm tắt quá trình cải cách
Ở Anh 30 năm qua, Chính phủ luôn đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, coi đây là
nhiệm vụ hàng đầu. Từ năm 1980 có 9 lần cải cách, trong đó có những cải cách quan
trọng: năm 1982 thực hiện sáng kiến về quản lý tài chính, bước đầu giao quyền quản lý

được kết quả sẽ có, buộc các Bộ tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu của mình
theo trọng tâm do Chính phủ đã định, tạo điều kiện để các Bộ phân bổ kinh phí và
giám sát hoạt động của các tổ chức thuộc Bộ. Các Bộ đàm phán và đi đến thống
nhất ký với Bộ Tài chính cho 3 năm, trong đó nội dung quy định rõ: Mục tiêu,
nhiệm vụ của Bộ; các chỉ số, mục tiêu phải phấn đấu, cụ thể là giảm sai sót trong
hoạt động, cải tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ dân, Chính phủ điện tử;
Nguồn lực phân bổ cho các Bộ trong 3 năm, được cụ thể hoá trong các chương
trình, mục tiêu.
+ Về quản lý đội ngũ nhân sự hành chính công:
- Quản lý cán bộ công chức ở Anh đã chuyển sang đánh giá công chức theo kết quả
đầu ra, tác động của kết quả. Thực hiện phân loại, đánh giá công chức và chuyển
kết quả đánh giá công chức hàng năm cho Hội đồng lương để quyết định việc nâng
lương của công chức, do đó tạo ra động lực thực sự cho công chức làm việc và
phấn đấu, xoá bỏ được cơ chế đến hẹn lại lên lương. Tập trung xây dựng và phát
triển đội ngũ công chức cao cấp, nhất là ở Văn phòng Nội các để đủ sức tham mưu
cho Thủ tướng trong hoạch định chính sách, chiến lược, pháp luật. Nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức. Điều mà nước Anh nhấn mạnh ở đây là lần
đầu tiên trong lịch sử hành chính Anh, các Bộ trưởng phải có nghĩa vụ tham dự
các khoá bồi dưỡng tại Trường Hành chính công, phá bỏ quan niệm truyền thống
đã là Bộ trưởng thì thôi không cần phải bồi dưỡng và đào tạo thêm.
2.2. Ai Cập
2.2.1.Tóm tắt quá trình cải cách
Công cuộc cải cách thể chế bắt đầu từ năm 2007 trên cơ sở sáng kiến của Hội
đồng cạnh tranh Ai Cập, được thực hiện tại 11/34 bộ và cơ quan nhà nước với sự ra đời
của Đề án cải cách thể chế (ERRADA). Khác với Đề án 30 tại nước ta, Đề án ERRADA
chủ yếu tập trung vào hệ thống các quy định liên quan đến hoạt động của khối doanh
nghiệp và các ngành nghề kinh doanh. Ban chỉ đạo Đề án này có đại diện của nhà nước,
đại diện của khối doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu. Tính đến tháng 3/2010, đã rà soát
được 3.542 quy định kinh doanh, trong đó kiến nghị hủy 21,5%, sửa đổi 4,8%, hợp nhất
28,7%. Đề án ERRADA góp phần quan trọng cho việc Ai Cập tăng 60 bậc trong Báo cáo

của Việt Nam
Lịch sử đã chỉ ra rằng bất kỳ một cuộc cải cách nào cũng đều có mục tiêu, mục đích
xã hội của nó. Mục tiêu cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay là: xây dựng một nền
hành chính trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một
tốt hơn.
Cải cách hành chính ở Việt Nam được tiến hành nhiều năm nay với những lộ trình
khác nhau từ thấp tới cao. Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong
việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đến cải cách một bước nền hành chính
nhà nước với ba nội dung là: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành chính
nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Ngày nay cải cách hành chính đã chuyển
sang một bước mới với bốn nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách bộ máy hành
chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.
Trong những năm qua cải cách hành chính ở Việt Nam đã góp phần xây dựng nhà
nước pháp quyền:
21
- Về thể chế hành chính: Hiến pháp được sửa đổi, ban hành các Luật mới và các văn
bản dưới luật về tổ chức bộ máy nhà nước; Sửa đổi bổ sung một số điều Pháp lệnh cán
bộ, công chức; ban hành các nghị định để cụ thể hóa Pháp lệnh, cán bộ, công chức Điều
quan trọng là: các văn bản về tổ chức bộ máy nhà nước là đã quy định khá cụ thể quyền
hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, từng bước thể hiện sự phân cấp trong quản
lý giữa Trung ương và địa phương; các văn bản pháp luật về công vụ, cán bộ, công chức
đã quy định khá cụ thể các quyền, nghĩa vụ của các cán bộ, công chức và đã bước đầu đi
theo hướng chuyên biệt hoá các đối tượng những người phục vụ trong cơ quan, tổ chức
nhà nước.
- Về bộ máy hành chính: giảm dần các đầu mối quản lý, số lượng các cơ quan quản lý
nhà nước đã giảm xuống đáng kể, thủ tuc hành chính được cải cách theo hướng "một
cửa", mẫu hóa các văn bản hành chính, giấy tờ, công khai các thủ tục hành chính. Chính
việc cải cách thủ tục hành chính này đã góp phần hạn chế sự sách nhiễu, phiến hà, tham
những của các công chức hành chính trong khi giải quyết các công việc của công dân.
Đây là điểm căn bản nhất của cải cách hành chính góp phần xây dựng nhà nước pháp

cơ sở cho những quyết sách của nhà nước với phương châm phục vụ là công khai, minh
bạch và thuận lợi. Nhà nước trong giai đoạn tiếp theo nên tập trung vào 4 loại chức năng
cơ bản: điều tiết kinh tế, giám sát thị trường, quản lý xã hội và cung ứng một phần dịch
vụ công. Ngoài ra, cùng với việc tinh giản bộ máy, giảm số lượng cán bộ, công chức là
nâng cao năng lực chuyên môn, trách nhiệm với công việc, tinh thần thái độ phục vụ
người dân và chế độ đãi ngộ tương xứng và minh bạch. Đây là tổng hợp một số các giải
pháp từ nhận thức đến quan điểm và những quy tắc, phương thức tổ chức hoạt động
nhằm từng bước chuyển đổi vai trò của nhà nước để thích hợp với yêu cầu mới của một
xã hội đang phát triển không ngừng và có xu thế hội nhập rất cao.
Thứ ba, cải cách cần được tiến hành một cách kiên trì, lâu dài và đồng bộ, toàn diện
trong toàn bộ hệ thống chính trị và hành chính. Chúng ta thấy rất nhiều nước bắt đầu
CCHC từ rất lâu (Malaysia từ những năm 60 thế kỷ trước, Singapore cải cách từ đầu
những năm 70, Trung Quốc từ năm 1979 ) đã tiến hành hàng chục năm và chưa có dấu
hiện kết thúc, hay nói cách khác là cải cách một cách liên tục, kéo dài đến nay và sẽ tiếp
tục trong thời gian tới. Tại quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam về thể chế
chính trị là Trung Quốc, cải cách được tiến hành toàn diện tại các cơ quan lập pháp, hành
pháp, tư pháp, trong đó CCHC tại cơ quan hành pháp giữ vai quan trọng.
Thứ tư, xây dựng, đào tạo đội ngũ công chức nhà nước đủ năng lực, có khả năng đáp
ứng được các yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới. Kinh nghiệm CCHC của các
nước trên thế giới cho thấy việc xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đủ
năng lực chuyên môn, tinh thần thái độ, có trách nhiệm trong thực hiện công vụ có vai trò
rất quan trong trong thành công của cải cách. Nhu cầu cần đáp ứng của xã hội ngày càng
cao và đa dạng, vì vậy đội ngũ cán bộ, công chức cần được thường xuyên đào tạo, nâng
cao trình độ, nâng cao năng lực thực hành, kỹ năng giải quyết các vấn đề mới mà thực
tiễn luôn đặt ra. Việc đưa ra các quyết sách phù hợp với từng ngành, từng địa phương,
với từng hoàn cảnh và điều kiện, trên cơ sở các mục tiêu chung, đòi hỏi cán bộ, công
chức phải có năng lực phù hợp và liên tục được tăng cường.
Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức phù hợp với yêu cầu phát triển là việc làm lâu
dài, bắt đầu từ khâu tuyển dụng cán bộ, công chức cho đến đào tạo, phát triển, đề bạt hay
khen thưởng cần hợp lý, rõ ràng, minh bạch. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy,

PGS.TS Đinh Ngọc Vượng, Viện Nhà nước và Pháp luật, Việt Nam
2. Giới thiệu tổng quan về đề án 30 và hướng dẫn việc thống kê thủ tục hành chính,
24
Tổ công tác chuyên trách cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ
3. Cải cách hành chính tại một số quốc gia và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam
đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 197-thang-6-2011 ngày 20/06/2011, TS.
Nguyễn Văn Cường - Vụ Địa phương, Văn phòng Chính phủ
4. Hàn Quốc trên đường phát triển và Tìm hiểu nền hành chính Hàn Quốc, Nhà xuất
bản Thống kê, Hà Nội
5. Một số kinh nghiệm cải cách hành chính Nhật Bản – www.vysajp.org
6. Caicachhanhchinh.gov.vn
7. />option=com_content&view=article&id=1661%3Akinh-nghiem-cai-cach-hanh-
chinh-cua-mot-so-nuoc&catid=14%3Acai-cach-hanh-chinh&Itemid=28&lang=vi
8. />sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=2&cad=rja&ved=0CCUQFjAB&url=h
ttp%3A%2F%2Fcaicachhanhchinh.gov.vn%2FUploads
%2FTapChiToChucNhaNuoc
%2Fbai14.doc&ei=PEaiULGZGcmfiAfP0oCIDA&usg=AFQjCNEEQywUzXKP
H2guP9ojFsrThZXqqg&sig2=gSvxtW3E1WvAWyr7JyP5aQ
9. />view=article&id=57caicachhanhchinh.gov.vn/uploads/News/2560/ /vi.BAI
%2014.doc
MỤC LỤC
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status