lựa chọn giới tính khi sinh ở việt nam – nhìn nhận vấn đề trong 20 năm tới dưới góc độ xã hội học - Pdf 25

Đề bài :
Hãy chọn một vấn đề trong lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học gia đình để phân
tích tập trung 3 điểm:
- Tính bức xúc của vấn đề ( 2 điểm)
- Giải thích trên cơ sở lý thuyết, dữ liệu, kết quả, nguyên nhân của vấn đề (3 đ)
- Phân tích, biện luận có tính thuyết phục về xu hướng của vấn đề trong tương lai
Bài Làm :
“Lựa chọn giới tính khi sinh ở Việt Nam – Nhìn nhận vấn đề trong 20 năm
tới dưới góc độ xã hội học”.
Đặt vấn đề:
Quy mô, chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của quốc gia
trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế cũng như văn hóa xã hội. Ổn định quy mô, nâng
cao chất lượng dân số là mục tiêu hàng đầu của nhiều nước, đặc biệt là những nước
đang phát triển và chịu nhiều tác động của việc tăng nhanh dân số như nước ta hiện
nay. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra cho nhiều nước trên thế giới và Việt Nam là tình
trạng mất cân bằng giới tính khi sinh, bất bình đẳng giới…Đó là những hệ quả của
việc sử dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến để xác định, lựa chọn giới tính thai nhi trước
khi sinh của các cặp vợ chồng hiện nay.
Ở Việt Nam hiện nay dưới sự cố gắng, nổ lực của Đảng và nhà nước, công tác
dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta thời gian qua đã đạt những kết quả quan
trọng, đặc biệt tỷ lệ tăng dân số tự nhiên liên tục giảm, từ 2,1% (giai đoạn 1979 –
1989) xuống 1,21% năm 2010. Đây là cố gắng lớn của cả nước nói chung, của ngành
dân số nói riêng. Tuy nhiên, mức sinh ở nước ta vẫn giảm chưa vững chắc. Một trong
những nguyên nhân của việc tăng nhanh dân số là do tư tưởng “trọng nam khinh nữ”
vẫn còn ăn sâu, bám rể trong suy nghĩ nhiều người Việt Nam. Điều đó khiến cho nhiều
cặp vợ chồng đã lựa chọn sự can thiệp của các phương tiện kĩ thuật để biết giới tính
của thai nhi trước khi sinh. [11]
Lựa chọn giới tính thai nhi đang là vấn đề được các nhà nghiên cứu và các
chuyên gia trong lĩnh vực dân số đặc biệt quan tâm. Việc lựa chọn giới tính thai nhi đã
dẫn đến một loạt vấn đề dân số nổi lên đó là tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh,
hiện tượng nạo phá thai gia tăng và sự bất bình đẳng giới nghiêm trọng đang xảy ra ở

tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 108 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ.
Tỷ lệ nam và nữ là nhân tố quan trọng của dân số bởi nam và nữ khác nhau ở cả
góc độ tự nhiên lẫn góc độ xã hội. Những điểm khác biệt này giúp chúng ta phân công
2
lao động hợp lý cũng như xây dựng mối quan hệ bình đẳng về giới. Theo quy luật tự
nhiên, khi sinh ra thì tỷ lệ nam và tỷ lệ nữ khá cân bằng. Để đánh giá mức độ cân bằng
giữa nam và nữ, người ta dùng chỉ tiêu “Tỷ số giới tính”, tức là số nam tương ứng với
100 nữ. Bình thường, tỷ số giới tính khi sinh ở mức 104 - 107 nam/100 nữ. Do tỷ lệ tử
vong ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái nên đến tuổi trưởng thành, tỷ lệ nam, nữ sẽ trở
nên cân bằng. (Tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam-các bằng chứng mới về thực trạng,
xu hướng và những khác biệt. UNFPA.2010)
Trên thế giới, đặc biệt ở một số nước châu Á theo báo cáo thống kê của tổ
chức UNFPA-Quỹ dân số Liên Hợp Quốc tại VN, mất cân bằng giới tính khi sinh
đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực. Dưới đây là bảng tỉ số giới tính khi sinh ở một
số quốc gia và vùng lãnh thổ giai đoạn 2004-2009.
Quốc gia Tỉ số giới tính khi sinh Thời kì
Albania 111,5 2008
Armenica 115,8 2008
Ajecbaijan 117,2 2007
Trung Quốc 120,6 2008
Georgia 111,9 2006
Ấn độ 110,6 2006-2008
Pakistan 108,9 2003-2007
Hàn Quốc 106,4 2008
Nguồn: Văn phòng thống kê UNFPA.2010
Có thể thấy, phần lớn các quốc gia có mức dao động từ 104-106 trẻ nam/100 trẻ
nữ. Cao nhất là Trung Quốc và thấp nhất là Hàn Quốc. Theo các nhà nghiên cứu của
UNFPA, nguyên nhân chính là do có sự lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp vợ
chồng.
Đặc biệt, trong báo cáo về “Tỉ số giới tính khi sinh ở VN- các bằng chứng mới

Bác sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh - Giám đốc Trung tâm Tư vấn sức khỏe sinh
sản, BV Phụ sản Trung ương khẳng định: Trong năm 2012 số phụ nữ đến bệnh viện
này đề nghị phá thai gái đang ở mức 'đáng báo động' với 3 nhóm người đến xin phá
thai với lý do lựa chọn giới tính: Thứ nhất là nhóm phụ nữ có trình độ, Thứ hai là
4
nhóm "thật thà”(chỉ rõ lí do phá) và trường hợp thứ ba là nhóm người lần đầu đã
không được bác sĩ nhận phá thai vì tiết lộ mục đích thật, vài tuần sau quay lại viện các
lý do khác. Trong số các nguyên nhân dẫn tới nạo phá thai (do sức khỏe bà mẹ, do dư
luận xã hội…) thì nguyên nhân nạo phá thai do biết trước giới tính chỉ chiếm khoảng
13 % nhưng đang ngày càng tăng.[13]
Theo Dominique Haughton and Jonathan Haughton, trong một nghiên cứu định
lượng về sở thích có con trai ở Việt Nam, đã nhận xét: nhiều bậc cha mẹ thích có ít
nhất một con trai. Điều quan trọng nhất là một số gia đình muốn lợi dụng các kĩ thuật
hiện đại để lựa chọn giới tính của con họ khi sinh ra. Chính việc này đã làm gia tăng
sự chệnh lệch lớn giữa tỉ số giới tính của nam và nữ, và trong vòng một thế hệ thì Việt
Nam phải giải quyết vấn đề mất cân bằng GT trong nền kinh tế. ( Xã hội học gia đình.
Lê Băng Tâm. Hà Nội.2012.Tr 110)
Hệ quả thứ 3 là tình trạng bất bình đẳng giới ngày càng cao. Nguyên nhân các
cặp vợ chồng sử dụng các biện pháp kĩ thuật như siêu âm, chọc ối… để biết giới tính
xuất phát từ những định kiến, quan niệm truyền thống từ lâu đã có sẵn về nam, nữ.
Tuy nhiên, việc làm này lại làm cho sự bất bình đẳng này càng trở nên nghiêm trọng
hơn. Nam giới đang ngày càng được coi trọng hơn nữ giới. Qua một cuộc khảo sát về
quan niệm sinh con trai, con gái trên gần 2.900 nam giới, có đến 46% cho biết mong
muốn của họ là có ít nhất một cậu ấm; trong khi thích con gái chỉ là 3,5%. (Khảo sát
về quan niệm con trai, con gái. Báo mới.vn.Truy cập ngày 28/12/2012). Mặc dù trong
những năm gần đây, Nhà Nước ta đang có những chính sách, biện pháp để nhằm nâng
cao vai trò và địa vị của người phụ nữ như các giải thưởng Nữ Doanh nhân xuất sắc-
cúp Bông hồng vàng, phụ nữ tham gia chính trị…nhưng dường như việc lựa chọn giới
tính của các bậc làm cha làm mẹ đã vô hình chung nối dãn khoảng cách bất bình đẳng
nam-nữ ngày càng ra xa hơn.

Vì những lý do đó, tôi đã lựa chọn vấn đề này để tìm hiểu, từ đó, đưa ra quan
điểm riêng của mình về xu hướng phát triển của vấn đề trong hơn 20 năm nữa.
Giải thích vấn đề:
Có thể thấy, việc lựa chọn giới tính trước khi sinh của các cặp vợ chồng
xuất phát từ những nhu cầu, quan niệm và hành động duy lý của họ. Dưới góc độ xã
hội học, trong bài viết này, tôi lựa chọn lý thuyết trao đổi xã hội - hành vi lựa chọn
hợp lý của Homans để giải thích vấn đề.
6
Theo G.Homans, nhà xã hội học người Mỹ thì các cá nhân hành động tuân theo
nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay
danh dự…Homans đưa ra 4 nguyên tắc tương tác giữa các cá nhân như sau:
- Định đề phần thưởng: Nếu 1 dạng hành vi được thưởng hay có lợi thì hành vi
đó có xu hướng lặp lại.
- Định đề kích thích: Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá
nhân sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự
- Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành
động đó và khả năng đạt được là lớn nhất.
- Định đề giá trị: Kết quả của hành động càng có giá trị cao với chủ thể bao
nhiêu thì chủ thể càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu.
Tiêu điểm của thuyết lựa chọn hợp lý là các chủ thể (Actor). Các chủ thể
(Actor) được xem là có mục đích hay mục tieu về cái mà hành động của họ hướng tới.
Các chủ thể ( Actor) cũng được xem là có các sở thích ( như các giá trị, các tiện ích).
Thuyết lựa chọn hợp lý không quan tâm đến tính chất các sở thích này cũng như các
nguồn của chúng. Cái quan trọng là hành động được thực hiện để đạt được các đối
tượng phù hợp với hệ thống sở thích của chủ thể ( Actor). Về nguyên tắc, lý thuyết này
cho rằng mỗi cá nhân đều xuất phát từ động cơ duy lý là lựa chọn hành động nào đem
lại lợi ích lớn nhất, có sự hiểu biết đầy đủ nhất với nguy cơ chi phí và thiệt hại nhỏ
nhất.
Đối với vấn đề này, tôi lựa chọn định đề phần thưởng và định đề kích thích –
hai trong bốn định đề quan trọng của lý thuyết trao đổi xã hội – hành vi lựa chọn hợp

(khoảng11%), còn số phụ nữ mong muốn sinh con trai cao gấp ba lần số phụ nữ mong
muốn sinh con gái 31% ( Báo cáo tình hình Tỉ số giới tính khi sinh của một số nước
Châu Á và VN. UNFPA.2010)
Để có được con trai nhiều cặp vợ chồng đã chọn các biện pháp đông tây y kết
hợp song biện pháp được chọn lựa nhiều nhất que thử trứng rụng và siêu âm xác định
giới tính thai nhi khi thai mới được 12 tuần tuổi. Đặc điểm văn hóa với nhiều phong
tục tập quán thấm đậm tư tưởng Nho giáo ở các nước châu Á trong đó có Việt Nam
làm cho suy nghĩ: “trọng nam khinh nữ”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “con
trai mới là con của mình, còn con gái là con người ta”, mong có con trai để “nối dõi
tông đường”, để “đảm trách công việc thờ cúng tổ tiên ông bà”, vẫn còn tiềm ẩn trong
8
nhận thức của một số gia đình mặc dầu những năm gần đây, cái nhìn về “con gái”
trong xã hội đã cởi mở hơn.
Như vậy, khi các cặp vợ chồng sử dụng sự can thiệp của các phương tiện kĩ
thuật để xác định giới tính, từ đó quyết định “bỏ” hay “giữ” cái thai thì họ đã nhận
thức được cái được, cái mất của mình và dĩ nhiên cái được bao giờ cũng nhiều hơn cái
mất. Nếu sinh con trai họ sẻ có người nối dõi, có chỗ dựa vững chắc sau này, đặc biệt
là giúp đỡ nhiều trong công việc hơn là con gái. Bản chất “chân yếu tay mềm”, “liễu
yếu đào tơ” của con gái theo họ không thể làm được những công việc nặng nhọc, đặc
thù như con trai. Tại một số tỉnh miền núi và miền biển, vẫn còn nhiều gia đình mong
sinh con trai để đảm đang những công việc nặng nhọc của gia đình mà con gái không
làm được như đi biển, chài lưới, khuân vác …
Lợi ích từ việc sinh con trai đối với các cặp vợ chồng dường như nhiều hơn
việc sinh con gái. Hơn thế nữa, chi phí cho việc siêu âm hoặc các biện pháp khác để
biết được giới tính thai nhi thấp, hầu hết các cặp vợ chồng dù ở hoàn cảnh nào cũng có
thể đủ tiền để làm được việc này… Chi phí rẻ, đáp ứng nhu cầu, lại nhận được sự trợ
giúp đắc lực bởi chính một số người làm công tác y tế, đặc biệt là những bác sĩ sản
khoa ở khắp các bệnh viện và phòng khám công lẫn tư đã tạo điều kiện dễ dàng, thuận
lợi cho việc lựa chọn giới tính thai nhi của các bậc làm cha làm mẹ.
Hiện nay, ở nước ta mặc dù Luật bình đẳng giới đã được thông qua, và một số

tai nhau về những biện pháp với chi phí rẻ nhất để có thể xác định được giới tính của
thai nhi.
Bên cạnh áp lực từ phía gia đình, giống như ở các quốc gia khác trong khu vực,
tư nhân hóa và thương mại hóa hệ thống chăm sóc y tế đã dẫn đến việc sử dụng quá
mức các thiết bị công nghệ để sàng lọc giới tính. Việc này, kết hợp với thực tế rằng
việc phá ba tháng giữa là hợp pháp, đã tạo ra áp lực cho phụ nữ phải đạt được đầu ra
“đúng” cho việc mang thai của mình là có con trai. (Báo cáo tỉ lệ giới tính khi sinh ở
các nước châu Á và VN. UNFPA.2010). Sự sẵn có của dịch vụ cộng với những áp lực
từ gia đình, xã hội đã khiến các cặp vợ chồng phải sinh được con trai, và họ cũng đã
tính toán một cách duy lý những phần thưởng mà họ có thể đạt được giống như những
người đi trước đã từng làm.
Như vậy, có hai nguyên nhân dẫn tới việc lựa chọn giới tính khi sinh của các
cặp vợ chồng hiện nay là do tư tưởng trọng nam khinh nữ (nguyên nhân chủ quan) và
do áp lực từ phía gia đình, dòng họ, dư luận (nguyên nhân khách quan). Mỗi nguyên
10
nhân đều xuất phát từ quan điểm và những suy tính về lợi ích, sự duy lý lựa chọn trong
việc sinh nở để sao cho có thể đạt được phần thưởng lớn nhất và chi phí bỏ ra nhỏ nhất
của các cặp vợ chồng. Việc làm này đã và đang để lại những hậu quả cho xã hội Việt
Nam nói chung và ngành dân số nói riêng. Nếu cứ kéo dài tình trạng này, trong tương
lai đàn ông Việt Nam sẻ đứng trước nguy cơ “ế vợ” cao và Việt Nam cũng giống như
các nước láng giềng bây giờ là phải nhập khẩu cô dâu. Tuy nhiên, đến lúc đó,Việt
Nam còn gặp nhiều khó khăn hơn các nước bây giờ gấp nhiều lần. Chính vì lẽ đó mà
cần phải có những biện pháp mạnh tay hơn nữa của Nhà Nước để ngăn chặn tình trạng
lựa chọn giới tính của các cặp vợ chồng và tỉ số giới tính khi sinh của Việt Nam có thể
trở lại trạng thái cân bằng.
Xu hướng phát triển của vấn đề
Để nói về xu hướng phát triển của vấn đề này trong tương lai, tôi lựa chọn cách
tiếp cận phát triển.
Paul Glick và Evenlyn Duvall là những người đầu tiên đề xuất cách tiếp cận
này ở Mỹ. Một đóng góp then chốt của cách tiếp cận phát triển là đưa ra một khung

gái ai tốt hơn.
Thứ ba, theo quy luật của sự cân bằng, khi tình trạng mất cân bằng giới tính
diễn ra ngày càng trầm trọng, đến mức báo động thì đến một lúc nào đó, nó sẻ phải
dừng lại. Giống như quy luật bình thông nhau, khi một chiếc bình chứa đầy nước thì
nó sẻ tự động rút bớt sang bình bên cạnh để 2 bình có dung tích bằng nhau.
Nhiều nhà nghiên cứu cho thấy: Việt Nam và một số nước trên thế giới như
Trung Quốc sẻ “khan hiếm phụ nữ” nếu tình trạng này cứ kéo dài. Một khi người dân
đã ý thức được hậu quả nghiêm trọng của vấn đề (tình trạng buôn bán phụ nữ, tội
phạm tình dục gia tăng, nhiều nam giới ế vợ ) họ “giật mình” và suy nghĩ lại việc làm
của mình. Lựa chọn giới tính thai nhi có phải là một biện pháp tối ưu lúc này?
Thứ tư, có thể khẳng định rằng lựa chọn giới tính thai nhi là một hành vi bị
pháp luật Việt Nam nghiêm cấm. Đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã phê chuẩn và triển
khai hàng loạt các qui định và chính sách nhằm hạn chế hiện tượng nạo phá thai, lựa
chọn giới tính khi sinh nhằm nâng cao khả năng sống của trẻ em gái, nâng cao vị thế
của phụ nữ và tăng cường bình đẳng giới.
Nhà nước ta đã ban hành nhiều biện pháp để giảm thiểu tình trạng này. Ví dụ,
Năm 2003, Pháp lệnh Dân số đã qui định rõ tại khoản 2, Điều 7 "Nghiêm cấm các
12
hành vi lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức (tư vấn, chẩn đoán giới tính của
thai nhi, phá thai )".
Tiếp đó, Quy định Nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi
được Chính phủ đưa ra ngày 16/09/2003 trong Nghị định số 104/NĐ-CP hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh Dân số. Theo đó, mọi hành vi như phổ biến các biện
pháp tạo giới tính, chẩn đoán giới tính thai nhi bằng xét nghiệm máu, siêu âm, hoặc
loại bỏ thai nhi vì lý do giới tính đều bị coi là vi phạm pháp luật và bị xử lý.
Ngày 3/10/2006 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã ký Nghị định số 114/2006/NĐ-CP Qui định xử phạt vi phạm hành chính về dân số
và trẻ em. Tại Điều 1 của Nghị định qui định rõ "Lựa chọn giới tính thai nhi là hành vi
vi phạm pháp luật về dân số và trẻ em và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy
định tại Nghị định này".

Học Quốc gia HN.
2. Vũ Thị Cúc.Viện gia đình và Giới Việt Nam. 2009. Dẫn theo UNFPA-
Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại VN).
3. Lê Băng Tâm. 2012. Tập bài giảng xã hội học gia đình. Đại học khoa
học xã hội nhân văn HN
4. Adrian C. Hayes, Nguyễn Đình Cử, Vũ Mạnh Lợi. UNFPA. 2009
5. Nguyễn Thị Tuyết. 2010 “Vấn đề giới trong lănh đạo và ra quyết định ở
ViệtNam: hiện trạng và giải phỏp”. Kỷ yếu Hội thảo Hội nghị cán bộ
khoa học nữ Đại học Quốc gia Hà Nội lần thứ 8, tr. 534 -541.
6. Nguyễn Đức Vinh : “ Tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam hiện nay: mức
độ và các yếu tố tác động” đăng trên tạp chí xã hội học số 3/2009.
7. Đoàn Minh Lộc, Nguyên Phó viện trưởng Viện CL&CSYT. "Nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh ở một số địa
phương và đề xuất các giải pháp kiểm soát mất cân bằng giới tính".
8. Tỉ số giới tính khi sinh ở Việt Nam-các bằng chứng mới về thực trạng,
xu hướng và những khác biệt. UNFPA.2010
9. Báo cáo tổng kết về nghiên cứu tỉ số giới tính khi sinh ở một số quốc gia
châu Á và Việt Nam. 2010. UNFPA.
14
10.
11.
tinh-o-muc-bao-dong/201212/171770.vnplus
12.
%E1%BB%83u-m%E1%BA%A5t-can-b%E1%BA%B1ng-gi
%E1%BB%9Bi-tinh-khi-sinh/
13.
39-bao-dong 39 aspx
14. www.baomoi.com.vn . Khảo sát về quan niệm con trai, con gái. Truy cập
ngày 28/12/2012
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status