MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VÀ CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA
VỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ
Chuyên đề
Người viết: KS. Trương Quang Vũ
Một số Chính sách và Chương trình Quốc gia về Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và Hiệu quả
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
i
Mục lục
Mục lục i
Các chữ viết tắt i
1. Nghị định 102/CP/2003 1
2. Quy chuẩn xây dựng Việt Nam (QCXDVN 09:2005) - Quy chuẩn đối với tòa nhà
hiệu quả năng lượng 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Phạm vi áp dụng 2
2.3 Đối tượng áp dụng 3
3. Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai
đoạn 2006-2010 3
3.1 Mục tiêu chính của Chương trình 3
3.2 Các nội dung chính của Chương trình: 4
4. Chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm điện giai đoạn 2006-2010 5
4.1 Mục tiêu của Chương trình: 5
4.2 Nội dung chính của Chương trình: 5
Tài liệu tham khảo a
Các chữ viết tắt
QCXDVN Quy chuẩn Xây dựng Việt Nam
2. Sử dụng các vật liệu cách nhiệt được sản xuất theo tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng để
hạn chế việc truyền nhiệt qua tường, cửa ra vào và cửa sổ.
3. Sử dụng các thiết bị được chế tạo theo tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng để lắp đặt trong
tòa nhà.
4. Bố trí hợp lý các trang thiết bị nhằm đạt được hiệu quả cao theo hướng tiết kiệm năng
lượng.
Sử dụng năng lượng trong sinh hoạt
1. Áp dụng chính sách giá năng lượng hợp lý trong sinh hoạt nhằm thúc đẩy việc sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Một số Chính sách và Chương trình Quốc gia về Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và Hiệu quả
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
2
2. Áp dụng các chỉ dẫn của Bộ Xây dựng được ban hành theo quy định tại điểm (c) khoản
3 Điều 20 Nghị định này khi sử dụng các loại vật liệu xây dựng và các trang thiết bị sử
dụng nhiều năng lượng như: máy điều hòa không khí, các thiết bị cơ khí dùng cho mục
đích thông gió, thiết bị chiếu sáng, thiết bị cung cấp nước nóng, thang máy lắp đặt trong
nhà ở để đạt mục đích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
3. Hạn chế tối đa sử dụng các thiết bị điện công suất lớn vào các giờ cao điểm của biểu đồ
phụ tải hệ thống điện.
Các chính sách hỗ trợ, khuyến khích sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
1. Các trang thiết bị, vật tư, dây chuyền công nghệ nhập khẩu cho mục đích tiết kiệm
năng lượng, các sản phẩm thuộc danh mục các sản phẩm tiết kiệm năng lượng được
khuyến khích sản xuất hay nhập khẩu được hưởng các ưu đãi về thuế theo quy định của
pháp luật.
2. Doanh nghiệp nhà nước thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng được thưởng tiết
kiệm theo quy định của pháp luật về quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với
doanh nghiệp nhà nước.
3. Doanh nghiệp có dự án đầu tư sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng, nhập khẩu dây
chuyền công nghệ mới hoặc đầu tư chiều sâu nhằm tiết kiệm năng lượng được xem xét
Những quy định trong quy chuẩn này được áp dụng đối với:
- Những công trình quy mô nhỏ: tổng diện tích sàn từ 300m
2
đến 2.499m
2
- Những công trình quy mô vừa: tổng diện tích sàn từ 2.500m
2
đến 9.999m
2
;
- Những công trình quy mô lớn: tổng diện tích sàn từ 10.000m
2
trở lên.
ii. Áp dụng theo hệ thống công trình
Những quy định trong quy chuẩn này được áp dụng cho:
(a) Lớp vỏ công trình, loại trừ không gian làm kho chứa hoặc nhà kho không có điều hoà;
(b) Những thiết bị và hệ thống của công trình bao gồm:
- Chiếu sáng nội và ngoại thất
- Thông gió
- Điều hoà không khí
- Đun nước nóng
- Thiết bị quản lý năng lượng.
3. Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả giai đoạn 2006-2010
3.1 Mục tiêu chính của Chương trình
Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao gồm các
lượng phù hợp với xu hướng chính sách giá năng lượng của các nước trong khu vực và trên
thế giới nhằm đảm bảo mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
b) Phổ biến rộng rãi các trang thiết bị có hiệu suất cao, thay thế dần các trang thiết bị có
hiệu suất thấp, tiến tới loại bỏ các trang thiết bị có công nghệ lạc hậu; giảm cường độ năng
lượng trong sản xuất; tiết kiệm năng lượng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội.
c) Khai thác tối đa năng lực của phương tiện, thiết bị; giảm thiểu mức tiêu thụ nhiên liệu
trong giao thông vận tải, triển khai thí điểm mô hình sử dụng nhiên liệu thay thế tại một số
tỉnh và thành phố lớn, hạn chế lượng phát thải của các phương tiện giao thông, bả
o vệ môi
trường.
3.2 Các nội dung chính của Chương trình:
Nhóm nội dung 1: Tăng cường quản lý nhà nước về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả,
tổ chức hệ thống quản lý về tiết kiệm năng lượng;
Nhóm nội dung 2: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền phổ biến thông tin, vận động cộng
đồng, nâng cao nhận thức, thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi
trường;
Nhóm nội dung 3: Phát triển, phổ biến các trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng,
từng bước loại bỏ các trang thiết bị hiệu suất thấp;
Nhóm nội dung 4: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các doanh nghiệp sản xuất
công nghiệp
Nhóm nội dung 5: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các tòa nhà
Một số Chính sách và Chương trình Quốc gia về Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và Hiệu quả
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
5
Nhóm nội dung 6: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong hoạt động giao thông vận
tải
4. Chương trình mục tiêu quốc gia về tiết kiệm điện giai đoạn 2006-2010
4.1 Mục tiêu của Chương trình:
i. Nâng cao nhận thức của cộng đồng, xây dựng ý thức sử dụng điện tiết kiệm và hiệu
Chương trình chiếu sáng tiết kiệm và hiệu quả: Sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả thông qua
tiết kiệm điện năng trong chiếu sáng, khuyến khích việc sản xuất, tiêu dùng những sản phẩm
chiếu sáng tiết kiệm điện để từng bước giảm số lượng tiêu thụ đèn nung sáng (đèn tròn). Phấn
đấu đến năm 2010 trên thị trường chỉ còn sử dụng 10 triệu bóng đèn tròn.
Phổ biến sử dụng thiết bị gia nhiệt nước bằng năng lượng mặt trời và sử dụng các dạng năng
lượng thay thế khác: Thúc đẩy nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu và sử dụng các thiết bị gia
nhiệt nước trong sinh hoạt và dịch vụ bằng năng lượng mặt trời và các dạng năng lượng khác
Một số Chính sách và Chương trình Quốc gia về Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và Hiệu quả
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
6
cho các hộ gia đình và các toà nhà (trung tâm thương mại, nhà chung cư, bệnh viện, trường
học, các trụ sở cơ quan nhà nước ).
Một số Chính sách và Chương trình Quốc gia về Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và Hiệu quả
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
a
Tài liệu tham khảo
NewScientist, 17 June 2006, Ecopolis now, p.38-p45
Quản lý và Tiết kiệm năng lượng, NXB ĐH Quốc Gia Tp.HCM, 2004
/>
/>
làm tiền đề cho việc đánh giá sơ bộ khả năng triển khai áp dụng các mô hình này tại Việt
Nam.
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
ii
Mục lục
Mở đầu i
Mục lục ii
Danh mục các hình iii
Các chữ viết tắt iii
1. Giới thiệu 1
2. Thu dụng nước mưa 1
2.1 Tổng quan các hệ thống thu dụng nước mưa 1
2.2 Thiết kế và vận hành các hệ thống thu dụng nước mưa 3
2.2.1 Bề mặt thu mưa 3
2.2.2 Hệ thống đường ống dẫn nước mưa 4
2.2.3 Bể chứa nước mưa 5
2.2.4 Tính toán kích thước hệ thống 5
2.5 Chất lượng nước mưa thu gom được và phạm vi sử dụng 6
2.5.1 Chất lượng nước mưa thu gom được 6
2.5.2 Phạm vi sử dụng 6
3. Hệ thống tiêu thoát nước mưa 7
3.1 Quản lý nước mưa theo hướng sinh thái 7
3.2. Các biện pháp tiêu thoát và xử lý nước mưa 8
5. Kinh nghiệm áp dụng trên thế giới 10
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
1
1. Giới thiệu
Dân số tăng nhanh, ngày càng nhiều người người phụ thuộc vào nguồn nước cấp có hạn đang
ngày càng ô nhiễm hơn. An toàn về nước, cũng như an toàn lương thực đang trở thành một ưu
tiên quan trọng đối với nhiều nơi trên thế giới.
Có hai xu hướng trong quản lý bền vững nguồn nước sạch: tìm nguồn nước sạch khác để khai
thác một cách tập trung; hoặc sử dụng một cách hiệu quả nguồn nước có hạn đang có. Cho
đến nay, phương án thứ nhất vẫn đang được quan tâm nhiều hơn so với việc tối ưu hóa hệ
thống quản lý nước.
Nếu sử dụng nước tiết kiệm (chủ yếu ở quy mô hộ gia đình) có ý nghĩa trong việc giảm áp lực
sử dụng nước cấp, vốn đang không đáp ứng nổi nhu cầu thì sử dụng nguồn nước thay thế
đóng vai trò mở rộng nguồn nước cấp. Một trong những biện pháp sử dụng nguồn nước thay
thế để mở rộng nguồn nước sạch là thu gom, lưu trữ và sử dụng nước mưa, gọi tắt là thu dụng
nước mưa (stormwater harvesting). Thu dụng nước mưa, theo nghĩa rộng có thể hiểu là kỹ
thuật thu nước mưa nhờ vào hệ thống mái, bề mặt đất hay đá và trữ nước mưa để sử dụng với
các thiết bị chứa đơn giản (lu, bồn, bể chứa…) hoặc các biện pháp kỹ thuật khác. Việc thu
gom và sử dụng nước mưa đã và đang diễn ra hơn 4000 năm nay do sự phân bố không đều
của lượng mưa về không gian và thời gian. Nước mưa là một nguồn nước quan trọng đối với
những vùng có lượng mưa cao nhưng không có hệ thống cấp nước truyền thống và những
vùng không có đủ nguồn nước mặt hay nước ngầm chất lượng tốt. Ngày nay, thu dụng nước
mưa không chỉ có ý nghĩa mở rộng nguồn nước cấp để đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng
nhanh của xã hội mà còn có vai trò điều tiết nước mưa. Bên cạnh đó, nước mưa không sử
dụng cũng phải được thu gom, xử lý và tiêu thoát một cách hợp lý để tránh vấn đề ngập lụt
cho khu dân cư, hạn chế ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và môi trường đồng thời bổ sung nước
cho nguồn nước ngầm.
và sử dụng cho các mục đích ngoài ăn uống.
(iii) Hệ thống thu gom nước mái cho nhà cao tầng vùng đô thị
Ở các tòa nhà cao tầng, hệ thống mái có thể được thiết kế để thu mưa và nước mưa thu
được được trữ trong bể chưa riêng biệt trên mái và sử dụng cho các mục đích ngoài ăn
uống.
(iv) Thu mưa với bề mặt đất
Nước mưa được thu gom một cách đơn giản nhờ vào bề mặt sàn hay bề mặt đất thu
mưa. So với thu mưa với hệ thống mái, thu mưa với bề măt đất có diện tích thu mưa
lớn hơn. Bằng cách lưu dòng chảy trong các hồ chứa được tạo nên bởi các đập nhân
tạo, kỹ thuât này có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước trong mùa khô, phù hợp
cho phục vụ nông nghiệp.
Bề mặt thu mưa
Thùng chứa
có nắp đậy
Vòi lấ
y
nước
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
3
(v) Thu mưa ở các lưu vực đô thị
Nước mưa chảy tràn thu được ở các khu vực đô thị bị nhiễm bẩn bởi nhiều loại chất ô
nhiễm. Giữ sạch lưu vực thu mưa là điều quan trọng nhất để kiểm soát chất lượng
nước mưa chảy tràn và hạn chế chi phí xử lý cần thiết.
2.2 Thiết kế và vận hành các hệ thống thu dụng nước mưa
Một trong những vấn đề quan trọng để có thể sử dụng nước mưa như một nguồn nước sạch là
áp dụng kỹ thuật thu và trữ nước mưa thích hợp. Thông thường, một hệ thống thu dụng nước
mưa bao gồm 3 thành phần: hệ thống thu gom (bề mặt thu mưa), hệ thống dẫn, và hệ thống
xi-măn
g
ha
y
tôn
(
có són
g)
Bể chứa
ferro xi-măn
g
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
4
được. Nên thường xuyên vệ sinh bề mặt thu mưa và các thiết bị thu để làm sạch bụi, lá cây và
phân chim để giảm thiểu khả năng nhiễm khuẩn. Mái thu mưa cũng không nên có cây che phủ
bên trên để giảm khả năng chim và động vật sinh sống trên cây làm ô nhiễm bề mặt thu mưa.
Thu mưa với bề mặt đất
Khi thu mưa bằng bề mặt đất, có một số kỹ thuật có thể được áp dụng để tăng lượng mưa
chảy tràn, bao gồm: (i) phát quang hoặc thay đổi lớp phủ thực vật, (ii) tăng độ dốc bề mặt
bằng cách đắp đất, và (iii), giảm khả năng thấm của đất bằng cách đầm nén bề mặt. Cũng có
thể xây dựng các bề mặt với bê tông, đá lát hoặc các vật liệu lót để thu và dẫn nước mưa đến
các bể hoặc hồ chứa. Trong trường hợp thu mưa với bề mặt đất, cần phải chú ý ngăn ngừa ô
nhiễm từ người và động vật. Nếu cần, khu vực này nên được rào lại và vệ sinh định kỳ (dọn
sạch đất, lá cây, và các vật chất tích tụ khác). Công việc vệ sinh nên được tiến hành hàng năm
trước mùa mưa chính.
2.2.2 Hệ thống đường ống dẫn nước mưa
Cần có hệ thống đường ống để dẫn nước mưa thu được từ bề mặt thu mưa (ví dụ mái nhà) đến
bể chứa. Hệ thống ống dẫn này kết nối với một hay nhiều ống dẫn nước mưa xuống từ thiết bị
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
5
Máng xối và các ống dẫn xuống cần được định kỹ thăm dò kiểm tra và làm sạch. Thời điểm
tốt nhất để kiểm tra rò rỉ là lúc trời đang mưa. Các hệ thống này cũng cần được làm sạch để
tránh nhiễm bẩn.
2.2.3 Bể chứa nước mưa
Bể chứa nước mưa có thể được bố trí cả trên hay dưới mặt đất. Chúng có thể được xây dựng
như một phần của toà nhà hay như một đơn vị riêng lẻ cách xa toà nhà. Trong thực tế có nhiều
loại thiết bị chứa nước mưa. Các yếu tố cần quan tâm trong thiết kế thay đổi theo loại bể chứa
và các yếu tố khác. Các bể chứa nên được xây dựng bằng các vật liệu trơ ví dụ như bê tông
cốt sắt, sợi thủy tinh, polyethylene, thép không gỉ. Các bể chứa ferro xi-măng và các lu chứa
bằng đất hay vữa hồ cũng thường được sử dụng. Ngoài ra, có thể sử dụng các bể thông nhau
làm từ gốm hay polyethylene. Bể chứa polyethylene nhỏ gọn nhưng có sức chứa lớn (1,000
đến 2,000 lít), dễ làm sạch và có nhiều miệng để nối với ống dẫn. Không nên gia cố bể bằng
tre vì tre có thể bị hư hỏng do mối, vi khuẩn và nấm.
Cần phải chú ý ngăn ngừa sự xâm nhập của các chất ô nhiễm vào bể chứa. Các nguồn ô
nhiễm từ bên ngoài có thể là rác, phân chim chóc và thú, côn trùng Bể/thùng chứa nước sử
dụng cho ăn uống cần phải có nắp đậy kín và chắc chắn để tránh chất bẩn vô tinhd rơi vào bể,
tránh muỗi sinh sản, ngăn sự xâm nhập của côn trùng, chuột và để ngăn ánh sáng để hạn chế
sự phát triển của tảo bên trong bể. Vòi nhận nước vào cũng nên có lớp lọc thô để loại trừ rác,
chất bẩn, lá cây và các chất rắn khác.
Bên cạnh đó, bể chứa cần phải được kiểm tra và vệ sinh định kỳ. Tất cả các bể cần được thiết
kế sao cho có thể cọ rửa hoàn toàn đáy và tất cả các vách bên trong. Đáy bế chứa nên có độ
dốc, có hố chứa cặn và đường thoát để thu và xả cặn lắng. Nên cọ rửa bể chứa với dung dịch
clorine và sau đó rửa sạch với nước. Cần phải khử trùng bằng clo đối với các bể chứa nước
cho uống và sinh hoạt. Ngăn bể chứa làm hai phần hoặc sử dụng bể chứa đôi sẽ thuận tiện hơn
cho việc vệ sinh bể chứa.
Hệ thống lấy nước (ví dụ vòi, máy bơm ) phải không được làm nhiễm bẩn nước. Vòi nước
nên được lắp trên đáy bể ít nhất là 10cm để tránh làm khoấy động lớp cặn lắng (nếu có) ở đáy
bể chứa. Vòi và đường ống dẫn nước mưa nên được đánh dấu riêng và dán nhãn phân biệt rõ
2.5 Chất lượng nước mưa thu gom được và phạm vi sử dụng
2.5.1 Chất lượng nước mưa thu gom được
Trong quá khứ, nước mưa được xem là sạch và có thể sử dụng không qua xử lý. Hiện nay,
điều này chỉ còn đúng ở một số nơi. Ở nhiều khu vực, nước mưa thu được có thể chứa các
chất ô nhiễm hoặc bị ảnh hưởng bởi mưa acid và có thể cần phải được xử lý.
Nói chung, chất lượng nước mưa có các thông số lý hoá khá tương đồng với tiêu chuẩn chất
lượng nước uống quy định bởi WHO; tuy nhiên, nước mưa có thể có pH thấp do các khí ô
nhiễm giao thông và công nghiệp như SO
2
, NO
x
… Thêm vào đó, nước mưa có thể chứa chì
do vật liệu mái thu mưa. Vì vậy, vật liệu làm mái cần được cân nhắc cẩn thận. Ngoài ra, một
số mẫu nước mưa vượt tiêu chuẩn của WHO về coliform tổng và feacal coliform do phân
chim và các động vật khác.
Hiện nay, chất lượng nước mưa thu từ hệ thống mái được kiểm soát bằng cách tách dòng lần
xả đầu và vệ sinh định kỳ bể chứa. Đun sôi nước là cách đơn giản và chắn chắn nhất để diệt
khuẩn. Chorine dưới dạng thuốc tẩy gia dụng có thể được sử dụng để diệt trùng. Hệ thống diệt
trùng bằng UV có chi phí cao. Hướng nghiên cứu nhiều triển vọng là sử dụng ánh sáng mặt
trời sẵn có để tiêu diệt coliform và streptococci nhờ quá trình oxy hóa quang học.
2.5.2 Phạm vi sử dụng
Như đã đề cập, ngày càng có nhiều nhu cầu sử
dụng nước mưa ở cả quy mô hộ gia đình cũng
như công cộng. Ở phạm vi hộ gia đình, tuỳ theo chất lượng nước mưa thu được, nước mưa
được trữ và sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như tưới cây, vệ sinh nhà cửa, xả toilet và
cả sử dụng cho máy giặt. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn sức khoẻ, không nên sử dụng nước
mưa cho ăn uố
ng trừ khi có những biện pháp xử lý triệt để. Ở quy mô khu dân cư, nước mưa
thu được có thể sử dụng cho tưới các mảng xanh trong không gian công cộng.
g
xuốn
g
L
ọc
Chả
y
t
r
àn
bơm
Máy giặt Bồn cầu
N
ước tưới vườn
Không sử dụng
cho ăn uống
Bể chứa nước mưa
N
ước uống
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
8
trường hợp không có chủ đích thu nước mưa để sử dụng, nước mưa được tiêu thoát lợi dụng
các quá trình tự nhiên như thấm, bốc hơi hoặc được cây xanh hấp thụ. Nước mưa được tạo
điều kiện để thấm dần vào đất, hạn chế lượng nước mưa chảy tràn (có thể cuốn theo chất ô
nhiễm và gây ngập) đồng thời bổ sung nước cho mạch nước ngầm. Để hạn chế lượng chảy
tràn không mong muốn, diện tích xanh trong khu dân cư phải giữ ở một tỷ lệ nhất định, hạn
chế diện tích không thấm. Bề mặt có cây cỏ sẽ làm chậm lại tốc độ chảy tràn của nước mưa và
ất ô nhiễm hoà tan
(kim loại nặng…) có thể xâm nhập vào mạch nước ngầm. (UNEP, 2002).
Trong trường hợp nước thải và nước mưa được thu gom trong cùng một hệ thống, nước mưa
cũng sẽ được xử lý cùng với nước thải. Khi đó, như đã trình bày, việc xử lý sẽ không hiệu quả
khi có các đợt mưa to do nước do nước thải sẽ tràn qua hệ thống xử lý mà không được xử lý.
Cần có hệ thống thu gom riêng biệt cho nước mưa và nước thải. Nước mưa có thể được tiêu
thoát và xử lý theo các mô hình mô tả dưới đây. Nguyên lý cơ bản là sử dụng các bề mặt thấm
hay bề mặt thực vật để lọc các chất rắn và cho nước thấm qua đi vào đất. Các kỹ thuật này rất
hữu ích và nên được xem xét ứng dụng ở các đô thị mới ở Tp.HCM cho vỉa hè và các khu vực
vui chơi giải trí.
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
9
Hình 5 Hố thấm (UNEP, 2002)
Hình 6 Vỉa hè có khả năng thấm(UNEP, 2002) Bề mặt thấm
Chảy tràn
Thấm vào nền đất
Lớ
p
ló
Singapore với diện tích nhỏ hẹp và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao đang không
ngừng tìm kiếm các nguồn nước thay thế và các phương pháp mới để khai thác nguồn nước.
Gần 86% dân số Singapore sống ở nhà cao tầng. Các tòa nhà này được lợp mái nhẹ đóng vai
trò bề mặt thu mưa. Nước mưa thu được từ mái được trữ trong các bể chứa trên mái và được
sử dụng cho các mục đích ngoài ăn uống. Nghiên cứu gần đây ở một khu dân cư đô thị 742ha
cho thấy thu dụng nước mưa từ mái không chỉ tiết kiệm nước cấp mà còn tiết kiệm năng
Nước vào
Nước ra
Nước thoát
Nước
chảy
tràn
Quản lý nước tổng hợp cho Khu dân cư Sinh Thái – Các giải pháp thu dụng và tiêu thoát nước mưa
Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng Khu dân cư sinh thái tại TP.HCM:
Nghiên cứu điển hình cho Khu đô thị mới Thủ Thiêm
11
lượng để bơm nước lên các tầng cao. Chi phí cho một m
3
nước mưa là S$0,96 so với S$1,17
của nước cấp truyền thống.
Singapore cũng có các hệ thống thu dụng nước mưa lớn như hệ thống tại sân bay Changi.
Nước mưa từ đường băng và các mảng xanh xung quanh được thu vào hai hồ chứa, một được
thiết kế để cân bằng dòng chảy giữa nước chảy tràn và nước triều và hồ còn lại để thu nước
chảy tràn. Nước thu được được dùng cho các mục đích ngoài ăn uống như thực tập chữa cháy
và vệ sinh, dội toilet. Nước mưa thu được thay thế cho 28 – 33% tổng lượng nước sử dung và
tiết kiệm mỗi năm khoảng S$390.000.
Tokyo, Nhật Bản
Ở Tokyo, nước mưa được khuyến khích thu dụng để giảm tình trạng thiếu nước, kiểm soát lũ
và đảm bảo nước cho các trường hợp khẩn cấp. Đấu trường Sumo Ryogoku Kokugikan được
Berlin, Đức
Vào tháng 10 năm 1998, các hệ thống sử dụng nước mưa được đưa vào sử dụng tại Berlin
trong chương trình cải tạo lại thành phố ở mô mô lớn cho Quảng trường DaimlerChrysler
Potsdamer để kiểm soát lũ trong thành phố, tiết kiệm nước và cải thiện vi khí hậu. Nước mưa
rơi trên 32,000m
2
mái của 19 tòa nhà được thu gom và trữ trong bể chứa ngầm 3500m
3
và
được sử dụng để vệ sinh toilet, tưới cây xanh và thay nước cho các hồ nhân tạo.
Trong một dự án khác ở tòa nhà Belss-Luedecke-Strasse, Berlin, nước mưa từ tất cả các bề
mặt mái (khỏang 7000m
2
) được xả vào hệ thống cống thóat nước mưa và được chuyển đến bể
chưa nước 160m
3
cùng với nước mưa chảy tràn trên đường phố, bãi đậu xe…(khoảng
4200m
2
). Nước mưa này được xử lý qua một số bước và được sử dụng cho vệ sinh toilet và
tưới vườn. Thiết kế của hệ thống đảm bảo hầu hết chất ô nhiễm của dòng chảy đầu được tách
ra khỏi hệ thống cống thoát nước mưa đến hệ thống cống nước thải để được xử lý tại nhà
máy. Ước tính có khoảng 58% nước mưa được giữ lại nhờ hệ thống này, tiết kiệm khoảng
2430m
3
nước cấp mỗi năm cũng như bảo tồn được một lượng nước ngầm tương ứng mỗi năm
cho Berlin.
Cả hai hệ thống không chỉ bảo tồn nước cho thành phố mà còn giảm nguy cơ chất ô nhiễm từ
hệ thống nước thải sinh hoạt bị đưa ra sông do quá tải với nước mưa. Đây là một cách tiếp cận
để kiểm soát nguồn ô nhiễm không-điểm là một phần quan trọng trong chiến lược lớn hơn để