nghiên cứu trình độ tập luyện của vận động viên nhảy cao và chạy cự ly ngắn thành phố hồ chí minh - Pdf 25

SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ SỞ THỂ DỤC THỂ THAO
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỀ TÀI NGHIỆM THU TÊN ĐỀ TÀI: “NGHIÊN CỨU TRÌNH ĐỘ TẬP
LUYỆN CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN NHẢY
CAO VÀ CHẠY CỰ LY NGẮN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH”

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
CN.NGUYỄN ĐĂNG KHOA
xác đònh: “Đổi mới và cải tiến công tác đào tạo tài năng thể thao theo hướng trọng
tâm hóa, đa dạng hóa, xã hội hóa và hiện đại hóa, tạo nên sự vượt ngưỡng, đột biến
thành tích thể thao để nhanh chóng đạt được thành tích thể thao cao trong khu vực,
tiếp cận Châu lục và Thế giới”. Công tác xây dựng lực lượng vận động viên trẻ là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Ngành thể dục thể thao Thành phố Hồ Chí
Minh trong những năm vừa qua, hiện nay và ở những năm tiếp theo. - 2 -
Điền kinh Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần lớn vào thành tích chung của
Thể thao Việt Nam, trong đó có nhiều VĐV CLN - Nhảy cao đã tham gia đội tuyển
điền kinh Quốc gia và đạt thành tích cao tại các giải thi đấu như: Nguyễn Đình
Minh, Trònh Đức Thanh, Lương Tích Thiện, Lâm Hải Vân, Trương Hòang Mỹ Linh,
Trần Thò Phương Mai, Nguyễn Quang Vinh … Nhưng hiện nay trình độ VĐV trẻ lớp
sau của TP HCM chưa đáp ứng việc bổ sung lực lượng cho đội trẻ Quốc gia. Vận
động viên ở lứa tuổi này là lứa tuổi bước vào giai đọan chuyên môn hóa sâu, giai
đọan phát triển khả năng tối đa về chuyên môn (tốc độ- sức bền), khả năng phối
hợp vận động, sự ổn đònh về thể lực ở mức cao, tinh thần và ý chí thi đấu v.v…
Muốn đánh giá trình độ năng lực thi đấu duy trì và nâng cao thành tích môn
Điền kinh của Việt Nam nói chung và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc
nâng cao trình độ tập luyện của VĐV trong đó đánh giá là việc làm thường xuyên
hệ thống của các HLV cũng như các nhà quản lý TDTT.
Tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên trẻ
CLN - Nhảy cao về từng mặt : thể lực, tâm lý , hiønh thái, kỹ-chiến thuật … là vấn đề
thực tiễn và cần thiết để thiết lập chỉ tiêu kiểm tra, so sánh trình độ tập luyện hiện
tại và tìm giải pháp nâng cao phù hợp hơn cho huấn luyện VĐV CLN - Nhảy cao,
góp phần nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, làm cơ sở cho việc xây dựng
mô hình đào tạo dài hạn cho VĐV điền kinh trẻ ở TP HCM. Đó là việc luôn thôi
thúc các nhà chuyên môn, các HLV tìm ra cái mới, khoa học và hiệu quả hơn trong
phương pháp huấn luyện cho VĐV chạy cự ly ngắn và nhảy cao.

- 4 -
CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU :
1.1.1 Trình độ tập luyện của VĐV :
Trong quy trình đào tạo VĐV nhiều năm, việc đánh giá trình độ tập luyện
(TĐTL) của VĐV các cấp theo độ tuổi, giới tính và môn thể thao chuyên sâu rất có
nghóa về mặt thực tiễn và lý luận, đặc biệt trong tuyển chọn và huấn luyện
VĐV.Theo TS.Nguyễn Thế Truyền và các cộng sự, TĐTL là một phức hợp gồm
nhiều thành tố Y-Sinh, tâm lý, kỹ – chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng cao
nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài của lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như
các liệu pháp hỗ trợ ngọai sinh khác [40].
Khái niệm về quá trình biến đổi lâu dài của TĐTL luôn gắn liền với phạm
trù “phát triển “ và”thích nghi” Phát triển là một quá trình biến đổi trạng thái của
tất cả các thành tố tạo nên thực thể trong tự nhiên và xã hội diễn ra theo quy luật
nhất đònh. Sự biến đổi các thực thể đó có mối quan hệ tương hỗ về lượng và chất,
tiùnh ngẫu nhiên, tính đa dạng của những biến đổi đó theo xu hướng chung và tồn tại
lâu dài. Sự phát triển TĐTL nhờ tác dụng lâu dài của lượng vận động tạo nên
những biến đổi về chức năng và cấu trúc trong các cơ quan và các hệ thống cơ thể.

Những biến đổi đó, xác đònh mức độ khả năng của các hệ thống chức năng cơ
thể”.[10]
Theo PGS-TS Nguyễn Tóan và PGS-TS Phạm Danh Tốn : “ TĐTL của VĐV,
đó là kết quả của việc tổng hợp giải quyết các nhiệm vụ trong thực tiễn huấn luyện
thể thao. TĐTL thể hiện ở mức độ nâng cao chức phận cơ thể, năng lực họat động
chung và chuyên môn của VĐV ở mức hòan thiện các kỹ xảo thể thao phù
hợp”.[28] - 6 -
Theo TS.Nguyễn Ngọc Cừ : “ TĐTL là phạm trù đa giá trò, có tính tương đối
trừu tượng, tiềm ẩn, không thể nhận biết ngay được bằng trực quan, vì nó là tổng
hòa những biến đổi thích nghi của vô số các yếu tố thuộc các lónh vực khoa học Y-
Sinh, sư phạm và tâm lý diễn ra bên trong cơ thể của VĐV hợp lý, thông qua quá
trình huấn luyện lâu dài, được biểu hiện ra bên ngòai bằng năng lực vận động và
thành tích thể thao. TĐTL được coi là tiền đề, là nền tảng cho sự sáng tạo các thành
tích thể thao. Nhưng không phải lúc nào TĐTL tốt cũng được biểu hiện một cách vô
điều kiện ra ngòai bằng thành tích thể thao cao. Bởi lẽ chúng ta không thể lường
hết và cũng không thể điều tiết được tất cả những yếu tố cho phối tiêu cực đối với
các cuộc thi đấu thể thao”.[8]
Theo Từ điển TDTT Trung Quốc xuất bản năm 1991 thì : “ TĐTL là mức đo
khả năng thích nghi của cơ thể VĐV với vận động . Do ảnh hưởng của lượng vận
động trong tập luyện, tính thích nghi về mặt sinh học của cơ thể cũng thay đổi tức là
nâng cao năng lực họat động chức năng của các tổ chức , cơ quan, hệ thống và năng
lực tiềm tàng của VĐV, cũng cải thiện năng lực điều tiết của hệ thống thần kinh
trung ương đối với chức năng của các tổ chức, cơ quan. Trong họat động TDTT được
biểu hiện ở mức độ phát triển tổng hợp về các mặt tố chất thể lực, kỹ thuật chiến
thuật môn chính, trí tuệ và tố chất tâm lý. TĐTL càng cao, năng lực thể thao càng
mạnh, thành tích thể thao càng tốt. Khi đánh giá TĐTL của VĐV, cần tổ chức kiểm
tra chuyên môn và đánh giá theo các số liệu đã đo đạc được so với các tài liệu có

những mặt cấu thành khác nhau của trình độ thi đấu và tập luyện gồm: mức độ và
đặc điểm của sự phát triển thể lực ( chiều cao, cân nặng, sự phát triển cơ bắp, độ
dài chân…)các tố chất vững vàng, chức năng từng lọai thể hình hay lọai xôma (bình
thường, yếu đuối, khỏe mạnh), năng lực phối hợp vận động, thời gian tiềm phục của
phản ứng vận động, trình độ kỹ thuật và chiến thuật, các phẩm chất tâm lý ý chí
…mà theo lý luận huấn luyện khoa học, những tố chất cấu thành của TĐTL. - 8 -
b. Nguyên tắc cơ bản cáo nhất là trạng thái sung sức thể thao , năng lực thi
đấu thể thao việc đánh giá TĐTL là tổng hợp. Có thể dùng hai hay ba bài thử
nghiệm đơn giản nhưng xác thực phản ánh được những mặt khác nhau nhưng là bản
chất của TĐTL, sẽ cho lượng thông tin có ích hơn nhiều so với việc sử dụng thiết bò
phức tạp và hàng chục chỉ số, khi những chỉ số nầy không thể hiện được những yếu
tố bản chất chủ yếu.
c. Để đánh giá TĐTL phải kiểm tra TĐTL, của môn đó có là một ở những
giai đọan huấn luyện nhất đònh, dùng phương pháp và công cụ (dụng cụ và phương
tiện) kiểm tra thích hợp, để nhận được những trò số phản ánh được TĐTL của VĐV,
về hình thái và chức năng của cơ thể, tố chất vân động, kỹ thuật, chiến thuật, tri
thức cơ bản về TDTT, lý luận môn chuyên sâu, tố chất tâm lý. Kiểm tra phải đủ độ
tin cậy, tính khách quan, tính hiệu quả phản ánh chính xác một mặt nào đó của
TĐTL), tính khác quan (những người kiểm tra khác nhau cho kết quả như nhau trên
cùng một đối tượng kiểm tra).
1.1.2. Trình độ tập luyện của VĐV chạy CLN và nhảy cao:

Điền kinh là một môn thể thao bao gồm các nội dung đi bộ, chạy, nhảy ,ném
đẩy và nhiều môn phối hợp. Điền kinh được phân theo tính chất hoạt động có chu
kỳ và hoạt động không có chu kỳ. Nó là môn thể thao tổng hợp luôn lấy hình thái
vận động là họat động tự nhiên của con người. Chạy CLN là môn chạy chu kỳ có
miền năng lượng averobic là chính còn nhảy cao thuộc sức mạnh tốc độ , hình thái

độ và sức bền tốc độ , biên độ bước là yếu tố cần thiết để hạn chế công suất để
thực hiện số bước trong quá trình hoàn thành cự ly thi đấu.
Trên cơ thể con người nói chung và cơ thể vận động viên nó riêng, có rất
nhiều kích thước (chỉ tiêu) để đo. Xuất phát từ đặc thù của từng môn thể thao
chuyên sâu và ở các vận động viên chạy CLN – Nhảy cao ta quan tâm tới các nhóm - 10 -
chỉ tiêu sau: Chiều cao ; Cân nặng ; Chỉ số Quetelet ; Dài chân A ; Dài chân B; Dài
chân C ; Dài chân H ; Dài gân Asin ; Dài cẳng chân A ; Vòng cổ chân.
Khi biết được trình độ toàn diện và điều kiện thể hình của vận động viên,
huấn luyện viên có thể dự báo khá chính xác thành tích chuyên môn hẹp của họ.
Tầm vóc của vận động viên đóng vai trò đáng kể với thành tích của họ. Rõ ràng
vận động viên của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này. Chính vì thế, để có
thành tích tốt trong các môn thể thao, phải triệt để khai thác các vấn đề trên.
1.1.2.1. Cơ sở sinh lý môn chạy cự ly ngắn:

a. Đặc điểm chung
:
Môn chạy ngắn có các cự ly 60m, 100m, 200m, 400m. Kỹ thuật môn chạy là
động tác chu kỳ mang tính đôïng lực, cường độ tối đa, chủ yếu phát triển tốc độ và
sức bền tốc độ. Đặc điểm chung kỹ thuật chạy ngắn là tốc độ cao nhất, cường độ
lớn nhất, thư giãn ngắn nhất. Thành tích toàn cự ly phụ thuộc vào các nhân tố: tốc
độ phản xạ, sự tăng tốc và năng lực duy trì tốc độ cao nhất, chất lượng thực hiện kỹ
thuật tốt.
b. Đặc điểm sinh lý
:
Trong chạy CLN hệ thần kinh có đặc điểm tính linh hoạt cao hơn do hoạt
động thay nhau giữa cơ đối kháng và cơ co rút cần thay đổi nhau giữa quá trình
hưng phấn và ứng chế ở trung khu vận động vỏ não, để nâng cao được tính linh hoạt

Tỉ lệ nguồn cung cấp năng lượng
Môn điền kinh
Hệ Phosphagène
và glycolyzis
Hệ glycolyzis và
Oxy hoá
Hệ Oxy hoá
100 m, 200m
98 2 -
400 m
80 15 5
800 m
30 65 5
1500 m
20 55 25
3000 m
20 40 40
5000 m
10 20 70
10.000 m
5 15 80
Marathon
- 5 95 - 12 -
Qua bảng hệ thống năng lượng môn điền kinh, thấy rõ hệ năng lượng
Phosphagène (ATP, CP – yếm khi phi lactat) và hỗn hợp Phosphagène và
glycolyzis (đường phân – yếm khí lactat) tham gia vào những hoạt động trong CLN
chiếm tỉ lệ phầm trăm rất cao.
- 13 -
- Miền cung cấp năng lượng phosphagène:
bao gồm 2 hợp chất mang năng
lượng là ATP, CP thuộc hệ năng lượng yếm khí phi lactat (không sản sinh ra acid
lactic khi phân giải).
Hệ phosphagène có lượng dự trữ thấp nhất. Tổng cộng cả ATP và CP chỉ
khoảng 100 mili phân tử gam trong 1 kg trọng lượng cơ khô, ký hiệu là mmol.kg
-1
D,
nhưng lại có tốc độ và công suất phân giải cao nhất. Tốc độ phân giải tối đa là 4.4
phân tử gam ATP trong 1 phút (ký hiệu là ~p.mol.min
1
). Công suất tối đa của ATP
là 11.2, CP là 8.9 mili phân tử gam trên 1kg trọng lượng cơ khô trong 1 giây. Thời
gian đạt công suất tối đa chưa đến 1 giây và thời gian tối đa cung cấp năng lượng
cho hoạt động với cường độ cực hạn của ATP và CP trong khoảng 6 Ỉ 8 giây là cạn
kiệt.
Như trên, hệ phosphagène không có khả năng thoả mãn đủ nhu cầu năng
lượng cho những hoạt động thể lực yếm khí có tốc độ quá 10m/giây, kéo dài trong
vòng 10 giây như chạy 100m.
Tuy vậy, hệ phosphagène là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu và có hiệu
quả cao cho những loạt hoạt động với động tác mà kỹ chiến thuật đòi hỏi tốc độ cực
hạn, sức mạnh tốc độ tối đa (sức mạnh bộc phát) kéo dài không quá 6 Ỉ 8 giây.
Các hệ thống trao đổi
chất
Năng lượng
Lượng dự trử
(mmol.kg
6 Ỉ 8 giây

1 Ỉ 3 phút
Trao đổi chất ưa khí:
- Glycogen trong cơ
- Lipit (mỡ, acid béo)

365
49

13000
không hạn chế

1 Ỉ 2 giờ
nhiều giờ
- 14 -
- Miền cung cấp năng lượng glycolyzis:
là hệ cung cấp năng lượng yếm khí
do quá trình phân giải của đường glucose và glucogen tạo ATP cho cơ thể hoạt
động. Đặc điểm chủ yếu của quá trình đường phân yếm khí là tạo ra axit lactic, vì
thế hệ glycolyzis còn gọi là hệ yếm khí lactat.
Bảng tốc độ phân giải và công suất tối đa của các vật chất mang năng lượng
Quá trình trao đổi chất
Năng lượng
Công suất tối đa

Glycose Ỉ CO
2
+ H
2
0
Acid bé CO
2
+ H
2
0

2.7
1.4

sau 3 phút
sau 30 phút

0.167
0.177

Trong thực tiễn hoạt động thể thao gần như không có cự ly hoặc môn nào huy
động đơn độc một hệ năng lượng, mà thường là cung cấp năng lượng hỗn hợp của 2
hoặc 3 hệ . Năng lượng hỗn hợp phosphagène – glycolyzis tạo ra công suất gần
bằng ATP, CP và để cung cấp năng lượng cho hoạt động kéo dài từ 15 giây Ỉ 30
giây thuộc vùng cường độ cực hạn, và 3 Ỉ 5 phút vùng cường độ dưới cực hạn. Vì
vậy, hệ thống năng lượng hỗn hợp phosphagène – glycolyzis thực sự là cơ sở vật
chất quyết đònh năng lượng vận đông và thành tích của VĐV CLN.[27]
Như vậy, trong huấn luyện năng lực chuyên môn cho môn chạy CLN luôn
đưa ra những bài tập hoạt động trong khoảng từ 1 giây Ỉ 45 giây nhằm nâng cao
khả năng hoạt động của cơ thể thích nghi với hệ thống cung cấp năng lượng này.

h : h chiều cao từ trọng tâm cơ thể với mặt đất
b. Đặc điểm sinh lý:

* Hệ thần kinh:
Tính mẫn cảm của hệ thần kinh cao. Bởi vì môn nhảy có kỹ thuật chủ yếu là
dậm nhảy, bay trên không, qua xà và rơi xuống là tổ hợp với các đôäng tác không
chu kỳ tổ hợp lại .

*
Vai trò, chức năng của giác quan:
+
Vai trò, chức năng cơ quan cảm thụ bản thể trong các giai đọan kỹ thuật
trên không, qua xà yêu cầu vò trí đầu phải chính xác.
Vì vò trí đầu chính xác có vai trò mấu chốt đònh hướng không gian khi qua xà,
nên vò trí đầu thay đổi ảnh hưởng rõ đến cơ quan cảm thụ, gây phản xạ căng thẳng
cơ thể, ảnh hưởng đến động tác toàn thân.
+Tác dụng của cơ quan cảm giác tư thế.
Do động tac nhảy kích thích cơ quan cảm thụ, sự phản xạ gây phản xạ điều
chỉnh cân bằng khi chạm đất, do vậy môn nhảy nâng cao chức năng cơ quan tiền
đình cơ thể. - 16 -
Vai trò của cơ quan thò giác: vân động viên môn nhảy trước khi thực hiện kỹ
thuật cần phải quan sát chính xác bước nhảy và bước dậm nhảy và phán đoán chính
xác độ cao của xà, góc độ dậm nhảy. Do vậy khả năng phán đoán thời gian và
không gian của thò giác của vận động viên phải được nâng cao.
* Sự thay đổi hệ thần kinh thực vật
:
Mỗi lần nhảy thời gian tương đối ngắn, sau đó được nghỉ, nên sự thay đổi

trung duy trì cả tần số và độ dài bước chạy lại thực hiện trong quá trình chạy rất
căng thẳng ở các cuộc thi đấu quan trọng. Các VĐV có kinh nghiệm, khi chạy 100m
đều có không dưới 3 Ỉ 4 lần điều chỉnh tần số và độ dài bước, mục đích duy trì tốc
độ có được cho đến hết cự ly.
Dựa vào cơ sở y sinh học, hoạt động cơ thể của VĐV CLN trong thi đấu chủ
yếu diễn ra từ 1 giây đến 45 giây. Vì thế, việc huấn luyện cũng chỉ đưa vào kế
hoạch những bài tập hoạt động với cường độ tối đa trong khoảng thời gian đó, nhằm
nâng cao năng lực VĐV. Những bài tập trong thời gian trên, là những loại bài tập
về sức mạnh, sức mạnh tốc độ, sức bền tốc độ.
Theo tài liệu “Tính chu kỳ trong huấn luyện thể thao” của TS. Lâm Quang
Thành và ThS. Bùi Trọng Toại, mối quan hệ giữa các tố chất vận động được mô
hình hoá như sau:[36]

Sức mạnh Sức bền Tốc độ Mền dẻo
Sức mạnh -
Bền
Sức mạnh
Tốc độ

Sức bền
tốc độ
Sức nhanh Khả năng
di động
Sức mạnh

động đặt ra đủ lớn.
Có 2 hình thức huấn luyện sức mạnh:
- Huấn luyện sức mạnh tónh lực.
- Huấn luyện sức mạnh động lực.
Huấn luyện sức mạnh chạy CLN chủ yếu theo hình thức động lực, trong
huấn luyện sức mạnh động lực có 3 hình thức vận động: khắc phục, nhượng bộ và
phối hợp giữa khắc phục và nhượng bộ.
- Hình thức vận động khắc phục: hình thức vận động, nội lực khắc phục được
ngoại lực với tốc độ nhanh nhất tương ứng với độ lớn của lực cản lựa chọn. Hình
thức vận động khắc phục đặc biệt thích hợp với huấn luyện SM các môn thể thao ưu
thế về chế độ hoạt động khắc phục của hệ thần kinh cơ, trong đó tiến trình lực –
S - 19 -
thời gian cần phải phù hợp rộng rãi với yêu cầu và nhiệm vụ thi đấu chuyên môn
CLN những bài tập như kéo bánh xe, chạy có người kéo.
- Hình thức vận động nhượng bộ: trong huấn luyện SM tối đa, ngoại lực có
thể nhiều hơn 100% năng lực SMTĐ. Tác dụng lực vượt mức này xuất hiện khi nội
lực cao nhất được sử dụng, trong đó cường độ co cơ tối đa cần thiết cho toàn bộ
phạm vi biên độ động tác. Ngoài ra, tốc độ vận động nhỏ cũng thích hợp trong huấn
luyện SM tối đa, nên cần bảo đảm cường độ vận động tối đa trong thời gian co cơ
tối ưu.
Trong huấn luyện CLN, cách huấn luyện theo chế độ nhượng bộ được áp
dụng để phát triển sức bật: bật 1,3,5,10 bước ;bật rào ;bật bục ;bật tại chổ trong hố
cát, bật cóc……
SM tối đa là nền tảng cho SMTĐ. Thường những bài tập phát triển SM tối đa
tập với tạ (khoảng từ 80 Ỉ100 % trọng lượng tối đa), trong đó mỗi đợt tập có thể
lặp lại từ 2 Ỉ 8 lần.
Phát triển SM tối đa với các phụ trọng nặng là một hình thức huấn luyện SM

để nâng cao thành tích thể thao đối với môn chạy ngắn.
- Phát triển sức nhanh phản ứng vận động đơn giản.
- Phát triển sức nhanh động tác và tần số động tác.
Sự phát triển huấn luyện SM – nhanh đòi hỏi không những phải nâng cao tốc
độ co cơ mà còn nâng cao SM tối đa. Ý nghóa của SM tối đa với năng lực SM nhanh
phụ thuộc vào các yêu cầu của cấu trúc thành tích môn thi đấu. Trong những môn
SM tối đa là cơ sở quyết đònh tốc độ vận động tối ưu, phải phối hợp huấn luyện SM
tối đa cả SM nhanh với nhau. Đó là phương pháp huấn luyện đặc biệt. Việc huấn
luyện này phải đảm bảo sự biến đổi một cách tốt nhất năng lực SM – nhanh. Hiện
nay vấn đề này đang gây ra những khó khăn và người ta còn chưa nhận rõ đầy đủ
về phần đóng góp của năng SM tối đa vào thành tích SM – nhanh và tỷ lệ tối ưu
giữa huấn luyện SM tối đa và SM nhanh cho các môn thi đấu riêng biệt. - 21 -
Nhiệm vụ chủ yếu của VĐV CLN là mau chóng đạt được tốc độ tối đa và
duy trì đến hết cự ly. Trong đó, tần số và độ dài bước có mâu thuẫn với nhau ở mức
nhất đònh. Việc tăng độ dài bước chạy sẽ làm giảm tần số bước và ngược lại. Vì
vậy, trong thực tế, VĐV CLN không thể chạy với độ dài bước tối đa hoặc tần số
bước tối đa, mà chỉ có thể chạy với tần số và độ dài bước nào đó để không làm
giảm tốc độ chạy.
Người ta thấy việc tăng 1 yếu tố nào trong khi duy trì được độ lớn của yếu tố
kia, hoặc đồng thời tăng được cả hai, là việc rất phức tạp. Thực tế cách giải quyết
nhiệm vụ trên là tăng đến mức tối đa vai trò các thành phần của tốc độ trong mối
quan hệ giữa chúng. Sử dụng các bài tập chuyên môn để phát triển tần số và độ dài
bứơc. Tốc độ chạy khi đó không đạt mức tối đa, nhưng tăng được các thành phần
của tốc độ chạy và tiếp theo sẽ tạo khả năng để VĐV phối hợp độ dài bước ở mức
cao hơn, để nâng được tốc độ chạy.
Phương pháp tổ chức có hiêïu quả nhất nhằm huấn luyện SM nhanh (tốc độ)
và sự phối hợp với biên đôï bước cho CLN, thường sử dụng những bài tập: gánh tạ

.
¾
Phương pháp huấn luyện khả năng mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động
đối với VĐV chạy ngắn (100m):

a. Mềm dẻo:
Nhiệm vụ cơ bản phát triển khả năng mềm dẻo của VĐV chạy ngắn làn
hoàn thiện các tố chất chạy theo yêu cầu đòi hỏi của chạy ngắn, cần chú ý trước
tiên đến tăng tính linh hoạt ở các khớp cổ chân, vai, hông, đùi …
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong các bài tập phát triển khả năng
mềm dẻo là phương pháp lập lại: Việc tập luyện mềm dẻo phải diễn ra liên tục và
hệ thống, tốt nhất là tập hàng ngày và nên tập buổi sáng, sau khi khởi động. Trong
các buổi tập chính, bài tập dẻo được đưa vào phần chuẩn bò mà không đưa vào phần
cuối của buổi tập, vì cơ thể đã mệt mỏi cần đưa các bài tập chuyên môn phát triển
sức nhanh vào chương trình huấn luyện khả năng mềm dẻo. Việc lựa chọn các bài - 23 -
tập phát triển năng lực mềm dẻo cần xuất phát từ yêu cầu của môn thể thao chuyên
sâu, cần căn cứ vào đối tượng lứa tuổi và trình độ tập luyện của người tập.
b. Khả năng phối hợp vận động
:
Là một trong những tố chất quan trọng, nếu như các năng lực sức mạnh, sức
bền dựa trên cơ sở thích ứng về mặt lượng thì khả năng phối hợp vận động phụ
thuộc chủ yếu và các quá trình điều khiển hành vi vận động.
Trong chạy ngắn khả năng phối hợp vận động là thực hiện những động tác
phức tạp, cũng như khả năng giữa giải quyết nhanh và chính xác các nhiệm vụ vận
động và khả năng điều chỉnh vận động tương ứng với từng giai đoạn kỹ thuật từ lúc
xuất phát cho đến lức về đích.
Khả năng phối hợp vận động là một tố chất tổng hợp bao gồm trong mình

- Sức mạnh chuyên môn là yếu tố cơ bản của nhảy cao là cơ sở để phát riển các
tố chất khác, là nhân tố để hoàn thiện kỹ thuật và nâng cao thành tích. Trong nhảy
cao sức mạnh đặc trưng nhất là sức mạnh bộc phát.
- Sức bền chuyên môn trong nhảy cao giúp cho VĐV khi tập luyện, thi đấu trong
thời gian dài vẫn đủ năng lực, duy trì được cường độ lớn hoặc cường độ cự hạn khi
nhảy.
- Mềâm dẻo và năng lực phối hợp, kỹ thuật nhảy cao “lưng qua xà” đòi hỏi VĐV
đôï mềm dẽo và năng lực phối hợp cao. Độ mềm dẽo và khả năng phối hợp không
chỉ năng cao hiệu lực điều khiển, khống chế cơ bắp của VĐV, giúp cho hoàn thiện
và cải tiến động tác kỹ thuật mà còn tăng cường khả năng tự bảo vệ và là biện
pháp có hiệu quả phòng ngừa chấn thương cho VĐV. Trong huấn luyện thể lực cho
VĐV nhảy cao các HLV cần sắp xếp huấn luyện thể lực chung và thể lực chuyên
môn tuỳ theo chu kỳ huấn luyện hay giai đoạn huấn luyện . Quan điểm cần chú ý
trong quá trình hình thành và phát triển các tố chất thể lực luôn có mối quan hệ chặt
chẽ vơi sự hình thành kỹ năng kỹ xảo vận động, mức độ phát triển của các cơ quan
và hệ cơ trong cơ thể. Sự phát triển các tố chất xảy ra không đồng bộ, mỗi tố chất
phát triển theo một nhòp độ riêng theo những thời kỳ và các giai đọan khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status