1
ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP MIỀN NAM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM NCCGTBKT NÔNG NGHIỆP
BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG KHẨU
PHẦN NUÔI DƯỠNG BÊ ĐỰC LAI
HOLSTEIN FRIESIAN (HF)
HƯỚNG SỮA LẤY THỊT
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Mục tiêu:
Mục tiêu chung của đề tài là xác định khẩu phần nuôi dưỡng bê đực lai Hà Lan
theo hướng thịt phù hợp với điều kiện tự nhiên của TP. Hồ Chí Minh nói riêng, của
miền Nam nói chung; Từ đó hình thành và phát triển hướng chăn nuôi bò thịt đạt
hiệu quả kinh tế cao. Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
Sản xuất và thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu địa phương, thay
thế sữa bò mẹ sử dụng cho bê đực sau khi sinh cho đến khi cai sữa.
Thử nghiệm khẩu phần nuôi dưỡng bê đực sau khi cai sữa đến khi giết thịt
trên cơ sở tận dụng nguồn thức ăn địa phương.
Chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiển sản xuất.
- Nội dung (theo RD):
Đề tài sẽ thực hiện theo 03 nội dung chính như sau:
v Nội dung 1: Sản xuất thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu địa
phương thay thế sữa bò mẹ nuôi bê đực lai Hà Lan sau khi sinh (1-3 ngày
tuổi) đến khi cai sữa (4 tháng tuổi).
§ Nghiên cứu tổ hợp 02 công thức chất thay sữa từ các nguyên liệu như :
công thức 1: bột đậu nành enzym, bột gạo, béo thực vật, vitamin, khoáng
và enzym gọi là SCMR (Soybean calf milk replacer); công thức 2: bột
đậu nành enzym, sữa ít béo, vitamin, khoáng và enzym gọi là CMR (Calf
3
Milk Replacer); tạo thành hỗn hợp bột có 20-24% chất béo; 22-24% chất
đạm, khoáng tổng số 10%, xơ thô 0,5-1%, ẩm độ 0,3-0,5%, lactose 40%.
§ Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển khi sử dụng chất
thay sữa từ bột đậu nành (SCMR), sữa thay thế CMR và sữa bò mẹ gọi là
CM (Cow Milk) trên bê đực lai Hà Lan sau khi sinh.
v Nội dung 2: Thử nghiệm khẩu phần nuôi dưỡng bê sau khi cai sữa đến khi
giết thịt trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên liệu tại địa phương.
• Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của việc thay thế cỏ, cám trong khẩu phần bằng
khi sinh Thành – Đồng Nai.
Thí nghiệm 2 : Ảnh hưởng của việc
thay thế cỏ, cám trong khẩu phần bằng
các phụ phẩm nông nghiệp đã được
chế biến như rơm ủ 4% urê, vỏ khoai
mì khô, khoai mì lát, hèm bia, xác mì
đến khả năng sinh trưởng và phát triển
của bê giai đoạn 5-14 tháng tuổi
Hoàn thành thí nghiệm cho 24 bê đực lai
Hà Lan tại Hóc Môn và 21 bê lai Hà Lan
(9 bê cái và 12 bê đực) tại Long Thành từ
07/2007 đến 05/2008 (bê từ 5 đến 14 tháng
tuổi)
Thí nghiệm 3: Nuôi vổ béo bê lai
hướng sữa lấy thịt theo kỹ thuật phối
hợp khẩu phần tổng hợp (giai đoạn 15-
18 tháng tuổi)
Hoàn thành thí nghiệm vỗ béo tại 02 địa
điểm: 31 bò đực lai Hà Lan, giống ≥ F3;
trọng lượng bình quân 220 kg tại 03 hộ
chăn nuôi ở Hóc Môn; 18 bò lai Hà Lan tại
Long Thành (9 bò đực và 9 bò cái) trên cơ
sở sử dụng khẩu phần có mức năng lượng
(ME) khác nhau từ 2.300 đến 2.500
kcal/kg DM khẩu phần; đạm thô (CP) từ
10-12%
Phân tích hiệu quả kinh tế và chuyển
giao kết quả nghiên cứu
Tổ chức 02 buổi hội thảo tại Hóc Môn và
Vì thế, việc áp dụng phương thức ni bê bằng thức ăn thay thế sữa (Milk replacer)
với giá rẻ hơn sữa ngun, chi phí thấp hơn so với giá sữa ngun, lại dễ tiêu thích
hợp với hệ tiêu hóa bê sẽ là nguồn ngun liệu dồi dào là nhân tố góp phần làm
giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận cho người chăn ni bò sữa, thúc đẩy phong
trào chăn ni bê đực theo hướng thịt ở địa phương, và từ đó nuôi bò sẽ trở thành
một nghề của người nông dân Việt Nam.
6
Ở các nước chăn ni tiên tiến, vấn đề sử dụng sữa thay thế ni bê đực theo
hướng sản xuất thịt đáp ứng được đến 40% tổng sản lượng thịt sản xuất và hướng
này ngày càng phát triển vì năng suất và chất lượng thịt sản xuất theo hướng này
mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Ở nước ta việc sử dụng sữa thay thế ni bê vẫn
còn hạn chế là do: chăn ni thường khơng tập trung và mang tính nhỏ lẽ; giá sữa
thay thế ngoại nhập còn khá cao; quan trọng hơn hết là do trình độ và sự e ngại của
người chăn ni khi sử dụng những sản phẩm khơng có nguồn gốc tự nhiên; và cuối
cùng là làm sao giải quyết tốt những vấn đề có liên quan như: hiệu quả kinh tế,
chất lượng sữa thay thế, phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng… Chính vì thế việc
thử nghiệm sử dụng sữa thay thế và xây dựng khẩu phần ăn trên cơ sở sử dụng
ngun liệu tại chổ cho bê sau cai sữa trong điều kiện Việt Nam có ý nghóa thiết
thực trong chăn nuôi bò hiện nay.
1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu.
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Ni bê đực hướng sữa để lấy thịt là một khâu quan trọng trong ngành chăn
ni nói chung và chăn ni bò sữa, bò thịt nói riêng ở các nước có nền chăn ni
tiên tiến. Qui trình ni bê đực hướng sữa đã được chuẩn hóa và tập trung chủ yếu
vào thức ăn thay sữa (Milk Replacer). Từ đó, nhiều cơng ty thức ăn gia súc nước
ngồi hiện nay đã sản xuất các thức ăn thay sữa cũng như các chế phẩm bổ sung cho
đàn bê đực hướng sữa ni lấy thịt. Hàm lượng dinh dưỡng thức ăn thay sữa cũng
đã được chuẩn hóa, theo đó:
ăn (cỏ xanh, cỏ khô, cỏ ủ, phụ phế phẩm …), kỹ thuật vỗ béo (vỗ béo nhanh, vỗ béo
chậm …) tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước.
Mặc dù quy trình chăn nuôi bê đực sữa lấy thịt đã được xây dựng song nhiều
đề tài nghiên cứu ở các nước vẫn tiếp tục triển khai. Các nghiên cứu tập trung vào
các lĩnh vực như ứng dụng công nghệ sinh học như bổ sung các loại men vi sinh
vào khẩu phần cho bê, bổ sung các loại khoáng chất, nghiên cứu sâu về sự phát triển
dạ cỏ của bê với các chế độ nuôi dưỡng khác nhau.
K.E.Lesmeister và ctv, 2004 kết luận rằng bổ sung 2% men vi sinh
Saccharomyces cerevisiae làm tăng khả năng ăn vào của bê, khả năng tăng trọng và
sự phát triển của dạ cỏ. R.A.Ackerman và ctv, 2004 khi nghiên cứu hai chế độ cho
bú sữa khác nhau kể từ ngày thứ ba gồm (i) cho ăn 1 lần/ngày với việc pha chất thay
sữa/nước là ¼ và (ii) 2 lần/ngày với việc pha chất thay sữa/nước là 1/9. Kết quả
không thấy có sự ảnh hưởng của hai chế độ cho ăn sữa này đối với tăng trọng và
8
sức khỏe của bê. Gennard Matone và ctv, 2005 khi nghiên cứu việc bổ sung một số
chất khoáng đã kết luận rằng việc bổ sung 30-60 mg sắt/con/ngày và 6 mg
đồng/con/ngày đã có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe của bê giai đoạn bú sữa. W.W.
Lengemann và N.N. Allen, 2005 đã nghiên cứu về sự phát triển của dạ cỏ ở bê con
với chế độ bú sữa hạn chế. Kết quả cho thấy rằng với việc bổ sung các thức ăn rắn,
các vi khuẩn yếm khí đã hình thành và phát triển từ tuần thứ 3, các a xít dạ cỏ tương
đương với mức của gia súc trưởng thành vào tuần thứ 6 song số lượng protozoa và
vi khuẩn đạt được mức bình thường muộn hơn một thời gian. B.J.Suarez và ctv,
2006 khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung thức ăn hỗn hợp với thành phần
carbohydrate khác nhau cho bê đực sữa nuôi lấy thịt thấy rằng với nguồn
carbohydrate khác nhau thì đặc điểm và sự phát triển dạ cỏ của bê là khác nhau.
Tương tự, các tác giả cũng kết luận rằng đặc điểm thức ăn thô và tỷ lệ thức ăn
thô/thức ăn tinh có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu và sự phát triển dạ cỏ của bê đực sữa
nuôi lấy thịt. Bổ sung rơm làm giảm khả năng tiêu thụ vật chất khô trong khi đó
trọng đạt mức 896g – 1.090 g/ngày và tác giả cũng nhận định rằng bằng kỹ thuật
mới này có thể sản xuất thịt bò có chất lượng cao hơn từ giống bò bản địa. Ở Mỹ,
công nghệ vỗ béo bò thịt đã gần như hoàn chỉnh và theo đó vỗ béo bò gồm 4 bước
tăng thức ăn tinh từ 35, 55, 75 và 90%, trong đó mỗi bước khoảng 5-7 ngày với mục
đích bò thích nghi được với sự thay đổi khẩu phần vỗ béo. Với khẩu phần có 75%
thức ăn tinh mới chỉ được xem là khởi đầu vỗ béo khi nào đạt trên 80% là thực sự
vỗ béo. Tuổi đưa vao vỗ béo là khá sớm dao động từ 12 đến 15 tháng tuổi và vỗ béo
tích cực trong khoảng 3-4 tháng. Ở Úc công nghệ vỗ béo bò bao gồm 3 ngày đầu
với 100% thức ăn thô, ngày 4-6 với 80% thức ăn thô, ngày 7-9 với 60% thức ăn thô,
ngày 10-12 với 40% thức ăn thô, ngày 13-15 với 20% thức ăn thô và từ ngày 16 trở
đi vỗ béo với khẩu phần trên 80% tinh. Ở Úc, tuổi đưa bò vào vỗ béo có phần muộn
hơn so với Mỹ và một số nước Châu Âu do đặc điểm về con giống (khả năng tăng
trọng không bằng các giống bò thịt của Châu Âu) cũng như phương thức nuôi (chủ
yếu là chăn thả quảng canh trong giai đoạn sinh trưởng). Thông thường bò trên 18
tháng tuổi mới đưa vào vỗ béo và thời gian vỗ béo cũng lâu hơn (4-5 tháng). Ở Nhật
có hai hình thức vỗ béo là vỗ béo nhanh và vỗ béo chậm. Vỗ béo nhanh với thời
gian vỗ béo chỉ khoảng 2-3 tháng trong khi vỗ béo chậm kéo dài đến 4-5 tháng tuỳ
thuộc vào mục đích tạo sản phẩm. Nhìn chung, hoàn toàn có thể sử dụng nguồn
thức ăn sẵn có để nuôi dưỡng và vỗ béo bò thịt, tăng trọng của giai đoạn vỗ béo dao
động từ 500-1.200 gam/con/ngày (bình quân khoảng 800 gam/con/ngày) tùy thuộc
vào nhóm giống và khẩu phần thức ăn.
10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trung tâm Nghiên cứu KHKT và Khuyến nông TP Hồ Chí Minh đã xây
dựng 5 mô hình điểm nuôi bê đực (giống lai hướng sữa) tại 5 hộ ở xã Thới Tam
Thôn, huyện Hóc Môn cho kết quả rất tốt. Theo những hộ nuôi này, việc giữ bê đực
để nuôi lấy thịt hiệu quả hơn thay vì bán làm bê thui, lại dễ nuôi, tăng trọng nhanh
(từ 100kg/con lên 300 –360kg/con trong 12 – 18 tháng. Lợi nhuận thu được dao
đối với bê đặc biệt là khi bê mới sinh ra, vì sữa là nguồn thức ăn chứa đầy đủ dưỡng
chất dưới dạng dễ tiêu hóa, là một hệ thống keo phức tạp, là một chất màu trắng ánh
vàng chứa hàng trăm chất khác như mỡ sữa, protein sữa, đường sữa, chất khoáng,
vitamin, men, kích thích tố… Sữa giữ vai trò quan trọng là do trong sữa có chứa đầy
đủ các loại acid amin thiết yếu, 18 loại acid béo, 12 loại sinh tố và nhiều nguyên tố
đa và vi lượng. Do đó để có sự phát triển hoàn thiện thì sữa cần phải có đầy đủ
dưỡng chất.
Thông thường tất cả động vật nhai lại khả năng kháng bệnh có được là do
chúng được uống sữa đầu. Khả năng kháng bệnh của chúng không phải có được
nhờ các kháng thể trong máu. Vì vậy, điều quan trọng là gia súc non phải được
uống sữa đầu ngay sau khi sinh càng sớm càng tốt. Do đó bê cần phải được bú sữa
đầu 5-7 ngày, vì trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể và là thức ăn dễ tiêu hóa
thỏa mãn các nhu cầu dinh dưỡng của bê.
Ngoài ra sữa đầu còn chứa hàm lượng MgSO
4
cao, hoạt động như là một
chất tẩy nhẹ, tẩy “cứt su” làm sạch đường tiêu hóa. Độ chua của sữa đầu cao (48-
50
o
T) ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột. Đặc biệt sữa đầu chứa
Immunoglobulin cao (5,5-6,8%).
Trong sữa đầu có hàm lượng chất dinh dưỡng và kháng thể cao hơn gấp 4 lần
sữa thường, có hàm lượng chất béo và protein cao. Vitamin A trong sữa đầu nhiều
gấp 10 lần so với sữa thường. Bê mới sinh ra không có sinh tố A dự trữ nên sữa đầu
là thức ăn không thể thay thế được và lượng vitamin A cung cấp từ sữa đầu được dự
trữ trong cơ thể bê nhiều tuần sau khi sinh. Sữa đầu thường có độ chua cao hơn so
với sữa thường có tác dụng ức chế một số vi khuẩn có hại và protein trong sữa đầu
dễ tiêu hóa. Do vậy cần sử dụng tối đa sữa đầu để nuôi bê sơ sinh.
Chất lượng sữa đầu sẽ bị giảm nhanh trong những lần vắt sau đó, thành phần
và đặc điểm của sữa đầu và sữa thường được trình bày trong bảng 1.1
a. Yêu cầu chất thay thế sữa.
Chất thay thế sữa phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Là những thực liệu dễ tiêu hóa.
- Có độ ngon miệng cao giúp bê thích khi uống.
- Đảm bảo tốt về sức khỏe, giúp bê tăng trọng nhanh.
- Giảm nguy cơ tiêu chảy.
- Hòa tan tốt trong nước.
- Đạt hiệu quả kinh tế.
- An toàn sinh học.
b. Sử dụng Protein đậu nành trong sữa thay thế.
Tại Mỹ và các nước chăn nuôi công nghiệp khác đã sử dụng những sản phẩm
như: sữa gầy, sữa tách béo, casein, whey protein để sử dụng trong sản phẩm sữa
13
thay thế tuy nhiên với giá thành khá đắc vì thế họ đã nghiên cứu tìm ra sản phẩm
protein từ đậu nành dùng trong chất thay sữa mà có thể chấp nhận được. Hiện nay
protein đậu nành đã được sử dụng khá rộng trong chất thay sữa. Trong bột đậu nành
ly trích chứa 50% protein và các acid amin thiết yếu, nhất là
lysin và methionin.
Đậu nành là loại hạt họ đậu chủ lực được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, với giá
thành rẻ, an toàn, có thể làm cho thịt thơm ngon và được dùng với tỷ lệ cao trong
khẩu phần của gia súc. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu tố hạn chế khi sử dụng
protein đậu nành trong sữa thay thế là do sự hiện diện của những yếu tố kháng dinh
dưỡng trong đậu nành như:
- Các chất ức chế trypsin trong đậu nành kết hợp với enzyme phân cắt protein
trypsin và chymotrypsin làm enzym bị vô hiệu hóa khiến khả năng tiêu hóa
protein bị giảm đi, kết quả protein không tiêu hóa sẽ lên men ở kết tràng gây
tiêu chảy
- Các kháng nguyên quan trọng nhất trong bột đậu nành là: glycinin và β-
tự nhiên là nguồn cung cấp protein tốt nhất.
Quy trình sản xuất Dabomb-P
Bột đậu nành bỏ vỏ
Tiệt trùng (130-135
o
C, 5s)
Lên men lactobacillus
Làm khô chân không (60
o
C, 5hrs)
Nghiền
Dabomb-P
Su Chiang Co đã tiến hành thí nghiệm trên heo cai sữa sau 28 ngày, giống lai
3 máu Duroc * Yorkshire * Landrace, tiến hành tại trại chăn nuôi Joy Chan’s Farm,
Shilo, Đài Loan, 2003. Dùng 25% Dabomb thay cho 21,1% bánh dầu đậu nành (48)
dựa trên thành phần protein thô cho kết quả rất tốt.
Ngoài ra, một sản phẩm của công ty trên cũng được chúng tôi đưa vào sử
dụng trong sữa thay thế là Rubys protein, đây là chất thay thế plasma với những đặc
tính như sau (do công ty giới thiệu) :
15
v
Công dụng:
Sản phẩm sữa ít béo của Hà Lan với tên thương mại là Super cowlac được sử
dụng trong sữa thay thế là do thành phần dinh dưỡng tốt và giá thành thấp. Sản
phẩm này được xem như là nguồn cung protein có nguồn gốc động vật với thành
phần dinh dưỡng như sau: vật chất khô (DM) 97%; đạm thô (CP) 40%;
carbonhydrate 35%; béo thô 2%; xơ thô 2%; khoáng tổng số 7% và một số acid
amin thiết yếu Lysin 2,2%; Methionin + Cystin 1,15%; Calcium 0,9% và Phosphor
0,85% (nguồn Su Chiang Co, 2007).
16
d. Tổ hợp công thức chất thay sữa.
• Công thức 1-CT1, dựa trên nền là nguồn đạm thực vật.
Dabomb đáp ứng được đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho thú dạ dày đơn và là
nguồn thức ăn có hàm lượng protein thực vật rất dồi dào có thể thay thế cho protein
trong sữa vì thế chúng tôi sử dụng Dabomb như nguồn nguyên liệu chính trong
công thức 1 của chất thay sữa. Để đáp ứng được giá trị dinh dưỡng như sữa nguyên
vì thế ngoài nguyên liệu chính là Dabomb còn được kết hợp với khoáng, vitamin,
enzyme (Rubys Protein), bột gạo, béo thực vật gọi chung là SCMR (Soybean Calf
Milk Replacer).
• Công thức 2-CT2, dựa trên nền là nguồn đạm động vật.
Với giá thành tương đối, mà vẫn đáp ứng được đầy đủ giá trị dinh dưỡng như
sữa nguyên, vì thế chúng tôi chọn sản phẩm Milklac (sữa ít béo) để cho ra công
thức 2 kết hợp với vitamin, khoáng, enzym (Rubys Protein) gọi là CMR (Calf Milk
Replacer).
17
2.1. Nội dung 1: Sản xuất thử nghiệm chất thay sữa từ nguồn nguyên liệu
sữa An Phước, Long Thành, Đồng Nai (XNBSAP); 02 trại chăn nuôi gia
đình hộ ông Nguyễn Văn Ngàn (Hộ A) và hộ Ông Nguyễn Thành Phương
(Hộ B) tại Hóc Môn TP.HCM (TCNGĐ), thời gian thí nghiệm kéo dài trong
18
04 tháng từ 21/03/2007 đến 21/08/2007 (Danh sách bê, trọng lượng sơ sinh
đính kèm phần phụ lục).
- Bố trí thí nghiệm: 57 bê đực và cái lai Hà Lan, giống F
2
, F
3
tại XNBSAP và
≥F
3
tại TCNGĐ; Trong đó, 30 bê của 2 hộ ở Hóc Môn và 27 bê của
XNBSAP, được phân làm 03 nhóm : nhóm 1 gọi là nhóm đối chứng (ĐC) sử
dụng sữa bò mẹ hay sữa nguyên (Cow milk-CM), nhóm 2 sử dụng sữa thay
thế CT1 (SCMR) và nhóm 3 sử dụng sữa thay thế CT2 (CMR). Các bê trong
mỗi nhóm sẽ tương đồng với nhau về trọng lượng, giống, phái tính. Thí
nghiệm được bố trí theo kiểu 2 yếu tố (khẩu phần, phái tính) ở Long Thành
và 1 yếu tố (khẩu phần) ở Hóc Môn.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
ĐC-CM CT1-SCMR CT2-CMR
Địa điểm
Đực Cái Đực Cái Đực Cái
XNBSAP (con) 6 3 6 3 6 3
Hộ A (con) 5 - 5 - 5 -
Hộ B (con) 5 - 5 - 5 -
Tổng cộng 16 3 16 3 16 3
Như vậy, chính thức từ ngày thứ 12 trở đi (bê được uống sữa bò mẹ trong 7
ngày ở tất cả các lô) bê ở 2 lô thí nghiệm (CT1 và CT2) sử dụng hoàn toàn sữa thay
thế thay cho sữa bò tươi. Sữa thay thế được pha bằng nước ấm khoảng 40-50ºC
theo tỷ lệ 1kg sữa + 8 lít nước tạo thành 9 lít sữa thay thế. Lượng sữa sử dụng cho
bê tối thiểu 4 kg/con/ngày, chia làm 02 lần/ngày (sáng 40%/tổng sữa tiêu thụ cả
ngày; chiều 60%/tổng sữa tiêu thụ cả ngày). Khi bê được 2-3 tuần tuổi (14-21 ngày
nuôi), tập cho bê ăn sớm (áp dụng cho cả 3 lô thí nghiệm) bằng những thức ăn có
chất lượng tốt như cỏ non (cỏ sả nhỏ ở Long Thành; Cỏ lùn ở Hóc Môn), cỏ được
phơi héo trước khi cho bê ăn nhằm tránh tình trạng chướng hơi; Cám hỗn hợp sử
dụng là loại cám viên số hiệu 1102, do công ty Cargill sản xuất có 17% đạm thô.
Khi bê được 72 ngày tuổi (10 tuần hay 2,5 tháng tuổi) sẽ cai sữa lúc này bê đã ăn
được trên 0,8kg thức ăn tinh hỗn hợp/ngày và cỏ khoảng 2-3 kg/con/ngày. Cỏ và
cám cho bê ăn tự do sau khi uống sữa ngày 2 lần (cám trước cỏ sau).
• Giai đoạn 2 (giai đoạn sau cai sữa từ 73-120 ngày):
Tùy theo điểm thí nghiệm mà thực liệu sử dụng sẽ khác nhau; ở Long Thành
thức ăn thô chủ yếu là cỏ sả lá nhỏ (Panicum maximum K280) và cám hỗn hợp
dạng bột do CP sản xuất có 16% đạm thô; Ở Hóc Môn ngoài cỏ tươi (cỏ lùn xanh)
và cám hỗn hợp (loại C40 do Proconco sản xuất có 15% đạm thô) còn bổ sung
thêm hèm bia và xác mì.
Trong giai đoạn này, cỏ được cung cấp cho bê ăn tự do ngày 2 lần; thức ăn
tinh hỗn hợp sử dụng là cám dạng bột loại C40 từ 1-1,5kg/con/ngày. Ngoài ra, hèm
bia và xác mì được trộn chung bổ sung thêm cho bê theo tỷ lệ 2 hèm bia/1 xác mì
ăn tự do ngày 2 lần sau khi cho ăn cỏ và cám.
- Chỉ tiêu theo dõi:
§ Lượng sữa và số lượng cỏ, cám , hèm, xác mì tiêu thụ thực tế theo cá thể.
20
§ Tăng trọng bê: theo dõi cá thể bằng cân đại gia súc, ½ tháng 1 lần trong
thời gian 4 tháng. Bao gồm 2 chỉ tiêu:
rơm ủ urê 4%; thức ăn tinh là cám hỗn hợp, hèm bia, xác mỳ.
- Đối tượng bê đưa vào thí nghiệm gồm 45 bê chọn ra từ thí nghiệm 1, phân làm 3
nhóm. Mỗi nhóm có 15 bê, sao cho tương đối đồng đều về tuổi, giống, phái tính
và trọng lượng giữa các nhóm (Danh sách bê thí nghiệm đính kèm phụ lục).
- Thời gian thí nghiệm kéo dài trong 10 tháng bắt đầu từ 08/2007 đến 05/2008 tại
trại của Xí nghiệp bò sữa Long Thành-Đồng Nai; hộ anh Nguyễn Văn Ngàn (hộ
A) và hộ anh Trương Hoài Phương (hộ B) tại Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
- Khẩu phần thí nghiệm bao gồm 3 dạng khẩu phần : Khẩu phần 1 (T1) cỏ (ăn tự
do), cám hỗn hợp dạng bột C40 do Proconco sản xuất có 15% đạm thô; Khẩu
phần 2 (T2) cỏ, rơm ủ urê (thay thế 25% lượng chất khô của cỏ trong khẩu phần
1), thay thế cám hỗn hợp bằng hèm bia, xác mì; Khẩu phần 3 (T3) cỏ, rơm ủ urê
4% (thay thế 50% lượng chất khô của cỏ trong khẩu phần 1), và thức ăn tinh hỗn
21
hợp cũng được thay thế bằng hèm bia và xác mì. Giá trị dinh dưỡng khẩu phần
được tính toán sao cho phù hợp với từng cá thể bò thí nghiệm. Lượng vật chất
khô tổng số ăn được bình quân của mỗi bò từ 3-3,2%/trọng lượng bò (NRC,
2000). Tỷ lệ tinh/thô khẩu phần là 30/70 dựa theo kết quả nghiên cứu của các tác
giả Đinh Văn Cải và ctv (2000) ; Phạm Văn Quyến và ctv (2001) ; Nguyễn Văn
Vinh và ctv (2003). Thức ăn cung cấp theo từng lô theo đúng số lượng tính toán
2 lần/ngày (tinh và thô cho ăn riêng) thức ăn tinh cho ăn trước và thức ăn thô cho
ăn sau, theo dõi tăng trọng từng cá thể bằng cách cân trọng lượng 30 ngày/lần.
Chi tiết thành phần hóa học của các thực liệu sử dụng trong khẩu phần của các
thí nghiệm được trình bày qua bảng 2.1.
Bảng 2.1. Thành phần hóa học của các thực liệu sử dụng trong thí nghiệm
ME (kcal/kg)
Thực liệu n VCK (kg) CP (g/kg) CF (g/kg)
b c
Cỏ sả nhỏ
-
Cám HH 1102
a
0,86 170 55 3000
-
Cám HH C40
a
0,87 150 100 2500
-
Cám HH Vina
a
0.86 140 100 2400
-
Ghi chú:
a
Thành phần dinh dưỡng ghi trên bao bì;
b
năng lượng được tính toán theo công
thức của Wardeh, 1981; Thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc, Viện Chăn nuôi.
- Bố trí thí nghiệm theo kiểu phân lô đồng đều 1 yếu tố ở Hóc Môn (khẩu phần)
và 2 yếu tố ở Long Thành (khẩu phần và phái tính), mỗi lô có 15 con, tổng số có
3 lô (3 dạng khẩu phần) với 45 bê thí nghiệm bao gồm 21 bê tại XNBSAP; 24 bê
tại 02 TCNGĐ (mỗi trại 12 bê).
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
T1 T2 T3
Địa điểm
Đực Cái Đực Cái Đực Cái
XNBSAP (con) 4 3 4 3 4 3
Hộ A (con) 4 - 4 - 4 -
Hộ B (con) 4 - 4 - 4 -
tự nhiên, rơm ủ urê 4%; thức ăn tinh: cám hỗn hợp, vỏ khoai mì, khoai mì lát,
mày bắp và bổ sung thêm 100g urê + 100g rỉ mật/con/ngày. Lượng vật chất khô
tổng số ăn được bình quân của mỗi bò từ 3-3,2 kg/100 kg trọng lượng hơi
(NRC, 2000). Ngăn chuồng thành từng ô thí nghiệm, mỗi cá thể bò được cho ăn
thức ăn theo đúng số lượng tính toán 2 lần/ngày (tinh và thô cho ăn riêng, tinh
trước thô sau)
- Bố trí thí nghiệm theo kiểu phân lô đồng đều, mỗi lô có 4 con , tổng số có 3 lô
23
(3 dạng khẩu phần) với 12 bò thí nghiệm.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
KP 1 KP 2 KP 3
Số bò thí nghiệm (con) 4 4 4
Sau khi kết thúc thí nghiệm, chọn 01 bò/lô mỗ khảo sát đánh giá chất lượng
quầy thịt.
b. Đợt thí nghiệm 2
.
- Gia súc thí nghiệm: 37 bò lai Hà Lan, 14-15 tháng tuổi, giống F3, F4; trọng
lượng bình quân 240 kg chọn ra từ thí nghiệm 2, được chia thành 3 nhóm,
tương ứng với nhau theo từng cặp về trọng lượng, giống, phái tính trong mỗi
nhóm sử dụng cho thí nghiệm khẩu phần với các mức năng lượng khác nhau
trong thời gian là 3 tháng theo phương thức nuôi nhốt hoàn toàn (danh sách bò
thí nghiệm trong phụ lục đính kèm).
- Địa điểm và thời gian : Thí nghiệm triển khai tại 3 địa điểm là XNBSAP (18 bò
bao gồm 9 bò đực và 9 bò cái lai hướng sữa); 2 hộ chăn nuôi là hộ anh Nguyễn
Văn Ngàn (hộ A) có và Trương Hoài Phương (hộ B), Hóc Môn bao gồm 19 bò
đực lai hướng sữa trong thời gian 03 tháng từ ngày 06/2008 đến 09/2008.
- Khẩu phần: thử nghiệm 3 dạng khẩu phần có các mức năng lượng khác nhau:
2,3 Mcal/kg DM (Khẩu phần 1 – KP 1); 2,4 Mcal/kg DM (khẩu phần 2 – KP 2)
- Trọng lượng quầy thịt xẻ (trọng lượng thịt xẻ, trọng lượng thịt sô) nguyên con
(kg) = Trọng lượng sống – (trọng lượng huyết + trọng lượng đầu + trọng lượng da
+ trọng lượng lòng trắng + trọng lượng lòng đỏ + trọng lượng 4 vó chân)
- Trọng lượng thịt tinh (hay thịt tuột - kg) là trọng lượng thịt nạc được lóc ra từ quầy
thịt xẻ (không tính mỡ và bạc nhạc)
(Theo Trần Đình Miên, 1975. Giáo trình chọn Giống và Nhân giống gia súc
– Nhà xuất bả Nông Thôn – Hà Nội, 1975. Trang 119-121).
- Chỉ tiêu theo dõi chung cho 2 đợt thí nghiệm:
v Lượng thức ăn tiêu thụ trên con/ngày, cân 1 tuần/lần/lô thí nghiệm.
v Tăng trọng bò qua từng tháng thí nghiệm (cân bằng cân đại gia súc
tháng/lần).
v Đánh giá cảm quan và chất lượng quầy thịt bao gồm các chỉ tiêu :
Màu sắc thịt : các mảnh thịt (thịt thăn) được lấy mẫu xếp trên cùng một
mảnh giấy trắng và so sánh màu sắc dưới ánh sáng trời.
Độ săn chắc của thịt được đánh giá bằng cách bóp mạnh vào mảnh thịt và so
sánh bằng cảm giác.
Độ rĩ dịch của thịt : để các mảnh thịt trên giấy thấm màu trắng (được cân
trọng lượng trước) trong thời gian khoảng 5 phút sau đó cân lại để xác định độ
rỉ dịch.
25
Chất lượng thịt : mẫu thăn thịt bò được lấy sau khi giết mỗ theo từng lô thí
nghiệm, mỗi mẫu 0,5 kg sau đó gửi ngay đến phòng thí nghiệm thuộc công ty
cổ phần giám định và khủ trùng, phân tích các chỉ tiêu : vật chất khô, đạm thô,
béo thô, khoáng tổng số và hàm lượng sắt (Fe); các mẫu thịt từ các lô .
(Theo Trần Đình Miên, 1975. Giáo trình chọn Giống và Nhân giống gia súc –
Nhà xuất bả Nông Thôn – Hà Nội, 1975. Trang 119-121).
v Hạch toán hiệu quả kinh tế thu được.
2.3. Nội dung 3: Đánh gía hiệu quả kinh tế và chuyển giao kết quả nghiên