các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TP CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HUY
ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC
ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN
CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
( Bản đã điều chỉnh)
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:

GS.TS. DƯƠNG THỊ BÌNH MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2006 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chiến lược này tỏ ra rất hứa hẹn
để Việt Nam thực hiện thành công quá trình chuyển đổi kép: từ một nền kinh
tế mang nặng tính hành chính chuyển hẳn sang một nền kinh tế thò trường
năng động; từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một xã hội công
nghiệp. Với viễn cảnh đó, là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, TP.
Hồ Chí Minh phải có những đột phá về phát triển kinh tế - xã hội, với mục
tiêu là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian
ngắn nhất để trở thành đầu tàu cho sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung
và phía nam nói riêng.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi TP. Hồ Chí Minh phải tạo ra một
khối lượng vốn đầu tư. Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, các nguồn vốn
huy động của các đònh chế tài chính trung gian, đặc biệt là ngân hàng thương
mại tuy ngày càng đa dạng, song phần lớn số vốn huy động mang tính chất
ngắn hạn. Hoạt động của các đònh chế tài chính trung gian trên đòa bàn TP Hồ
Chí Minh còn yếu, các hình thức huy động vốn đầu tư chưa hấp dẫn, linh hoạt.
Trong khi đó, thò trường chứng khoán đã đi vào hoạt động, song trong một thời
gian ngắn thò trường chứng khoán chưa thể hiện được là một kênh dẫn vốn đầu
tư cho nền kinh tế mang đặc trưng của cơ chế kinh tế thò trường. Do vậy,
nghiên cứu huy động vốn đầu tư trung và dài hạn trên đòa bàn TP. Hồ Chí Minh
thông qua các đònh chế tài chính trung gian được đặt ra một cách cấp thiết.
Hiện tại, sự cạnh tranh, công nghệ hoạt động và năng lực kinh doanh của
các đònh chế tài chính trung gian Việt nam vẫn còn có nhiều hạn chế. Trong
điều kiện mở cửa nền kinh tế, sự thâm nhập của các đònh chế tài chính trung
gian nước ngoài vào thò trường tài chính Việt nam nói chung và vào thò trường
TP Hồ Chí Minh nói riêng đã và đang đặt ra cho các đònh chế tài chính trung
gian Việt nam những thử thách không nhỏ, đó là phải cạnh tranh với các sản
phẩm mang tính đa dạng và linh hoạt của các đònh chế tài chính trung gian

Những vấn đề nghiên cứu trên đều gắn kết với bối cảnh hội nhập quốc tế
của nền kinh tế Việt nam.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp hệ thống: Các công cụ tài chính trong quá trình huy động
vốn có quan hệ phụ thuộc và tác động thúc đẩy lẫn nhau. Vì vậy, dựa vào
phương pháp này, công trình phân tích làm nổii bật cơ cấu của từng công cụ
trong hệ thống tài chính và qua đó phân tích xác đònh rõ nét các mặt hoạt động
và phát triển của chúng trong tổng thể của chính sách huy động vốn.
- Phương pháp tổng hợp: Dựa vào phương pháp này, công trình nghiên
cứu và phân tích cơ chế vận hành của các công cụ tài chính được đặt trong một
tổng thể thống nhất, từ đó tránh xem xét những sự kiện một cách biệt lập, tách
rời các sự kiện khác trong tổng thể nền kinh tế quốc dân.
- Phương pháp lòch sử: Các công cụ tài chính luôn tồn tại trong nó trạng
thái phát triển và biến đổi dưới sự tác động của nhân tố khách quan trong nền
kinh tế xã hội. Do đó, dựa vào phương pháp lòch sử, công trình phân tích một
cách sâu sắc sự vận hành của các công cụ tài chính trong sự gắn chặt với tình
hình thực tiễn và sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn
phát triển.
Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn dùng các phương pháp phân tích,
thống kê, quy nạp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu .
5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục tham khảo, kết cấu đề tài
nghiên cứu chia thành 3 chương với các nội dung nghiên cứu: cơ sở lý luận về
các đònh chế tài chính trung gian và huy động vốn đầu tư thông qua các đònh
chế tài chính trung gian trong nền kinh tế thò trường; đánh giá thực trạng huy
động vốn đầu tư thông qua các đònh chế tài chính trung gian của việt nam trên
đòa bàn Tp.HCM từ năm 1996 đến nay; đề xuất các giải pháp thúc đầy huy động
vốn đầu tư thông qua các đònh chế tài chính trung gian của việt nam trên đòa
bàn Tp.HCM đến năm 2010.

qua đó khai thác có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội, đáp ứng nhu
cầu vốn đầu tư của Thành phố ngày một gia tăng. Ở một tầm ngắm xa hơn,
Chính phủ và chính quyền Thành phố cần có chiến lược phát triển Thành phố
thành trung tâm tài chính của cả nước và khu vực nhằm phát triển đa dạng các
dòch vụ tài chính, chuyển tải các nguồn vốn trong và ngoài nước cho sự đầu tư
và phát triển kinh tế.

V

MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN VÀ
HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
TRUNG GIAN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1
1.1 Cơ sở lý luận về các đònh chế tài chính trung gian 1
1.2 Huy động vốn đầu tư thông qua các đònh chế tài chính trung gian 18
1.3 Mối quan hệ tương tác giữa các đònh chế tài chính trung gian với thò
trường chứng khoán 35

CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH
CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN
TP.HCM TỪ NĂM 1996 ĐẾN NAY 50
2.1 Tình hình kinh tế – tài chính của TP.HCM từ năm 1996 đến nay 50


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

1. ABS: Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính
2. BH: Bảo hiểm.
3.
DNBH: Doanh nghiệp bảo hiểm
4. GDP: Tổng sản phẩm quốc nội.
5. HIFU: Quỹ Đầu tư Phát triển Đô thò TP.HCM
6. IMF: Qũy Tiền tệ Quốc tế
7. MBS: Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp
8. NHNN: Ngân hàng Nhà nước.
9. NHTM: Ngân hàng thương mại.
10.
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần.
11. ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
12.
TTCH: Thò trường chứng khoán.
13. WB: Ngân hàng Thế giới

- 1 -

CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC ĐỊNH
CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN VÀ
HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG
QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
TRUNG GIAN TRONG NỀN KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG


vốn cuối cùng.

Những người tiết kiệm cuối cùng bao gồm các chủ thể như hộ gia đình,
doanh nghiệp và Chính phủ. Trên cơ sở số thu nhập có được, bằng việc tiết
kiệm các khoản chi tiêu trong tiêu dùng, các chủ thể này góp phần làm gia tăng
thêm nguồn vốn cung cấp cho nhu cầu đầu tư của xã hội. Những chủ thể cần vốn
cuối cùng cũng chính là các hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ. Những
chủ thể này đang tiến hành thực hiện các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh,
cung cấp hàng hóa cho xã hội mà nhu cầu vốn đầu tư vượt quá khả năng tự tài
trợ nên buộc họ phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ những người tiết kiệm cuối cùng
trên thò trường tài chính.

Những ngư
ời

tiết kiệm
§ Hộ gia đình
§ Doanh nghiệp
§ Chính phủ
Những người cần
vốn cuối cùng
§ Hộ gia đình
§ Doanh nghiệp
§ Chính phủ
Đònh chế

tài

chế tài chính rất lớn.
§ Ở giai đoạn 2: các đònh chế tài chính trung gian tiến hành mua lại
các loại tài sản tài chính do những đơn vò cần vốn cuối cùng phát
Các yếu tố đầu vào

§ Tài sản cố đònh
§ Vốn bằng tiền
§ Nhân lực
§ Quản lý …
Các đầu ra

Giai đoạn 1:
§ Huy động các khoản
tiền tiết kiệm…
Giai đoạn 2:
§ Cho vay, đầu tư.
§ Cung cấp các dòch vụ
tài chính khác …
Đònh chế

tài chính
trung gian - 4 -

hành, như: thương phiếu, trái phiếu, các hợp đồng vay nợ, hợp
đồng bảo hiểm…

Các đònh chế tài chính trung gian đảm nhận những hoạt động trung

§ Ngân hàng thương mại;
§ Các loại quỹ tiết kiệm;
§ Các quỹ tín dụng
§ Các công ty bảo hiểm;
§ Các công ty tài chính;
§ Các loại quỹ hỗ tương;
§ Các quỹ đầu tư ….
− Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian, các đònh chế tài
chính trung gian được chia thành 3 loại :
+ Các đònh chế nhận tiền gửi:
Đây là những đònh chế tài chính trung gian hoạt động chủ yếu và thường
xuyên là nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, sau đó sử dụng nguồn vốn này
để cấp tín dụng và mua chứng khoán, bao gồm các ngân hàng thương mại, các
quỹ tín dụng, các hiệp hội vay nợ và tiết kiệm, các ngân hàng tiết kiệm hỗ
tương …
+ Các đònh chế tiết kiệm theo hợp đồng:
Bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm tai nạn và
tài sản Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng thu nhận vốn theo đònh kỳ trên
cơ sở hợp đồng thỏa thuận với khách hàng và đầu tư chúng vào thò trường vốn

- 6 -

dưới các loại tài sản tài chính dài hạn như: chứng khoán vốn và chứng khoán
nợ. Do nguồn vốn huy động có đặc điểm là ổn đònh và dự đoán được, nên tính
lỏng của các tài sản tài chính không là tiêu thức ưu tiên hàng đầu trong quản lý
tài sản của các đònh chế tiết kiệm theo hợp đồng.
+ Các đònh chế trung gian đầu tư:
Bao gồm quỹ đầu tư, quỹ hỗ tương, công ty tài chính và quỹ hỗ tương thò
trường tiền tệ. Các trung gian đầu tư thực hiện huy động vốn trên thò trường rất
đa dạng bằng cách phát hành các loại chứng từ có giá như tín phiếu, trái phiếu,

§ Các quỹ hỗ trợ đầu tư của nhà nước .
§ Các quỹ đầu tư và quỹ hỗ tương

Công ty bảo hiểm được chi phối bởi Luật kinh doanh bảo hiểm và văn
bản pháp lý liên quan đến lónh vực bảo hiểm.
Các đònh chế tài chính trung gian trên nếu xét về hình thức sở hữu gồm
các đònh chế tài chính trung gian thuộc sở hữu nhà nước và các đònh chế tài
chính trung gian thuộc sở hữu tư nhân; nếu xét về phạm vi gồm các đònh chế tài
chính trung gian trong nước và các đònh chế tài chính trung gian có vốn đầu tư
nước ngoài; nếu xét về mục đích hoạt động gồm các đònh chế tài chính trung
gian hoạt động vì mục đích lợi nhuận và các đònh chế hoạt động không vì mục
đích lợi nhuận (Ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ hỗ trợ đầu tư ).
Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu các
đònh chế tài chính trung gian của Việt nam và không xếp loại hình tiết kiệm
qua bưu điện là một đònh chế tài chính trung gian, bởi lẽ:
§ Tiết kiệm bưu điện chưa phải là một tổ chức độc lập. Hoạt động
của tiết kiệm bưu điện được điều hành lồng ghép trong hệ thống
Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt nam.
§ Số vốn mà tiết kiệm bưu điện huy động được một phần để lại cho
Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông nhằm trang trãi chi phí
hành chính; phần lớn số vốn còn lại, tiết kiệm bưu điện không
thực hiện cấp vốn cho người cần vốn cuối cùng mà theo quy đònh
của Chính phủ phải chuyển cho Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển

- 8 -

để thực hiện cho vay theo chính sách tín dụng chỉ đònh của
Chính phủ.
1.1.4.1. Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một đònh chế tài chính trung gian thực hiện toàn

− Quỹ đầu tư dạng đóng.
Đây là quỹ đầu tư mà theo điều lệ qui đònh thường chỉ tạo vốn qua một lần
bán chứng khoán cho công chúng. Quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ
phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu. Quỹ không được phát hành thêm
bất kỳ một loại cổ phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các
cổ phiếu đã phát hành. Những người tham gia góp vốn đầu tư không được phép
rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư. Tuy
nhiên, chính việc cấm rút vốn làm cho cấu trúc của quỹ rất chặt chẽ, nên các
chứng chỉ quỹ đầu tư dạng đóng thường được niêm yết giao dòch trên SGDCK, vì
vậy người đầu tư có thể rút vốn bằng cách bán lại các chứng chỉ quỹ đầu tư trên
SGDCK. Với tính chất cơ cấu vốn ổn đònh cho phép quỹ đầu tư dạng đóng có thể

đăng ký đầu tư vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản
thấp.
Quỹ đầu tư dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp
hay TTCK và Sau đó lại dùng số tiền và vốn lãi thu được để đầu tư tiếp. Như
vậy, qui mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu
được mà thôi .
− Quỹ đầu tư dạng mở.
Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ. Khác với quỹ đầu tư
dạng đóng, các quỹ này luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn

- 10 -

và cũng sẵn sàng mua lại những cổ phiếu đã phát hành. Các cổ phiếu của quỹ
được bán trực tiếp cho công chúng không qua TTCK. Muốn mua cổ phiếu của
quỹ đầu tư dạng mở chúng ta không qua môi giới, không phải trả tiền hoa hồng
và có thể viết thư hoặc điện thoại trực tiếp cho quỹ xin các giấy tờ cần thiết, do
đó tạo cơ hội cho bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ sở hữu của
quỹ. Tất cả các cổ phiếu phát hành của quỹ này đều là cổ phiếu thường, so với

ty quản lý quỹ khá nổi bật. Đó là tổ chức đứng ra thành lập và sử dụng vốn thu
được thông qua việc phát hành các chứng chỉ đầu tư để đầu tư vào những nơi có
hiệu quả nhất. Còn ngân hàng giám sát đóng vai trò là người bảo quản an toàn
vốn và tài sản của người đầu tư , giám sát các hoạt động của công ty quản lý
quỹ trong việc tuân thủ điều lệ quỹ đầu tư. Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới
dạng tín thác thường được sử dụng ở các TTCK mới nổi, đặc biệt là các TTCK
đang phát triển ở Châu Á .
Ở Việt Nam, quỹ đầu tư của Nhà nước được hình thành dưới các dạng sau:
− Quỹ hỗ trợ phát triển: được thành lập theo Nghò đònh 50/1999 ngày
8/7/1999 của Chính phủ và đi vào hoạt động kể từ 1/1/2000 . Nguồn vốn hình
thành của Quỹ này bao gồm vốn điều lệ và vốn huy động từ phát hành trái
phiếu Chính phủ , tiếp nhận nguồn vốn ODA để cho vay lại ; vay các quỹ tích
lũy trả nợ nước ngoài, tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm xã hội và các nguồn
vốn khác .
− Quỹ đầu tư phát triển đòa phương: loại quỹ này được Chính phủ cho
phép thí điểm đầu tiên tại TP. Hồ Chí Minh từ tháng 6/1997 sau đó mở rộng ra
các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Tháp, Bình Đònh . Nguồn vốn
hoạt động của quỹ chủ yếu là do ngân sách Nhà nước cấp, vốn huy động thông
qua phát hành trái phiếu , vay nợ từ các tổ chức , cá nhân trong và ngoài nước
Hoạt động của quỹ thực hiện theo nguyên tắc tự chủ về tài chính , bảo toàn

- 12 -

và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chòu rủi ro . Quỹ cho vay đầu tư theo
từng dự án với lãi suất cụ thể do chính quyền Nhà nước đòa phương trên cơ sở
đề nghò của Hội đồng quản lý quỹ .
1.1.4.3. Công ty tài chính
Là công ty cổ phần hoặc quốc doanh thực hiện kinh doanh tiền tệ, chủ yếu
là cho vay ngắn và trung hạn phục vụ các hoạt động mua bán hàng hoá và dòch
vụ đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

−−

Đặc điểm hoạt động của bảo hiểm thương mại.
+ BH là một hoạt động đặc biệt, khi hợp đồng BH được ký kết, đồng
nghóa khách hàng phải thanh toán một khoản phí cho BH, để đổi lấy cam kết
đảm bảo về mặt tài chính từ BH, về những rủi ro có thể xảy ra ở tương lai cho
khách hàng. ‘’Đặc trưng này cho thấy nguồn vốn chủ sở hữu đối với các DNBH
và đặc biệt quan trọng và là nguồn lực tài chính quan trọng, được DNBH đem
đầu tư dài hạn. Với chính sách kinh tế hội nhập, phát triển, nhiều hình thức sở
hữu khác nhau trong ngòai nước, qua đó đã làm đa dạng, phong phú nguồn vốn
huy động của thò trường bán hàng Việt Nam”. Như vậy phí thu của khách hàng
phải được dự trữ bằng loại quỹ dự phòng, nhằm giúp cho BH có đủ năng lực tài
chính, thực hiện cam kết với người tham gia.
+ Khoảng thời gian kể từ khi thu phí đến lúc phải bồi thường, dài hay
ngắn phụ thuộc vào đặc điểm sản phẩm BH nhân thọ hay phi nhân thọ, vì vậy
công ty BH với vai trò phân phối lại các nguồn lực tài chính bằng những
phương pháp, kỹ thuật của mình.
BH phi nhân thọ là những sản phẩm BH có kỳ hạn cam kết dưới một năm,
về lý thuyết phí thu được sẽ phải dự phòng suốt một năm BH. Khi chưa có tổn
thất, hoặc tổn thất nhỏ với số lượng ít, BH vẫn có thể quản lý lượng vốn nhàn
rỗi, lượng vốn này đem đầu tư ngắn hạn. Thực tế một phần quỹ dự phòng phi
nhân thọ cũng được đầu tư trung dài hạn là do:

- 14 -

§ Trong một số loại BH như BH hàng hải, BH hàng không hay nhà ở
với trò giá lớn, khi xảy ra tổn thất, có thể chưa được bồi thường ngay
trong năm tổn thất, do cần thời gian điều tra, giám đònh hoặc cần có
thủ tục hành chính. Thiệt hại này phải được dự phòng tiếp theo cho
những năm sau để bồi thường khi có thể được.


−−

Khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng trên thò trường
tài chính.
Trong một tiến trình giao dòch vốn, đối với nhà đầu tư tức là người cần vốn
bao giờ cũng nắm rõ thông tin về mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lời của dự án
đầu tư mà anh ta đang tiến hành hơn là người cung cấp vốn. Vấn đề này còn
gọi là thông tin bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng sẽ nẩy sinh 2 vấn đề làm
cho người thừa vốn không sẵn lòng cung cấp cho người cần vốn đó là: lựa chọn
đối nghòch và rủi ro đạo đức.
+ Lựa chọn đối nghòch.
Lựa chọn đối nghòch xảy ra trước khi giao dòch vốn. Đối với những người
cần vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về huy
động vốn thường có khuynh hướng đưa ra mức lãi suất huy động vốn rất cao.
Nhưng một sự lựa chọn đối nghòch xảy ra đối với người cung cấp vốn. Bởi vì
không biết rõ lòch sử và đặc điểm hoạt động của người cần vốn, nên người cung
cấp vốn có lẽ cũng không sẵn lòng cung cấp vốn.
+ Rủi ro đạo đức.
Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi thực hiện giao dòch vốn. Những hợp đồng vay
nợ thường có đặc điểm là mức lãi suất cố đònh, vì vậy khi vay được vốn các
doanh nghiệp lại có khuynh hướng sử dụng số vốn vay đầu tư vào những dự án
có lãi suất cao hơn nhưng lại có nhiều rủi ro tiềm năng. Trong khi đó, người cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status