Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THU HÀ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
HỆ THỐNG THÂM CANH LÚA CẢI TIẾN SRI
(SYSTEM OF RICE INTENSIFICATION)
CHO VÙNG ĐẤT KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƯỚC
TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: TRỒNG TRỌT
Mã số: 60. 62. 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: PSG.TS. HOÀNG VĂN PHỤ
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng mọi kết quả nghiên cứu đã được trình bày trong luận
văn này hoàn toàn do bản thân tôi thực hiện, mọi số liệu đảm bảo trung thực, khoa
học và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin đảm bảo là mọi sự giúp đỡ để hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn đều được chú thích 1 cách cụ thể và chỉ rõ nguồn gốc. Thái Nguyên, ngày 30 tháng 8 năm 2010
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thu Hà
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Đặt vấn đề…………………………………………………………………. 1
2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu……………………………………………………… 2
4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………2
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài………………………………… 3
1.2. Những nghiên cứu về bộ rễ và phương thức bón phân cho cây lúa 5
1.3. Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy 9
1.4. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI ở
Việt Nam 14
1.5. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI
trên thế giới 20
1.5.1. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc 21
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan 23
1.5.3. Tình hình nghiên cứu ở Campuchia 24
1.5.4. Tình hình nghiên cứu ở Iran 25
1.5.5. Tình hình nghiên cứu tại một số nước khác 27
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu 30
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 30
2.3. Nội dung nghiên cứu 30
2.4. Phương pháp nghiên cứu 30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
3.3.3. Một số chỉ tiêu về bộ rễ 71
3.3.3.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến số rễ 71
3.3.3.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến chiều dài rễ 73
3.3.3.3. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến đường kính rễ 75
3.3.3.4. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến trọng lượng khô của
rễ ở tầng đất 0 – 5cm 77
3.3.3.5. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến trọng lượng khô của
rễ ở tầng đất 6 – 10cm 79
3.3.3.6. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến trọng lượng khô của
rễ ở tầng đất 11 – 20cm 81
3.3.4. Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI đến khả năng tích lũy vật
chất khô của thân lá. 83
3.3.5. Khả năng chống chịu 84
3.3.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 86
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1. Kết luận 91
2. Đề nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Stt
Số bảng
Tên bảng
Trang
1.
Bảng 1.1
Năng suất lúa có áp dụng SRI trên Thế giới………………
27
2.
Bảng 1.2
Kết quả thử nghiệm SRI tại Bopitiya, Srilanka…………….
28
3.
Bảng 3.1
Một số yếu tố khí hậu, thời tiết qua các tháng, trung bình
trong 5 năm (2008-2009)……………………………………
37
4.
Bảng 3.2
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến thời
gian sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 trong vụ mùa
2009 trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên……… 39
5.
Bảng 3.3
9.
Bảng 3.7
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến
trọng lượng khô của rễ ở tầng đất 0- 5cm của giống Khang
Dân 18 trong vụ mùa 2009 trên đất không chủ động nước 52
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tại Thái Nguyên
10.
Bảng 3.8
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến
trọng lượng khô của rễ ở tầng đất 6- 10cm của giống Khang
Dân 18 trong vụ mùa 2009 trên đất không chủ động nước
tại Thái Nguyên……………………………………………
55
11.
Bảng 3.9
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến
trọng lượng khô của rễ ở tầng đất 11- 20 cm của giống
Khang Dân 18 trong vụ mùa 2009 trên đất không chủ động
nước tại Thái Nguyên……………………………………….
gian sinh trưởng của giống lúa Khang dân 18 trong vụ xuân
2010 trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên……… 68
16.
Bảng 3.14
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến một số
chỉ tiêu về sinh trưởng của giống lúa khang dân 18 trong vụ
xuân 2010 trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên…… 70
17.
Bảng 3.15
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
rễ của giống Khang Dân 18 trong vụ xuân 2010 trên đất
không chủ động nước tại Thái Nguyên……………………
72
18.
Bảng 3.16
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến
chiều dài rễ của giống Khang Dân 18 trong vụ xuân 2010
trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên…………….
Bảng 3.20
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến
trọng lượng khô của rễ ở tầng đất 11- 20 cm của giống
Khang Dân 18 trong vụ xuân 2010 trên đất không chủ động
nước tại Thái Nguyên……………………………………….
82
23.
Bảng 3.21
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI tới khả năng
tích luỹ vật chất khô của giống Khang Dân 18 trong vụ xuân
2010 trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên………… 83
24.
Bảng 3.22
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến khả
năng chống chịu bệnh khô vằn của giống KD 18 trong vụ
xuân 2010 trên đất không chủ động nước tại Thái Nguyên 85
25.
Bảng 3.23
Ảnh hưởng của kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI đến các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng núi và trung du phía Bắc, có tổng diện
tích đất trồng lúa nước là 59.831 ha (chiếm 16,92%), tuy nhiên tình hình sản
xuất lúa tại tỉnh Thái Nguyên còn gặp nhiều khó khăn, nguyên nhân chủ yếu là
do điều kiện đất đai, khí hậu, đặc biệt là do lượng mưa hàng năm không đều, tập
trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), dẫn đến một
thực trạng rất phổ biến trong sản xuất đó là chỉ có những nơi chủ động được
nguồn nước tưới mới có thể sản xuất được 2 vụ lúa/năm, còn lại ở những vùng
sản xuất lúa mà nguồn nước không chủ động được và phụ thuộc hoàn toàn vào
nước mưa (chiếm diện tích khoảng 11.000 ha) thì sản xuất lúa gặp nhiều khó
khăn. Khi trồng lúa thì cho năng suất không ổn định, phụ thuộc rất lớn vào điều
kiện khí hậu thời tiết (đặc biệt là lượng mưa), và khi trồng các loại cây trồng
khác thì hiệu quả kinh tế cũng không cao, làm cho hệ số sử dụng đất còn thấp
gây lãng phí nguồn tài nguyên đất. Vấn đề đặt ra là phải tăng hệ số sử dụng đất,
ngoài việc nghiên cứu và tuyển chọn những giống chịu hạn để có thể đưa vào
ứng dụng trong sản xuất thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để thâm
canh cây lúa trên vùng đất không chủ động nước tưới cũng đang là một vấn đề
cấp thiết mà thực tiễn sản xuất đang đặt ra.
Kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification - SRI)
do Fr.Henri de Laulanníe, S.J. phát triển ở Madagascar từ năm 1961-1995, sau
đó trở thành một sáng kiến trong khuôn khổ của chương trình an ninh thu nhập
và sinh kế do tổ chức Oxfam thực hiện tại Campuchia, Lào, Việt Nam. Nguyên
tắc thực hành của SRI là sử dụng cây mạ non tuổi (2-2,5 lá), giảm thiểu chế độ
nước tưới (chế độ nước SRI là không để ngập nước mà chỉ để nước lớp nước
láng mỏng sâm xấp từ khi cấy đến vào chắc rồi tháo cạn), khoảng cách cấy thưa
- Sử dụng giống khang dân 18.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Cách mạng xanh đã được thực hiện với việc mở rộng thêm diện tích lúa
được tưới, sử dụng những giống lúa mới, thấp cây, sử dụng nhiều phân hóa học
và thuốc hóa học trừ sâu bệnh, trừ cỏ, làm cho không những đầu vào tăng lên so
với hệ thống canh tác lúa cổ truyền mà đa dạng sinh học, đa dạng di truyền ở
đồng lúa bị phá vỡ và cũng tác động không tốt đến môi trường xã hội.
Sau những cái được của cách mạng xanh (như đưa năng suất lúa trung bình
của thế giới từ 1,5 tấn/ha lên 4,0 tấn /ha như hiện nay, tiết kiệm được 250 triệu
ha do phá rừng trồng lúa để nuôi đủ số dân đang tăng trưởng với tốc độ nhanh)
đã xuất hiện những cái không được, hay là cái mất, đó là môi trường đồng ruộng
bị suy thoái, tính đa dạng dinh học, đa dạng di truyền bị phá vỡ, hoạt động của
vi sinh vật đất bị hạn chế vì phân hóa học, hóa chất trừ sâu bệnh, cỏ dại (Bùi
Huy Đáp, 1999)[7].
Năm 2009 đánh dấu sự kiện 1,002 tỷ người bị đói do hạn hán, lũ lụt, hơn 1
tỷ người rơi vào tình cảnh đói nghèo. Những thách thức trước mắt đặt ra đó là
diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, tình trạng thiếu nước, giá đầu
vào tăng (chủ yếu là nhiên liệu và phân bón), sự thoái hóa của đất trồng, đói
nghèo và tình trạng biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi mức thiệt hại của khô hạn,
ngập úng, mặn, và mức độ gây hại của sâu bệnh [17].
Hiện nay thế giới có tình trạng nước ngọt không còn dồi dào cho sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp và cả sinh hoạt ở nhiều nơi. Nước là yêu cầy số 1 của
không để phát triển. Đây là một nhân tố quyết định thành công của SRI.
- Cấy cẩn thận: Do cấy mạ non nên cây mạ thường bị tổn thương, nhưng
khả năng phục hồi của nó rất nhanh, cấy theo SRI làm giảm lượng hạt giống so
với cấy mạ thường. Khi cấy mạ thường, rễ cây mạ bị tổn thương khi nhổ cấy, có
thể bị chết nếu gặp điều kiện thời tiết bất thuận.
- Sử dụng phân chuồng: Đây là loại phân có hàm lượng dinh dưỡng cao, có
khả năng cải tạo đất, loại phân này nên ủ cho hoai mục. Phân hóa học thường
làm ccho đất bị chai cứng lại, vi sinh vật đất hoạt động kém, bón nhiều làm giảm
năng suất. Do đó bón nhiều phân hữu cơ là một chiến lược của SRI giúp tăng
năng suất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI đã được áp dụng (chưa phổ biến trên
diện rộng) tại 24 tỉnh thành của Việt Nam kể từ năm 2003. Kết quả của hệ thống
này rất hứa hẹn về mặt hiệu quả kinh tế cũng như sản xuất nông nghiệp bền
vững. Mục đích chính của SRI là phát triển một hệ thống sản xuất lúa bền vững
bao gồm nhóm các ý tưởng. Nguyên tắc và các ứng dụng thực tiễn dựa trên quản
lý hiệu quả việc canh tác lúa để tối đa hóa năng suất. SRI đã được thử nghiệm
thành công trong những điều kiện đa dạng tại một số địa phương ở Việt Nam,
đặc biệt là những hộ nông dân có ít ruộng. Người dân, các cán bộ nông nghiệp
và các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng SRI tạo ra sản lượng cao hơn cũng nhờ
giảm nhu cầu của vật tư đầu vào, như giảm phân bón hóa học, thuốc trừ sâu,
nước tưới. SRI cũng làm cho đất giữ được độ phì nhiêu và bảo vệ môi trường
khỏi ô nhiễm [19].
Mặc dù đây là một phương pháp trồng lúa hiệu quả và thân thiện với môi
trường, nhưng để nông dân áp dụng và nhân rộng phải làm thay đổi nhận thức
của họ, những người đã quá quên thuộc với phương pháp canh tác truyền thống.
Một khi người nông dân đã chấp nhận thay đổi thì SRI có thể mang lại nguồn
đủ phân hữu cơ và điều tiết nước hợp lý.
Ngoài ra sự hoạt động của rễ lúa còn chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện
dinh dưỡng và đất đai. Đất giàu chất hữu cơ, thoáng khí, đủ ẩm, rễ sẽ phát triển
tốt. Đất giàu dinh dưỡng, lượng phân và vị trí bón phân chi phối hướng phát
triển của bộ rễ. Dinh dưỡng đầy đủ, bón phân cân đối, bón phân sâu, pH trung
tính, đất không có độc tố thì bộ rễ phát triển tốt, hút được nhiều dinh dưỡng
(Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [25].
Theo Togari-matsuo đại bộ phận rễ phân bố ở lớp đất trồng trọt từ 12-15
cm, dưới lớp đất cày số rễ rất ít. Trồng lúa trong chậu để quan sát sự phân bố
của rễ đến 91cm thì thấy ở lớp đất 20 cm có trên 30% tổng số rễ, lớp đất sâu
dưới 50cm chỉ có 1-2% rễ. Vì vậy trong thực tế người ta coi như phạm vi hoạt
động của rễ lúa nằm trong lớp đất cày, nghĩa là 20 cm đất mặt (Togari-Matsuo,
1977) [35].
Ở ruộng không bị ngập nước, không khí trong đất đầy đủ nên rễ hô hấp
thuận lợi, sinh trưởng mạnh và cây lúa phân nhánh nhiều. Ở ruộng nước đất
thiếu không khí cây phải hút oxy từ trên không nhờ các bộ phận trên mặt đất để
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
vận chuyển đến rễ làm cho rễ lúa hô hấp được thuận lợi. Ruộng nước nếu thiếu
oxy rễ sinh trưởng kém, ăn nông, phát triển theo chiều ngang. Do đó cây hút kali
và silic kém (Togari Matsuo, 1977) [35].
Một đặc điểm của hệ rễ cây lúa là luôn luôn tìm đến môi trường có thế hiệu
oxy hóa khử thích hợp. Trong ruộng lúa nước nói chung tầng đất mặt nhiều
nước, thức ăn và oxy, nên ở thời kỳ đầu (từ lúc bắt đầu sinh trưởng đến giai
đoạn giữa ), rễ lúa thường phân bố ở tầng đất trên. Hệ rễ lúa lúc đó có hình bầu
dục nằm ngang. Sau đó cùng với quá trình sinh trưởng, hệ rễ ăn sâu hơn, vì nước
tưới đưa thức ăn và oxy xuống sâu hơn, làm cho lớp đất cũng tốt lên, rễ lại phát
triển sâu xuống tầng đất dưới nên lúc này hệ rễ có hình quả trứng để lộn ngược.
thì
Cây lúa chỉ hút được 30% lượng đạm bón cho lúa nếu bón theo phương pháp
bón vãi trên mặt ruộng. Trên đất phù sa sông hồng, hệ số sử dụng đạm chỉ đạt từ
35-45% và trên đất bạc màu là 39-49%. Đối với lúa nước lượng đạm bón vào có
thể bị mất đị, cây lúa chỉ sử dụng được 30-40% lượng đạm bón vào. Vì vậy có
thể tối ưu hóa việc dùng phân đạm cho lúa bằng cách bón đúng thời kỳ cây lúa
có nhu cầu cao và vùi phân đạm vào trong đất (Nguyễn Tất Cảnh, 2005,
Nguyễn Như Hà, 2006) [2], [12].
Ý tưởng về bón phân sâu cho cây lúa được hình thành và nghiên cứu từ
những năm 30 của thế kỷ 20 ở Nhật, sau đó được thử nghiệm ở Việt Nam nhưng
không triển khai được vì tốn nhiều công lao động và hiệu quả kinh tế thấp. Cuối
những năm 90 của thế kỷ 20, với sự tài trợ của quỹ quốc tế về phát triển nông
nghiệp (IFAD), tổ chức phát triển phân bón quốc tế (IFDC), có nhiều nghiên
cứu về bón phân sâu cho ruộng lúa. Kỹ thuật này đã được triển khai ở một số
nước Châu Á như Băngladesh, Philippines, Trung Quốc,…đã tiết kiệm đáng kể
lượng phân bón và nâng cao năng suất lúa (Nguyễn Tất Cảnh, 2005) [2].
Với biện pháp bón phân viên nén sâu, phân bón được vùi sâu xuống lớp
bùn, phân được keo đất hấp phụ và chứa trong lớp đất sâu nên cỏ dại mọc ở lớp
đất mặt không lấy được dinh dưỡng ngay sau khi nảy mầm. Khi áp dụng biện
pháp bón phân nén dúi cần cấy lúa thẳng hàng, cấy với mật độ thưa, tạo sự
thông thoáng khí trong ruộng lúa, ẩm độ trong ruộng lúa không cao quá so với
ẩm độ không khí nên hạn chế sự phát triển của sâu bệnh (Nguyễn Tất Cảnh,
2005) [2].
Theo Gross André phân đạm thường được bón trên mặt, ở các ruộng đất
cacbonat vùi đạm hơi sâu để tránh mất amôn do bay hơi là hợp lý. Chúng ta có
thể bón đạm sâu trước lúc gieo hoặc trong khi cây sinh trưởng. Bón phân kali
càng sớm càng tốt vì không sợ kali bị rửa trôi mất, và cần có thì giờ cho các quá
trình biến đổi cần thiết được thực hiện đầy đủ trong đất. Để tránh sự cố định kali
trên bề mặt cần vùi sâu bằng cách cày lấp. Khi bón trên mặt nên vùi càng kỹ
từ khi gieo cấy đến khi thu hoạch. Mỗi khóm lúa trong quá trình phát triển đã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
ảnh hưởng đến các khóm khác và trước hết đến các khóm ở gần nó. Ngược lại
nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển của các khóm lúa khác. Nói cách khác
cá thể và quần thể có mối ảnh hưởng qua lại chặt chẽ, chi phối sự sinh trưởng và
phát triển của cả ruộng lúa trong suốt quá trình cây lúa sinh trưởng ở ngoài
ruộng cho đến lúc chín. Mục đích chính của việc trồng lúa không phải là có một
số khóm lúa tốt mà là để đạt năng suất lúa cao, nghĩa là năng suất của cả ruộng
lúa cao (Bùi Huy Đáp, 1980) [6].
Theo thuyết của Katayama (Nhật Bản) thì khi cây lúa ra được 4 lá thật là có
khả năng đẻ nhánh, và cứ ra được một lá đẻ được một nhánh. Khi nhánh có trên
4 lá xanh, có thể sống hoàn toàn tự lập, trở thành một nhánh hữu hiệu rồi thành
bông sau này. Tuy vậy mầm hoặc nhánh cũng có thể teo đi hoặc phát triển
không dầy đủ 4 lá do điều kiện đẻ muộn (khi nhánh mẹ đã nhiều lá), hoặc do
điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi: thiếu nước, gặp nhiệt độ thấp, thiếu dinh
dưỡng, thiếu ánh sáng, quần thể quá rậm rạp, sâu bệnh, đây chính là đẻ nhánh vô
hiệu (Nguyễn Văn Hoan, 1999, Nguyễn Thị Lẫm và cs, 2003) [15], [25] .
Khi cấy thưa, đủ dinh dưỡng lúa đẻ nhánh nhiều. Khi cấy dầy quần thể quá
rậm rạp thì nhánh đẻ ra sẽ bị lụi tàn bớt. Khả năng đẻ nhánh của lúa nhiều hay ít
phụ thuộc vào đặc điểm của giống, phụ thuộc vào tuổi mạ, kỹ thuật cấy, điều
kiện dinh dưỡng, nước và điều kiện ngoại cảnh.
Cùng với mật độ cấy (dảnh/khóm và số khóm/m
2
), đẻ nhánh góp phần tạo
nên số lượng bông/m
2
đất, sức đẻ nhánh hữu hiệu càng cao thì càng có ý nghĩa
đạt được số bông cần thiết và độ lớn của bông theo yêu cầu để đạt được số lượng
hạt thóc /m
2
như mong muốn (Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) [16].
Mật độ là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích, với lúa
cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m
2
. Trên một đơn vị diện tích nếu mật
độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạt/ bông càng ít (bông
bé), tốc độ giảm số hạt/ bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ. Vì thế cấy dầy
quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu cấy với mật độ quá
thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn thì rất khó hoặc không
thể đạt được số bông tối ưu. Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với
các giống lúa khác nhau đều khẳng định: khi các khâu kỹ thuật khác được duy
trì thì chọn một mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt
thóc nhiều nhất trên đơn vị diện tích gieo cấy (Nguyễn Văn Hoan, 2003 ) [16].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào đặc
điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm canh
của người dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết luận: trong
điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa, ngược lại phải cấy
dầy. Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống to bông,
vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ
dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo sớm (Nguyễn Thị Lẫm và cs,
2003) [25].
Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì nên
cấy mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền thống.