Nghiên cứu khả năng áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trong hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI (system of rice intensification) cho vùng đất không chủ động nước tại Cao Bằng - Pdf 24


i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN VĂN HƢỚNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT TRONG HỆ THỐNG THÂM CANH LÚA
CẢI TIẾN SRI (SYSTEM OF RICE INTENSIFICATION)
CHO VÙNG ĐẤT KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƢỚC TẠI CAO BẰNG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60. 62. 01.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn : PGS.TS. Hoàng Văn Phụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng
nghiệp, cơ quan và gia đình.
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
PGS. TS. Hoàng Văn Phụ - người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy, cô giáo
trong khoa Sau đại học, các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành,
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn thiện bản luận
văn này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã
quan tâm động viên
tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

Tác giả luận văn


1.3. Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy 9
1.4. Những nghiên cứu về tác dụng của làm cỏ bằng biện pháp thủ công, cơ giới 13
1.5. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến trên
Thế giới 18
1.5.1. Những nghiên cứu SRI ở Ấn Độ 19
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc 21
1.5.3. Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan 23
1.5.4. Tình hình nghiên cứu tại Campuchia 24
1.5.5. Tình hình nghiên cứu ở Iran 25
1.5.6. Những nghiên cứu SRI ở Myanmar và Lào 26
1.5.7. Những nghiên cứu SRI ở Mali 28
1.5.8. Tình hình nghiên cứu tại một số nước khác 29
1.6. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến
(SRI) ở Việt Nam 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1. Đối tượng nghiên cứu 41
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 41
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1. Thí nghiệm 1 43
2.4. Điều kiện thí nghiệm 44
2.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 45
2.5.1. Thời gian sinh trưởng 45
2.5.2. Chỉ tiêu về khả năng đẻ nhánh 45
2.5.3. Khả năng chống chịu bệnh khô vằn 46
2.5.4. Chỉ tiêu về sự phát triển của bộ rễ 46
2.5.5. Trọng lượng khô của thân, lá 47
2.5.6. Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu 47

3.2.6.8. Năng suất thực thu 69
3.3.1. Khả năng đẻ nhánh của giống Bao thai 70
3.3.2. Một số chỉ tiêu về bộ rễ 71
3.3.2.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến sinh trưởng của bộ rễ 71
3.3.2.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến trọng lượng khô của bộ rễ lúa. . 74
3.3.3. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
thân, lá và toàn khóm 78
3.3.3.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
thân, lá 78
3.3.3.2. Khả năng tích luỹ chất khô toàn khóm 80
3.3.4. Khả năng chống chịu bệnh khô vằn 81
3.3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 82
3.3.5.1. Số bông/khóm 84
3.3.5.2. Số bông/m
2
84
3.3.5.3. Số hạt/bông 84
3.3.5.4. Hạt chắc/bông 85
3.3.5.5. Tỷ lệ chắc 85
3.3.5.6. Trọng lượng 1.000 hạt 85
3.3.5.7. Năng suất lý thuyết 85
3.3.5.8. Năng suất thực thu 86
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87
1. Kết luận 87
2. Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vii


Bảng 1.1: Năng suất lúa có áp dụng kỹ thuật SRI trên thế giới 41
Bảng 1.2: Kết quả thử nghiệm SRI tại Bopitiya, Srilanka 42
Bảng 3.1: Điều kiện thời tiết khí hậu tại tỉnh Cao Bằng năm 2011 51
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến thời gian sinh trưởng của
lúa Đông triều 39 - Vụ Xuân 2011 53
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của SRI đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa
DT39 Vụ Xuân 2011 54
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến sinh trưởng của bộ rễ giống
lúa Đông Triều 39 – Vụ Xuân 2011 57
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của SRI đến trọng lượng khô của rễ giống lúa
Đông Triều 39- Vụ Xuân 2011 60
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của SRI tới khả năng tích luỹ vật chất khô lá,
thân và toàn khóm giống lúa Đông Triều 39 – Vụ Xuân
2011 64
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của SRI đến khả năng chống chịu bệnh khô vằn
giống Đông Triều 39- Vụ Xuân 2011 66
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của SRI đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống lúa Đông Triều 39- Vụ Xuân 2011 68
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của SRI đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa
Bao thai - vụ mùa 2011 73
Bảng 3.10: Ảnh hưởng của SRI đến sinh trưởng của bộ rễ giống lúa
Bao thai - Vụ mùa 2011 75
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của SRI đến trọng lượng khô của rễ giống lúa
Bao thai qua các tầng đất 0- 20cm - vụ mùa 2011 79
Bảng 3.12: Ảnh hưởng của SRI tới khả năng tích luỹ vật chất khô lá,
thân và toàn khóm giống lúa Bao thai - vụ mùa 2011 81
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của SRI đến khả năng chống chịu bệnh khô vằn
giống lúa Bao thai - vụ mùa 2010 83
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của SRI đến các yếu tố cấu thành năng suất và

cấy mạ non tuổi (2 - 2,5 lá), cấy 1 dảnh, cấy thưa, sử dụng phân chuồng,
làm cỏ bằng tay, giảm thiểu chế độ nước tưới (giữ nước 1-2cm hoặc giữ ẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
bão hòa xen kẽ từ khi cấy đến thời kỳ chín sữa rồi tháo cạn)…nhằm khai
thác tiềm năng của cây lúa để đạt được năng suất cao. Ở Việt Nam từ năm
2003 kỹ thuật thâm canh SRI được biết đến . Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn công nhận kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI là một
tiến bộ kỹ thuật mới. Tại Việt Nam, tính tới cuối vụ hè thu năm 2010 đã có
22 tỉnh thành áp dụng SRI trên diện tích 286.053 ha với 781.282 nông dân
tham gia. Việc áp dụng SRI làm giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất đã
làm lợi thêm cho nông dân từ 1,8-3,5 triệu đồng/ha/vụ [3].
Tuy nhiên, kỹ thuật thâm canh lúa cải tiến SRI mới chỉ được nghiên
cứu và áp dụng trên những chân đất chủ động nước tưới, do đó yêu cầu
nghiên cứu để áp dụng SRI trên đất không chủ động nước là rất cần thiết.
Do những vấn đề thực tiễn đặt ra như vậy chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trong
hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI (System of Rice Intensification) cho
vùng đất không chủ động nước tại Cao Bằng”.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các biện pháp SRI ( mật độ và số lần
làm cỏ) đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Đông
Triều 39 và Bao thai trên đất không chủ động nước tại tỉnh Cao Bằng.
- Bước đầu đưa ra được khuyến cáo cải tiến quy trình thâm canh lúa
trên đất không chủ động nước tại Cao Bằng.
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Bố trí thí nghiệm để xác định được ảnh hưởng của các biện pháp
SRI ( mật độ và số lần làm cỏ) tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2
giống lúa ( Đông triều 39 và Bao thai ) trên đất không chủ động nước tại

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông
nghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò
rất quan trọng trong đời sống con người. Lúa gạo không chỉ giữ vai trò
trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng
xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân. Mặt khác, do có
điều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được
trồng ở khắp mọi miền của đất nước. Trong quá trình sản xuất lúa đã hình
thành nên 2 vùng sản xuất rộng lớn đó là vùng Đồng bằng châu thổ Sông
Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long [13], [19].
Hệ thống thâm canh lúa SRI là thực hiện tổng hợp các biện pháp: Quản
lý dịch hại tổng hợp (IPM); quản lý dinh dưỡng (INM) và quản lý nước
(IWM)… Thực tiễn cho thấy, cây lúa chỉ khoẻ mạnh và cho năng suất cao
khi cây có bộ rễ khoẻ mạnh, phát triển tốt; cây đẻ nhiều nhánh và đẻ tập
trung giai đoạn đầu; mỗi khóm lúa có nhiều bông và tỷ lệ hạt chắc trên
bông cao. Để đạt được mong muốn trên, ta nên áp dụng những nguyên tắc
cơ bản của SRI: Cấy mạ non; Cấy một rảnh, cấy thưa; Quản lý nước; Làm
cỏ sục bùn; Bón phân hữu cơ.
Hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI (system of rice intensification) do
nhà khoa học người Pháp Fr. Laulaniere giới thiệu tại Madagasca vào
những năm 1980, sau đó được tiến sỹ Norman Uphoff thuộc viện quốc tế

Người dân, các cán bộ nông nghiệp và các nhà nghiên cứu đã nhận thấy
rằng SRI tạo ra sản lượng cao hơn cũng nhờ giảm nhu cầu của vật tư đầu
vào, như giảm phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, nước tưới. SRI cũng làm
cho đất giữ được độ phì nhiêu và bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Năm 2007 tại các tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Tại những địa phương này kết quả năm đầu các mô hình trình diễn đã thu
được thành công lớn: Năng suất lúa đạt từ 64 - 66,5 tạ/ha (tăng hơn so với
làm theo tập quán từ 2,5- 4 tạ/ha); tiết kiệm được 50 – 70% lượng giống
gieo, giảm nước tưới và thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 - 3 lần phun/vụ.
Theo hạch toán kinh tế thì khi áp dụng SRI người dân thu được lãi nhiều
hơn là 2,2 triệu đồng/ha so với phương pháp canh tác truyền thống. Từ
những thành công này mà dần dần nông dân đã thấy được hiệu quả của việc
áp dụng SRI vào sản xuất, do đó diện tích áp dụng SRI ngày càng được
nhân rộng.
Những kinh nghiệm ở Madagascar đã chỉ ra tác dụng của những biện
pháp quản lý khác nhau mà không phụ thuộc vào giống. SRI đưa năng suất
tăng lên gấp đôi mà không cần phải đầu tư thêm phân bón, thuốc trừ sâu,
chỉ cần áp dụng đúng và thích hợp các biện pháp kỹ thuật SRI đưa ra. Năng
suất cao nhất đạt được tuỳ thuộc vào kỹ năng của nông dân trong việc quản
lý và làm tăng thêm độ phì nhiêu đất thông qua những biện pháp quản lý
nước và dinh dưỡng một cách cẩn thận.
- Cấy mạ non: 8-15 ngày tuổi, chỉ với 2 lá nhỏ (để chỉ ra rằng cây
trồng vẫn chưa bắt đầu giai đoạn phát sinh thứ 4 của quá trình sinh trưởng
của chúng) thay vì cấy mạ già tuổi hơn. Việc này đã tận dụng được tiềm
năng của cây lúa về sự đẻ nhánh nhiều và sinh trưởng của rễ. Tiềm năng sẽ
bị mất do cấy muộn.
- Cấy thưa, cấy một dảnh mạ: Không cấy nhiều dảnh trong một

Phát triển nông thôn công nhận là một tiến bộ kỹ thuật mới. Tới thời điểm
cuối vụ đông xuân 2009 có trên 264.000 nông dân áp dụng toàn phần và
từng phần SRI trên 85.422 ha tại 21 tỉnh miền Bắc. Việc áp dụng SRI làm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất đã làm lợi thêm cho nông dân từ 1,8-
3,5 triệu đồng/ha/vụ.
1.2. Những nghiên cứu về bộ rễ
Lúa là cây trồng có bộ rễ chùm với số lượng có thể đạt tới 500-800
cái, tổng chiều dài rễ ở thời kỳ trỗ bông có thể đạt đến 168 m. Bộ rễ lúa
tăng dần về số lượng và chiều dài qua các thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng và
thường đạt tối đa vào thời kỳ trỗ bông, sau đó lại giảm đi. Thời kỳ đẻ nhánh
làm đòng bộ rễ phát triển có hình bầu dục nằm ngang, còn thời kỳ trỗ bông,
bộ rễ lúa phát triển xuống sâu có hình quả trứng ngược.
Rễ lúa là cơ quan hút chất dinh dưỡng và vận chuyển chất dinh
dưỡng để nuôi cây. Rễ lúa thuộc loại rễ chùm, có cấu tạo sơ cấp, sau khi
lúa nảy mầm, rễ mầm xuất hiện, tồn tại 5 - 7 ngày rồi rụng đi. Từ các đốt
trên thân mọc ra các rễ phụ, phát triển nhanh tạo thành rễ chùm, ăn nông.
Trong thời gian sinh trưởng số lượng và trọng lượng rễ tăng dần từ cấy, đẻ
nhánh, làm đòng và đạt cao nhất lúc trỗ bông, và giảm dần đến khi lúa chín.
Rễ lúa hút nước nhiều nhất là thời kỳ làm đòng và trỗ bông.
Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng rễ lúa ăn nông chủ yếu tập trung ở
tầng đất 0-10cm. Khi cây lúa bước sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực, rễ
lúa phát triển mạnh về số lượng, trọng lượng và có thể ăn sâu xuống tầng
đất 30 - 50cm để hấp thu dinh dưỡng ở tầng đất sâu và giữ cho cây bám
chắc vào đất, tránh đổ ngã khi mang đòng và mang hạt nặng.
Rễ lúa chịu ảnh hưởng của nhiệt độ (rễ phát triển tốt nhất ở nhiệt độ
28 - 32
0

hữu hiệu rồi thành bông sau này. Tuy vậy mầm hoặc nhánh cũng có thể teo
đi hoặc phát triển không dầy đủ 4 lá do điều kiện đẻ muộn (khi nhánh mẹ
đã nhiều lá), hoặc do điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi: thiếu nước, gặp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
nhiệt độ thấp, thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, quần thể quá rậm rạp, sâu
bệnh, đây chính là đẻ nhánh vô hiệu [7], [12] .
Khi cấy thưa, đủ dinh dưỡng lúa đẻ nhánh nhiều. Khi cấy dầy quần thể
quá rậm rạp thì nhánh đẻ ra sẽ bị lụi tàn bớt. Khả năng đẻ nhánh của lúa
nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của giống, phụ thuộc vào tuổi mạ, kỹ
thuật cấy, điều kiện dinh dưỡng, nước và điều kiện ngoại cảnh.
Cùng với mật độ cấy (dảnh/khóm và số khóm/m
2
), đẻ nhánh góp phần
tạo nên số lượng bông/m
2
đất, sức đẻ nhánh hữu hiệu càng cao thì càng có
ý nghĩa kinh tế, tức là cấy ít dảnh cơ bản mà vẫn có nhiều bông, sẽ tiết
kiệm được chi phí về giống lúa, về công làm mạ. Lợi dụng đặc điểm đẻ
nhánh của lúa, trong thâm canh muốn tăng số bông trên ruộng lúa thì ngoài
việc cấy đúng mật độ ra chúng ta nên xúc tiến các biện pháp để lúa đẻ
nhánh sớm, đẻ tập trung, làm tăng sức đẻ hữu hiệu, không để quần thể quá
rậm rạp, tốn dinh dưỡng của mẹ.
Trên cây lúa chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá
nhiều, điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để
trở thành nhánh hữu hiệu. Biện pháp kỹ thuật nên áp dụng: Gieo cấy những
giống lúa đẻ tập trung và xúc tiến đẻ sớm bằng cách cấy mạ non, cấy nông
tay, bón phân lót, bón thúc đẻ, làm đất kỹ, giữ đủ nước.
Sản lượng, số bông số nhánh không nhất thiết tỷ lệ với nhau. Nhưng

nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh
trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu. Các kết
quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều
khẳng định: khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ
vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên
đơn vị diện tích gieo cấy [8].
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào
đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm
canh của người dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết
luận: trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa,
ngược lại phải cấy dầy. Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi
bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn lúa gieo
sớm [12].
Đối với nhóm lúa thường gieo mạ thâm canh hoặc gieo mạ cải tiến thì
nên cấy mạ non. Bố trí cấy với mật độ thưa hơn so với cách gieo mạ truyền
thống. Mạ non cấy 3-4 dảnh/khóm (mạ non chưa đẻ), 30-35 khóm/m
2
để
sau thời kỳ đẻ nhánh có số nhánh tương đương như loại mạ thâm canh,
khoảng cách 25x12 cm thường được ưa chuộng [8].
Đối với mạ non khi cần đạt 9-10 bông/khóm và mật độ 35-39
khóm/m
2
thì chỉ cần cấy 2 dảnh mạ/ khóm, không nên cấy nhiều dảnh hơn
vì loại mạ non đẻ khỏe, cấy nhiều dảnh cây lúa sẽ đẻ ra nhiều nhánh quá
nhỏ, yếu, tỷ lệ bông hữu hiệu thấp. Hoặc số bông / khóm nhiều hơn so với

Qua các nghiên cứu Bùi Huy Đáp cho rằng nếu ta cấy càng nhiều dảnh
lúa thì bông lúa càng ít hạt, ví dụ như cấy 1600 dảnh/ m
2
thì 1 bông chỉ có
8 hạt, cấy 1000 dảnh/ m
2
thì 1 bông trung bình có 22 hạt, cấy 500dảnh/m
2
1
bông có 44 hạt, 250 dảnh/m
2
1 bông có 82 hạt, 33 dảnh/m
2
1 bông có 119
hạt. Giống lúa mùa di hương dài ngày cho năng suất cao nhất ở mật độ 33
khóm/m
2
, mỗi khóm cấy 1 dảnh. Tăng lên 3 dảnh trên 1 khóm, năng suất
còn khá (đứng thứ 2), nhưng đã kém rõ so với mật độ trên. Và càng tăng số
khóm hay số dảnh thì năng suất càng giảm, nếu tăng số dảnh lên 7 lần so
với công thức thứ nhất thì năng suất giảm 5 tạ/ha. [6].
Trong điều kiện bình thường ở ruộng tốt, mực nước trong thích hợp,
đối với các giống lúa cao cây ở Việt Nam, nên cấy dầy hợp lý, và mỗi
khóm nên cấy ít dảnh. Bụi lúa cấy ít dảnh sẽ đẻ thuận lợi, sẽ có các
nhánh xòe ra bốn phía, bụi lúa tròn và sẽ khỏe hơn những bụi cấy nhiều
dảnh. Mật độ khóm và mật độ dảnh trong khóm là những biện pháp có
thể sử dụng để điều tiết một cách thích đáng sự đẻ nhánh của cây lúa, và
qua sự đẻ nhánh sẽ điều tiết sự phát triển của cả quần thể ruộng lúa [6].
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) thì giống lúa có nhiều bông
nên cấy 200-250 dảnh cơ bản/m

cảnh đó ngành công nghiệp hóa chất trừ cỏ dại đã ra đời và được đánh dấu
bằng sự xuất hiện đầu tiên của các hoạt chất Phenoxy acetic acids với sản
phẩm thương mại là 2,4D vào năm 1951, sau đó là hàng loạt nhóm thuốc khác
như Triazines, Ure thay thế, Thiocarbamates, Diquat và Paraquat…[14].
Kể từ khi ra đời, thuốc trừ cỏ đã được coi như là một cứu cánh và là
một giải pháp không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp nói chung và
sản xuất lúa nói riêng, đặc biệt là ở các nước phát triển. Tuy nhiên các kết
quả nghiên cứu đều khẳng định không có một biện pháp phòng trừ cỏ dại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
đơn lẻ nào mang lại hiệu quả cao và lâu dài trong mọi trường hợp vì tập
tính cũng như chu kỳ sống của các loại cỏ dại rất khác nhau [14].
Nếu tăng cường sử dụng thuốc trừ cỏ thì vô hình chúng ta đang
chuyển biện pháp phòng trừ cỏ dại từ đa dạng về một biện pháp đơn lẻ.
Mặt khác cho đến nay có rất nhiều loại cỏ, nhất là cỏ lồng vực là một khó
khăn cho hầu hết các vùng sản xuất lúa mà thuốc trừ cỏ không phải lúc
nào cũng đạt hiệu quả phòng trừ cao. Thêm vào đó, nông dân còn thiếu
kiến thức về thuốc trừ cỏ như thời gian sử dụng, lượng dùng, bảo hộ lao
động…Họ cũng thiếu máy móc, thiết bị hợp lý để phun. Những khó khăn
này đã làm giảm năng suất lúa, gây ô nhiễm nguồn nước, đất và các sinh vật
sống xung quanh [14].
Khi sử dụng các công cụ thô sơ như cuốc, xẻng hẹp, dao nạo, liềm…
thông thường nông dân phải áp dụng 2 lần trong một vụ lúa: lần thứ 1 vào
khoảng 15-20 ngày và lần thứ 2 vào khoảng 40-45 ngày sau cấy. Chi phí cho
mỗi lần làm cỏ tới 115 giờ/ha, còn sử dụng các động cơ nhỏ cũng phải mất 50-
60giờ/ha/lần. Mặt khác, khi sử dụng công cụ nạo cỏ chỉ nhổ được cỏ dưới 2
hàng lúa, còn giữa các khóm lúa hoặc các cây cỏ gần gốc lúa thì không thể trừ
được [13].
Là một nước nông nghiệp, nước ta có nguồn nhân lực lao động khá dồi

thường phải làm cỏ bổ sung 1-2 lần sau khi đã dùng thuốc trừ cỏ.
- Đa số nông dân cho rằng, việc áp dụng các biện pháp thủ công, cơ
giới có thể kết hợp để sục bùn, tạo điều kiện cho bộ rễ lúa phát triển tốt hơn
nhất là trong điều kiện vụ xuân khi có những đợt rét kéo dài.
- Thu nhập từ sản xuất lúa còn quá thấp, do vậy nhiều nông dân vẫn
muốn tận dụng nhân công lao động nhàn rỗi để tiết kiệm tiền mua thuốc
nhất là nông dân ở các vùng xa đô thị, không có các ngành nghề phụ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Như vậy, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đã quyết định rất lớn tới
phương thức trừ cỏ ở từng địa phương cũng như từng hộ nông dân, thậm
chí đôi khi nông dân vẫn còn dựa vào những thói quen mà chưa có những
đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế cũng như sinh thái của từng biện
pháp mà họ chọn lựa. Nếu không quan tâm tới năng suất thì quả là chi phí
về nhân công lao động còn quá cao so với sử dụng thuốc trừ cỏ [17].
Qua các thí nghiệm cho thấy, trong vụ xuân nếu tiến hành làm cỏ 2
lần bằng tay thì năng suất có thể đạt tương đương với áp dụng 3 lần trừ cỏ
mà hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều. Nếu chỉ hoàn toàn áp dụng biện pháp
thủ công (làm cỏ 2 lần bằng tay) thì năng suất có tăng hơn phun thuốc trừ
cỏ (47,8 tạ/ha so với 43,5 tạ/ha) song mức thu nhập từ việc tăng năng suất
không cao hơn so với chi phí công lao động, do vậy hiệu quả kinh tế thấp
hơn. Nếu tiến hành phun thuốc trừ cỏ sớm sau đó bổ sung thêm 1 lần làm
cỏ bằng tay sẽ vừa cho năng suất cao, vừa tăng hiệu quả kinh tế.
Trong vụ mùa, do mật độ cỏ thường thấp hơn nên chỉ cần phun thuốc
trừ cỏ hay làm cỏ 1 lần bằng tay vào 20-25 ngày sau cấy là có thể mang lại
hiệu quả trừ cỏ cao và giảm chi phí năng suất [17].
Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp thủ công, cơ giới trên lúa gieo thẳng
gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công lao động, do vậy hiện nay có xấp xỉ
90% nông dân đã sử dụng thuốc trừ cỏ trên diện tích này. Theo Nguyễn Hữu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status