BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------
ĐOÀN VĂN HƯỚNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT TRONG HỆ THỐNG THÂM CANH LÚA CẢI TIẾN
SRI (SYSTEM OF RICE INTENSIFICATION) CHO VÙNG ĐẤT
KHÔNG CHỦ ĐỘNG NƯỚC TẠI CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành:
Mã số:
Hướng dẫn khoa học:
Khoa học cây trồng
60.62.01.10
PGS.TS. Hoàng Văn Phụ
THÁI NGUYÊN - 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ..............................................................................................ii
MỤC LỤC...................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU ........................................ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .............................................................vii
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................ 1
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI ..................................................................... 2
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI....................................................................... 2
1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN............................................ 3
1.4.1. Ý nghĩa khoa học ................................................................................ 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn ................................................................................. 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 4
1.2. Những nghiên cứu về bộ rễ.................................................................... 8
1.3. Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy .......................... 9
1.4. Những nghiên cứu về tác dụng của làm cỏ bằng biện pháp thủ công, cơ giới.... 13
1.5. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng hệ thống thâm canh lúa cải tiến trên
Thế giới ....................................................................................................... 18
1.5.1. Những nghiên cứu SRI ở Ấn Độ...................................................... 19
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc................................................. 21
1.5.3. Tình hình nghiên cứu ở Thái Lan ..................................................... 23
1.5.4. Tình hình nghiên cứu tại Campuchia................................................ 24
1.5.5. Tình hình nghiên cứu ở Iran.............................................................. 25
1.5.6. Những nghiên cứu SRI ở Myanmar và Lào...................................... 26
1.5.7. Những nghiên cứu SRI ở Mali.......................................................... 28
thân, lá và toàn khóm .................................................................................. 60
3.2.4.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
thân, lá ......................................................................................................... 62
3.2.4.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
toàn khóm.................................................................................................... 62
3.2.5. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến bệnh khô vằn ............................... 63
3.2.6. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu..................... 65
3.2.6.1. Số bông/khóm: ............................................................................... 67
3.2.6.2. Số bông /m2: ................................................................................... 67
v
3.2.6.3. Tổng số hạt /bông:.......................................................................... 68
3.2.6.4. Tổng số hạt chắc / bông: ................................................................ 68
3.2.6.5. Tỷ lệ chắc ....................................................................................... 68
3.2.6.6. Trọng lượng 1.000 hạt.................................................................... 69
3.2.6.7. Năng suất lý thuyết......................................................................... 69
3.2.6.8. Năng suất thực thu ......................................................................... 69
3.3.1. Khả năng đẻ nhánh của giống Bao thai ............................................ 70
3.3.2. Một số chỉ tiêu về bộ rễ..................................................................... 71
3.3.2.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến sinh trưởng của bộ rễ............... 71
3.3.2.2. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến trọng lượng khô của bộ rễ lúa. . 74
3.3.3. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
thân, lá và toàn khóm .................................................................................. 78
3.3.3.1. Ảnh hưởng của kỹ thuật SRI đến khả năng tích lũy vật chất khô của
thân, lá ......................................................................................................... 78
3.3.3.2. Khả năng tích luỹ chất khô toàn khóm .......................................... 80
3.3.4. Khả năng chống chịu bệnh khô vằn .................................................. 81
3.3.5. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.................................... 82
3.3.5.1. Số bông/khóm ................................................................................ 84
:
Thời gian sinh trưởng
NSLT
:
Năng suất lý thuyết
NSTT
:
Năng suất thực thu
FAO
:
Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới
IRRI
:
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế
vii
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của SRI đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất giống lúa Bao thai - vụ mùa 2010 ............................85
1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía bắc phần lớn diện tích đều là đất
đồi núi cao xen lẫn đá vôi, có diện tích tự nhiên 669.000 ha. Trong đó đất
nông nghiệp 64.283 ha, trong đó đất trồng lúa có hơn 38.400 ha. Cao Bằng
vì là ở một tỉnh miền núi có độ cao so với mực nước biển lớn nên tình hình
sản xuất lúa và một số cây trồng khác luôn gặp nhiều điều kiện khó khăn
mà nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện về khí hậu, đất đai , địa hình cũng
như lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm, lượng
mưa thường tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, các tháng còn lại lượng mưa
rất ít. Hiện nay diện tích lúa trồng được (2 vụ/năm) trên đất chủ động nước
ở Cao Bằng từ các nguồn nước như hồ chứa, hệ thống sông suối, các trạm
bơm thuỷ lợi chỉ đáp ứng tưới được 14.798 ha chiếm 38,5% diện tích đất
trồng lúa ( Sở NN&PTNT Cao Bằng,2010). Còn lại những vùng không chủ
động nước chỉ trồng được một vụ lúa và một vụ màu, và khi trồng các loại
cây khác thì hiệu quả kinh tế cũng không cao do cuối vụ xuân lượng mưa
nhiều gây ngập úng làm chết hoặc giảm năng suất cho cây trồng, làm cho
hệ số sử dụng đất thấp, gây lãng phí nguồn tài nguyên đất. Từ những vấn
đề trên cho thấy làm thế nào để tăng hệ số sử dụng đất, Ngoài việc nghiên
cứu và tuyển chọn các loại giống chịu hạn thì việc nghiên cứu những
biện pháp kỹ thuật để thâm canh cây lúa trên vùng đất không chủ động
được nguồn nước là một vấn đề cấp thiết mà thực tiễn sản xuất hiện nay
đang đặt ra.
1.3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Bố trí thí nghiệm để xác định được ảnh hưởng của các biện pháp
SRI ( mật độ và số lần làm cỏ) tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2
giống lúa ( Đông triều 39 và Bao thai ) trên đất không chủ động nước tại
tỉnh Cao Bằng.
3
- Xác định được tuổi mạ, mật độ và số lần làm cỏ thích hợp cho cây
lúa trên đất không chủ động nước tại tỉnh Cao Bằng.
1.4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
- Xác định được sự ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các yếu tố tuổi
mạ, mật độ và số lần làm cỏ đến sinh trưởng phát triển của 2 giống lúa
Đông triều 39 và Bao Thai.
- Kết quả thu được từ thí nghiệm về các biện pháp kỹ thuật SRI trên
ruộng không chủ động nước là căn cứ khoa học để xây dựng quy trình kỹ
thuật thâm canh lúa cải tiến SRI trên đất không chủ động nước tại các tỉnh
miền núi phía Bắc.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Xác định một số biện pháp kỹ thuật SRI phù hợp cho giống lúa
Đông Triều 39 và Bao thai trên đất ruộng không chủ động nước nhằm thay
đổi phương pháp canh tác truyền thống đang hạn chế đến tiềm năng năng
suất của 2 giống nói trên ở tỉnh Cao Bằng.
- Chuyển giao tiến bộ kỹ thuật áp dụng SRI trên đất ruộng không
chủ động nước cho người dân thông qua việc đưa ra quy trình kỹ thuật
thâm canh để thúc đẩy mở rộng diện tích trồng lúa trên đất ruộng không
chủ động nước, nâng cao hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập cho người nông
những năm 1980, sau đó được tiến sỹ Norman Uphoff thuộc viện quốc tế
về lương thực, nông nghiệp và phát triển của trường đại học Cornell (Hoa
Kỳ) phổ biến rộng rãi. SRI đang được đánh giá là kỹ thuật thâm canh đầy
triển vọng tại hơn 30 nước, bởi nó thỏa mãn được cả 2 mục tiêu là đạt được
hiệu quả kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững. Cơ sở kỹ thuật của
5
SRI là thay đổi một số hoạt động canh tác chủ yếu và thông qua tác dụng
tương hỗ của chúng tạo điều kiện cho tiềm năng di truyền của lúa được
phát huy, và qua đó thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát triển của lúa để tạo
năng suất cao.
Kỹ thuật SRI làm tăng năng suất lúa không theo cách thông thường là
tăng đầu vào (phân bón, thuốc trừ sâu...) mà nó hướng tới các biện pháp
hạn chế sự tổn hại đến cây lúa, tác động vào môi trường, làm tăng mối
quan hệ hài hoà trong môi trường để tạo điều kiện cho vi sinh vật đất hoạt
động và cây lúa có thể phát triển hết tiềm năng di truyền của nó. Những
hiệu quả tích cực của SRI đạt được bởi lợi dụng các quá trình sinh học thay
vì dựa vào việc đầu tư phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật để tăng
năng suất mà thay vào đó là việc áp dụng các biện pháp như làm cỏ bằng
tay để tăng cường hoạt động của các vi sinh vật đất thông qua quá trình
chuyển hoá nitơ và oxy tự do trong không khí giúp cho bộ rễ của cây hoạt
động tốt hơn, đạt năng suất cao hơn.
Hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI đã được áp dụng (chưa phổ biến
trên diện rộng) tại 24 tỉnh thành của Việt Nam kể từ năm 2003. Kết quả của
hệ thống này rất hứa hẹn về mặt hiệu quả kinh tế cũng như sản xuất nông
nghiệp bền vững. Mục đích chính của SRI là phát triển một hệ thống sản
xuất lúa bền vững bao gồm nhóm các ý tưởng. Nguyên tắc và các ứng dụng
thực tiễn dựa trên quản lý hiệu quả việc canh tác lúa để tối đa hóa năng
suất. SRI đã được thử nghiệm thành công trong những điều kiện đa dạng tại
- Cấy thưa, cấy một dảnh mạ: Không cấy nhiều dảnh trong một
khóm, cấy khoảng cách rộng theo hình vuông 25x25cm hay thậm chí rộng
hơn 33x33cm, 40x40cm, 50x50cm nếu điều kiện đất tốt. Khoảng cách rộng
như vậy sẽ tạo cho rễ lúa có nhiều khoảng không để sinh trưởng, phát triển
đây là một nhân tố quyết định lên sự thành công của SRI.
7
- Cấy một cách cẩn thận: Vì những cây mạ non bị thương tổn rất nhỏ
và có thể nhanh chóng phục hồi sinh trưởng của chúng. Điều này là khả thi
vì số khóm lúa cấy trên một diện tích ít hơn bình thường. Lượng giống
gieo theo SRI là 5 - 10kg/ha, bình thường gieo nhiều hơn 10 lần hoặc
hơn. Tiềm năng sinh trưởng của rễ được bảo vệ khi sự sinh trưởng của
cây trồng không bị cản trở (làm chậm đi) bởi 7 - 14 ngày như phương pháp
cấy bình thường.
- Làm cỏ bằng tay: Khi những ruộng lúa không được giữ ngập nước,
việc kiểm soát cỏ dại tốt trở lên thật cần thiết. sử dụng dụng cụ cào cỏ làm
thông thoáng khí tầng đất mặt giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn đồng thời diệt
được cỏ. Việc làm cỏ nên bắt đầu 10 ngày sau khi cấy và nên được lặp lại
2-3 lần cách nhau 10 - 15 ngày. Mặc dù đây là phần việc cần nhiều lao
động nhất của SRI nhưng làm tăng năng suất đáng kể.
- Sử dụng phân hữu cơ: Tốt nhất bón phân vài tháng trước khi trồng
lúa, ví dụ trên cây trồng trước. Phân hoá học cũng cho kết quả tốt nhưng
đối với phần lớn các giống cây trồng thì phân hoá học chưa phải là kết quả
tốt nhất. Vấn đề hữu cơ đất và hoạt động của vi sinh vật là một phần chiến
lược của SRI đối với việc tăng năng suất lúa.
Theo nguyên lý của SRI, các biện pháp này sẽ cho kết quả tốt trong
bất kỳ môi trường nào, mặc dù kết quả sẽ biến đổi. Kết quả cũng có thể
khác nhau đối với việc sử dụng các giống lúa khác nhau. Cho đến nay, tất
cả các giống đã phản ứng tích cực với phương pháp quản lý này.
Oxy cần cho rễ lúa hô hấp và hấp thu dinh dưỡng, rễ lúa có khả năng
điều tiết oxy. Rễ non, vùng đầu rễ có khả năng điều tiết oxy tốt hơn rễ già
9
và vùng gốc rễ. Vì vậy trong kỹ thuật canh tác đối với cây lúa khi thấy có
hiện tượng nghẹt rễ cần phải tiến hành làm cỏ, sục bùn, tháo cạn nước để
tăng oxy, phơi ruộng 3 - 4 ngày, khi thấy có rễ mới xuất hiện thì bổ sung
chất dinh dưỡng dễ tiêu cho lúa.
Ngoài ra sự hoạt động của rễ lúa còn chịu ảnh hưởng rất lớn của điều
kiện dinh dưỡng và đất đai. Đất giàu chất hữu cơ, thoáng khí, đủ ẩm, rễ sẽ
phát triển tốt. Đất giàu dinh dưỡng, lượng phân và vị trí bón phân chi phối
hướng phát triển của bộ rễ. Dinh dưỡng đầy đủ, bón phân cân đối, bón phân
sâu, pH trung tính, đất không có độc tố thì bộ rễ phát triển tốt, hút được
nhiều dinh dưỡng [12].
1.3. Những nghiên cứu về mật độ, tuổi mạ và số dảnh cấy
Quần thể ruộng bao gồm tất cả các khóm lúa đã được gieo cấy ở ruộng
đó từ khi gieo cấy đến khi thu hoạch. Mỗi khóm lúa trong quá trình phát
triển đã ảnh hưởng đến các khóm khác và trước hết đến các khóm ở gần nó.
Ngược lại nó cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển của các khóm lúa
khác. Nói cách khác cá thể và quần thể có mối ảnh hưởng qua lại chặt chẽ,
chi phối sự sinh trưởng và phát triển của cả ruộng lúa trong suốt quá trình
cây lúa sinh trưởng ở ngoài ruộng cho đến lúc chín. Mục đích chính của
việc trồng lúa không phải là có một số khóm lúa tốt mà là để đạt năng suất
lúa cao, nghĩa là năng suất của cả ruộng lúa cao [6].
Theo thuyết của Katayama (Nhật Bản) thì khi cây lúa ra được 4 lá thật
là có khả năng đẻ nhánh, và cứ ra được một lá đẻ được một nhánh. Khi
nhánh có trên 4 lá xanh, có thể sống hoàn toàn tự lập, trở thành một nhánh
hữu hiệu rồi thành bông sau này. Tuy vậy mầm hoặc nhánh cũng có thể teo
đi hoặc phát triển không dầy đủ 4 lá do điều kiện đẻ muộn (khi nhánh mẹ
năng suất. Đứng về phương diện sinh trưởng của cây lúa mà xét thì có thể
11
có 2 mặt. Thứ nhất là bộ rễ lúa có được chăm sóc, quản lý tốt không. Thứ
hai là bộ phận trên mặt đất, đặc biệt là việc điều chỉnh số nhánh có thích
hợp không.
Theo Nguyễn Văn Hoan số dảnh cần cấy ở một khóm phụ thuộc trước
hết vào số bông cần đạt trên 1m2, và căn cứ vào mật độ đã chọn để đạt
được số bông theo quy hoạch. Nguyên tắc chung của việc xác định số dảnh
cấy của một khóm lúa là dù được cấy ở mật độ khác nhau, tuổi mạ khác
nhau nhưng cuối cùng cần đạt được số bông cần thiết và độ lớn của bông
theo yêu cầu để đạt được số lượng hạt thóc /m2 như mong muốn [8].
Mật độ là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích,
với lúa cấy thì mật độ được đo bằng đơn vị khóm/m2. Trên một đơn vị diện
tích nếu mật độ càng cao (cấy dầy) thì số bông càng nhiều, song số hạt/
bông càng ít (bông bé), tốc độ giảm số hạt/ bông mạnh hơn tốc độ tăng của
mật độ. Vì thế cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng. Tuy
nhiên nếu cấy với mật độ quá thưa đối với các giống lúa có thời gian sinh
trưởng ngắn thì rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu. Các kết
quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học với các giống lúa khác nhau đều
khẳng định: khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn một mật độ
vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên
đơn vị diện tích gieo cấy [8].
Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào
đặc điểm của giống, điều kiện đất đai, nước tưới, dinh dưỡng, trình độ thâm
canh của người dân…Khi nghiên cứu về vấn đề này Sasato (1966) đã kết
luận: trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa,
ngược lại phải cấy dầy. Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi
bằng giống to bông, vùng lạnh nên cấy dầy hơn vùng nóng ẩm, mạ dảnh to
đẻ của giống lúa di hương thay đổi rõ với các mật độ khác nhau. Mật độ
13
khóm càng cao thời gian đẻ càng ngắn dù mật độ dảnh trong khóm cao hay
thấp. Mật độ dảnh trong khóm càng cao đối với cùng mật độ khóm thì thời
gian đẻ cũng rút ngắn, trừ các mật độ khóm tương đối thưa (30 x 30 cm, 20
x15 cm). [6]
Qua các nghiên cứu Bùi Huy Đáp cho rằng nếu ta cấy càng nhiều dảnh
lúa thì bông lúa càng ít hạt, ví dụ như cấy 1600 dảnh/ m2 thì 1 bông chỉ có
8 hạt, cấy 1000 dảnh/ m2 thì 1 bông trung bình có 22 hạt, cấy 500dảnh/m2 1
bông có 44 hạt, 250 dảnh/m2 1 bông có 82 hạt, 33 dảnh/m2 1 bông có 119
hạt. Giống lúa mùa di hương dài ngày cho năng suất cao nhất ở mật độ 33
khóm/m2, mỗi khóm cấy 1 dảnh. Tăng lên 3 dảnh trên 1 khóm, năng suất
còn khá (đứng thứ 2), nhưng đã kém rõ so với mật độ trên. Và càng tăng số
khóm hay số dảnh thì năng suất càng giảm, nếu tăng số dảnh lên 7 lần so
với công thức thứ nhất thì năng suất giảm 5 tạ/ha. [6].
Trong điều kiện bình thường ở ruộng tốt, mực nước trong thích hợp,
đối với các giống lúa cao cây ở Việt Nam, nên cấy dầy hợp lý, và mỗi
khóm nên cấy ít dảnh. Bụi lúa cấy ít dảnh sẽ đẻ thuận lợi, sẽ có các
nhánh xòe ra bốn phía, bụi lúa tròn và sẽ khỏe hơn những bụi cấy nhiều
dảnh. Mật độ khóm và mật độ dảnh trong khóm là những biện pháp có
thể sử dụng để điều tiết một cách thích đáng sự đẻ nhánh của cây lúa, và
qua sự đẻ nhánh sẽ điều tiết sự phát triển của cả quần thể ruộng lúa [6].
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) thì giống lúa có nhiều bông
nên cấy 200-250 dảnh cơ bản/m2, giống to bông cấy 180-200 dảnh/m2. Số
dảnh cấy/khóm là 3-4 dảnh ở vụ mùa và 4-5 dảnh ở vụ chiêm [18].
1.4. Những nghiên cứu về tác dụng của làm cỏ bằng biện pháp thủ
công, cơ giới
Quản lý cỏ dại là một vấn đề được tranh luận bởi hầu hết các nước.
15
đơn lẻ nào mang lại hiệu quả cao và lâu dài trong mọi trường hợp vì tập
tính cũng như chu kỳ sống của các loại cỏ dại rất khác nhau [14].
Nếu tăng cường sử dụng thuốc trừ cỏ thì vô hình chúng ta đang
chuyển biện pháp phòng trừ cỏ dại từ đa dạng về một biện pháp đơn lẻ.
Mặt khác cho đến nay có rất nhiều loại cỏ, nhất là cỏ lồng vực là một khó
khăn cho hầu hết các vùng sản xuất lúa mà thuốc trừ cỏ không phải lúc
nào cũng đạt hiệu quả phòng trừ cao. Thêm vào đó, nông dân còn thiếu
kiến thức về thuốc trừ cỏ như thời gian sử dụng, lượng dùng, bảo hộ lao
động…Họ cũng thiếu máy móc, thiết bị hợp lý để phun. Những khó khăn
này đã làm giảm năng suất lúa, gây ô nhiễm nguồn nước, đất và các sinh vật
sống xung quanh [14].
Khi sử dụng các công cụ thô sơ như cuốc, xẻng hẹp, dao nạo, liềm…
thông thường nông dân phải áp dụng 2 lần trong một vụ lúa: lần thứ 1 vào
khoảng 15-20 ngày và lần thứ 2 vào khoảng 40-45 ngày sau cấy. Chi phí cho
mỗi lần làm cỏ tới 115 giờ/ha, còn sử dụng các động cơ nhỏ cũng phải mất 5060giờ/ha/lần. Mặt khác, khi sử dụng công cụ nạo cỏ chỉ nhổ được cỏ dưới 2
hàng lúa, còn giữa các khóm lúa hoặc các cây cỏ gần gốc lúa thì không thể trừ
được [13].
Là một nước nông nghiệp, nước ta có nguồn nhân lực lao động khá dồi
dào, đây là điều kiện thuận lợi để áp dụng các biện pháp thủ công, cơ giới.
Chính vì vậy, biện pháp này đã được duy trì từ xa xưa cho đến đầu thập
kỷ 70, khi có sự xâm nhập của các thuốc trừ cỏ đầu tiên vào nước ta để
sử dụng trên lúa.
Để tiến hành các biện pháp phòng trừ thủ công, nông dân phải chi phí
một lượng nhân công lao động khá lớn. Trong vụ xuân, nông dân các tỉnh
miền Bắc phải tiến hành làm cỏ từ 2-3 lần/vụ, trung bình là 2,3 lần. Trong vụ
mùa nông dân có thể làm từ 1-2 lần, bình quân là 1,6 lần. Chi phí cho một lần
Như vậy, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đã quyết định rất lớn tới
phương thức trừ cỏ ở từng địa phương cũng như từng hộ nông dân, thậm
chí đôi khi nông dân vẫn còn dựa vào những thói quen mà chưa có những
đánh giá kỹ lưỡng về hiệu quả kinh tế cũng như sinh thái của từng biện
pháp mà họ chọn lựa. Nếu không quan tâm tới năng suất thì quả là chi phí
về nhân công lao động còn quá cao so với sử dụng thuốc trừ cỏ [17].
Qua các thí nghiệm cho thấy, trong vụ xuân nếu tiến hành làm cỏ 2
lần bằng tay thì năng suất có thể đạt tương đương với áp dụng 3 lần trừ cỏ
mà hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều. Nếu chỉ hoàn toàn áp dụng biện pháp
thủ công (làm cỏ 2 lần bằng tay) thì năng suất có tăng hơn phun thuốc trừ
cỏ (47,8 tạ/ha so với 43,5 tạ/ha) song mức thu nhập từ việc tăng năng suất
không cao hơn so với chi phí công lao động, do vậy hiệu quả kinh tế thấp
hơn. Nếu tiến hành phun thuốc trừ cỏ sớm sau đó bổ sung thêm 1 lần làm
cỏ bằng tay sẽ vừa cho năng suất cao, vừa tăng hiệu quả kinh tế.
Trong vụ mùa, do mật độ cỏ thường thấp hơn nên chỉ cần phun thuốc
trừ cỏ hay làm cỏ 1 lần bằng tay vào 20-25 ngày sau cấy là có thể mang lại
hiệu quả trừ cỏ cao và giảm chi phí năng suất [17].
Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp thủ công, cơ giới trên lúa gieo thẳng
gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công lao động, do vậy hiện nay có xấp xỉ
90% nông dân đã sử dụng thuốc trừ cỏ trên diện tích này. Theo Nguyễn Hữu
Hoài, nếu áp dụng nhổ cỏ bằng tay trên lúa gieo thẳng thì phải tiến hành 2
lần/vụ với số công bình quân 50 công/lần nhưng hiệu quả vẫn thấp. Nhiều
loài cỏ rất khó phòng trừ triệt để như cỏ chát, cỏ vảy ốc, nhiều loại khác dễ
bị đứt và sót lại khi nhổ, nhiều loại như lồng vực hay đuôi phượng rất khó
phân biệt khi cây mới mọc. Như vậy hiệu quả kỹ thuật chỉ đạt dưới 60%,
đôi khi còn làm tổn thương đến cây lúa, do vậy năng suất ở các công thức
làm cỏ bằng tay cũng thấp hơn các ô phun thuốc trừ cỏ [11].