Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––
BẾ HOÀNG LIÊM NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN NÁI C22
VÀ CON LAI CỦA CHÚNG VỚI ĐỰC LANDRACE,
ĐỰC MAXTER 16 VÀ ĐỰC MAXTER 304
Chuyên ngành: CHĂN NUÔI
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN PHÙNG
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ quý báu
đó đã giúp tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt, tôi
xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành Thầy giáo PGS.TS. Trần Văn Phùng đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
để hoàn thành bản luận văn này.
Một lần nữa tôi xin chân trọng bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn chân
thành tới Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Khoa
Chăn nuôi Thú y, Thầy giáo hướng dẫn và toàn thể các thầy cô giáo đã giúp
đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2010
Tác giả
Bế Hoàng Liêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích 2
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Cơ sở khoa học 3
1.1.1. Ưu thế lai và ứng dụng của nó trong chăn nuôi lợn 3
1.1.2. Một số giống lợn ngoại và các công thức lai thương phẩm
phổ biến 6
1.1.3. Một số công thức lai tạo con thương phẩm 2, 3, 4 và 5
máu ngoại 11
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái 12
1.1.5. Khả năng sinh sản của lợn nái lai 16
1. Kết luận 61
2. Tồn tại 62
3. Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 69
1. Tình hình nhiễm bệnh của lợn con 69
2. Tình hình mắc bệnh của lợn nuôi thịt 70
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HOẠ 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
A. Giống
a. M 16 = Maxter 16
b. M 304 = Maxter 304
c. L06 = Landrace.
d. Pi = Pietrain
e. Du = Duroc
f. PiDu = ♂ Pietrain x ♀ Duroc
g. M16 x C
22
= ♂ M16 x ♀ C
22
h. M304 x C
22
= ♂ M304 x ♀C
22
i. L06 x C22 = ♂ L06 x ♀C22
j. F1 (LxY) = Landrace x Yorkshire
Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 48
Bảng 3.7 Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con từ cai sữa đến 56 ngày tuổi 49
Bảng 3.8 Chi phí thức ăn/kg lợn từ sơ sinh đến cai sữa 50
Bảng 3.9. Chi phí thức ăn/kg lợn con từ cai sữa đến 56 ngày tuổi 51
Bảng 3.10. Sinh trưởng tích luỹ của lợn thương phẩm (kg/con) 52
Bảng 3.11: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thương phẩm (g/con/ngày) 54
Bảng 3.12. Sinh trưởng tương đối của lợn thương phẩm (%) 56
Bảng 3.13: Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thương phẩm (kg) 57
Bảng 3.14. Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng lợn thương phẩm 58
Bảng 3.15. Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm 59 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Sơ đồ lai hai giống 11
Hình 1.2. Sơ đồ lai giữa ba giống 11
Hình 1.3. Sơ đồ lai tạo sản phẩm 4, 5 giống 12
Hình 3.1. Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của lợn con 43
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con từ sơ sinh đến 56
ngày tuổi (gr/con/ngày) 46
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn từ sơ sinh đến 56
ngày tuổi 48
Hình 3.4 Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của lợn thịt (kg/con) 53
Hình 3.5: Biểu đồ sinh tuyệt đối của lợn thịt (g/con/ngày) 55
Hình 3.6: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn thịt (%) 56
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Trong những năm gần đây, Trung tâm giống vật nuôi Thái Nguyên đã
đưa nhiều dòng nái có năng xuất và chất lượng cao nhằm cung cấp cho thị
trường của Tỉnh như các loại lợn nái: GP1230 , C1050, CA, C22 và các giống
lợn thuần Landrace, Pietrian (Maxter 16), Maxter 304, Yorkshire, LY, YL, để
sản xuất lợn giống và lợn lai thương phẩm 3,4 và 5 máu giống ngoại. Lợn nái
C22 là một dòng nái lai có đặc điểm là sai con, khả năng sinh sản tương đối
tốt. Khi sử dụng dòng đực lai 402 phối giống với nái C22 sẽ cho con lai
thương phẩm có giá trị kinh tế cao (theo công thức của PIC). Tuy nhiên hiện
nay, dòng đực lai 402 nuôi tại Trung tâm nuôi giữ và nghiên cứu giống gốc
Tam Điệp đang có những biểu hiện không tốt. Trong khi đó, trên thị trường
đang có những dòng lợn đực, đực lai có ưu thế như: Maxter 16; Maxtrer 304.
Việc sử dụng các dòng đực này chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc
tạo ra các con lai thương phẩm. Các dòng lợn lai thương phẩm trên đều được
thị trường chấp nhận và ưa chuộng, vì khả năng sinh trưởng nhanh, tiêu tốn
thức ăn/kg tăng khối lượng thấp, sức đề kháng cao và đặc điểm nổi bật con lai
thương phẩm có tỷ lệ nạc cao. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá năng suất
sinh sản của các dòng lợn nái và khả năng sinh trưởng, cũng như sản xuất thịt
của các con lai thương phẩm 3,4 và 5 máu ngoại vẫn chưa có nhiều.
Xuất phát từ cơ sở trên, để có cơ sở khuyến cáo sử dụng các dòng đực
lai cho người chăn nuôi của tỉnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái C22 và con lai của chúng với
đực Landrace, đực Maxter 16 và đực Maxter 304”.
2. Mục đích
- Đánh giá khả năng sản xuất của lợn nái C22 khi phối giống với các
dòng đực Landdrace, M16 và M304.
- Đánh giá khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của lợn lai thương phẩm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thể hiện hay không là tuỳ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Cải tiến di truyền nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, chủ yếu là
tăng năng suất được thực hiện qua các bước:
- Chọn lọc: Lựa chọn các con vật tốt để làm giống
- Hệ thống giao phối: Tổ chức giao phối giữa các con giống đã được
chọn lọc.
Sản xuất lợn thương phẩm dựa vào hệ thống lai, tức là cho giao phối
các cá thể khác giống để khai thác ưu thế lai và ưu thế riêng của từng giống.
Ngày nay để tăng năng suất của lợn lai thương phẩm người ta dùng giống có
sức sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn ít tạo ra lợn đực
thương phẩm, và con giống có khả năng sinh sản tốt để làm đàn nái sinh sản
tạo ra lợn thịt thương phẩm.
Trong quá trình lai tạo giữa các giống khác nhau thường xảy ra sự thay
đổi nhanh chóng tính di truyền. Đó là những thay đổi về hình thể và sinh lý
của con lai do một tổ hợp mới về di truyền được tạo ra đã làm tăng sức sống
và khả năng sinh trưởng, sinh sản của đời con người ta gọi đó là ưu thế lai.
Ưu thế lai là hiện tượng sinh học làm cho con lai (nhất là con lai F1) tỏ
ra ưu việt hơn bố mẹ về mặt sinh trưởng, năng suất và sức miễn dịch. Công
trình cổ điển của C.Darwin “tác dụng của thụ phấn chéo và tự thụ phấn trong
giới thực vật” đã đưa ra quy luật của tự nhiên về lai giống cũng như tác hại
của tự thụ phấn kéo dài. Sau đó vấn đề ưu thế lai được nghiên cứu và ứng
dụng khá rộng rãi ở thực vật và động vật.
Hiện nay phương pháp lai tạo vẫn chưa hoàn hảo vì chưa biết được, dự
đoán được tổ hợp lai các cha mẹ nào cho ưu thế lai cao nhất, vì vậy phải
nghiên cứu tiếp sự tương quan giữa khả năng phối hợp và ưu thế lai.
Khả năng phối hợp đặc biệt là khả năng phối hợp một dòng, một gia
mẹ tổ hợp ở đời lai, làm cho đời lai có giá trị hơn hẳn bố mẹ.
- Thuyết siêu trội: Tác động của các cặp alen dị hợp tử Aa là lớn hơn
tác động của các cặp alen đồng hợp tử AA và aa.
Aa>AA>aa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Sản xuất lợn thương phẩm dựa vào hệ thống lai, tức là cho giao phối
các cá thể khác giống để khai thác ưu thế lai và ưu thế riêng của từng giống.
Ngày nay để tăng năng suất của lợn lai thương phẩm người ta dùng giống có
sức sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn ít tạo ra lợn đực
thương phẩm, và con giống có khả năng sinh sản tốt để làm đàn nái sinh sản
tạo ra lợn thịt thương phẩm. Con lai thường sẽ có được những ưu điểm của bố
mẹ như: nâng cao tỷ lệ nạc, tăng tốc độ sinh trưởng, cải thiện độ dày mỡ
lưng, Wysokińska A., Kondracki S, (2004) [36].
1.1.2. Một số giống lợn ngoại và các công thức lai thương phẩm phổ biến
a, Giống lợn Landrace (L06)
Lợn giống gốc được tạo nên từ Đan Mạch bằng cách cho lai giống
trắng Youland với các giống trắng địa phương của Đan Mạch vào thế kỷ 19.
Cũng như lợn Đại Bạch, lợn Landrace dễ thích nghi với nhiệt đới nếu các điều
kiện về thời tiết không quá khắc nghiệt. Briggs, Hilton M. 1969 [37].
Đặc điểm ngoại hình toàn thân có màu trắng tuyền, đầu nhỏ, dài, tai to
dài rủ xuống kín mặt, cổ nhỏ và dài, mình dài, vai lưng mông, đùi rất phát
triển. Toàn thân có dáng hình thoi nhọn giống như quả thủy lôi, đây là giống
lợn tiêu biểu cho hướng nạc.
Khả năng sản xuất: Landrace có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ và đẻ
nhiều: Trung bình đạt 1,8 - 2 lứa/năm. Mỗi lứa đẻ 10 -12 con, khối lượng sơ
sinh (Pss) trung bình đạt 1,2 - 1,3 kg, khối lượng cai sữa (Pcs) từ 12 - 15 kg.
c, Giống lợn Hampshire
Đây là giống lợn của Mỹ mà sổ giống đã ghi từ 1904. Giống lợn
Hampshire được coi là một điển hình về sự tiến hoá nhanh và hướng tới một
kiểu lợn thịt dưới ảnh hưởng của một cường độ chọn lọc cao được thực hiện từ
1956. Lợn Hampshire có màu có màu da lông đen. Một vành lông da trắng vắt
qua vai bao gồm cả chân trước và ngực. Mình ngắn, tai đứng, lưng hơi cong.
Ở Mỹ, giống lợn Hampshire được coi là giống chính. Tăng trọng trung
bình 850g/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,92kg/kg tăng khối lượng, trọng lượng lúc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
114kg là 175,4 ngày. Kiểm tra tăng thịt nạc 320g/ngày, diện tích thăn thịt
33,66cm
2
.
d, Giống lợn Duroc:
Giống Duroc (mà nổi tiếng nhất là Duroc- Jersey) có nguồn gốc ở Bắc
Mỹ. Lợn hiện nay đã khá phổ biến ở các nước châu Âu, châu Á và chiếm một
tỷ trọng khá cao trong tổng đàn lợn của nước Mỹ. Lợn nái có nhiều sữa cho
con bú nên tốc độ tăng trưởng của lợn con nhanh. Lợn có khả năng chống
chịu nắng, nóng khá tốt nên có khả năng chăn thả trong khu rào quây, có mái
che ở chỗ ăn và trú nắng, trú mưa. Thịt có tỷ lệ nạc cao, ngon, chắc, sợi cơ
mịn, được sử dụng để ăn tươi, tham gia nhiều vào công nghệ đóng đồ hộp.
Khả năng sản xuất: Lợn Duroc có 4 mũi chân và mõm sẫm đen, tai đứng.
Hiện nay, lợn Duroc có khả năng tăng trọng 785g/ngày, khả năng tăng thịt
nạc 320g/ngày, tiêu tốn thức ăn 2,91kg/kg tăng khối lượng. Nuôi 171,89 ngày
tuổi, đạt khối lượng 99,88kg. Dày mỡ lưng ở sườn 10 là 3,09cm.
Duroc có khả năng sinh sản tương đối cao. Trung bình đạt 1,7 - 1,8
lứa/năm. Mỗi lứa đẻ từ 9 đến 11 con, khối lượng sơ sinh của lợn con trung
Trong những năm gần đây nhu cầu của xã hội về sản lượng và chất
lượng thịt lợn ngày càng cao. Để đáp ứng nhu nhu cầu trên các nhà lai tạo
giống đã tiến hành thử nghiệm lai tạo nhiều công thức lai khác nhau nhằm
nâng cao tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc, chất lượng thịt. Một trong số các công thức lai
đó là dòng đực lai Maxter 304. Đây là dòng đực lai hàng đầu của Pháp, là
giống lợn được tạo ra từ việc nhân giống giữa 4 loại lợn thịt nổi tiếng nhất:
Hampshire, Duroc, Yorkshire, Pietrain. Khi cho phối giống với nái Landrace
tạo ra con lai thương phẩm 5 máu. Sản sinh ra những lợn thịt chất lượng tốt và
kinh tế. Lợn con sinh ra khỏe mạnh, cân đối, tăng trọng nhanh, nở nang, nhiều
nạc, ít mỡ, dễ bán. Khả năng tăng khối lượng đời con của Maxter 304 từ 35-
105kg là 1025g/ngày, tuổi đạt 100kg là 136.8 ngày; tăng trọng bình quân 0-
100kg: 738,1g/ngày; độ dày mỡ lưng: 9.25 mm, tiêu tốn thức ăn 2,613kg/kg
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc là 60,7% (Viện nghiên cứu và cơ quan tuyển
chọn lợn tại Pháp) [33].
Con lai M304 thể hiện sức chống chịu bệnh tốt, dễ nuôi, dễ thích nghi
với điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lợn mau lớn, tỉ lệ nạc 60 - 65%, độ dày
mỡ lưng từ 12 - 15 mm, phẩm chất thịt ngon, mềm có vân mỡ trung bình, chỉ
số FCR từ 3 - 3,2 kg.
g, Lợn nái dòng C1050:
Là giống lợn ông bà. Có lông da màu trắng, là con lai giữa đực L06 x
cái L11 hoặc đực L11 x cái L06. Có khả năng sinh trưởng và sinh sản tốt,
thích hợp với điều kiện chăn nuôi khác nhau tại miền Bắc Việt Nam.
Lợn nái C1050 có từ 12 - 14 vú, tăng trọng tuyệt đối là 558,68g/ngày,
độ dày mỡ lưng 9,95mm, tuổi động dục lần đầu 173,03 ngày, tuổi phối giống
lần đầu 223,08 ngày, tuổi đẻ lứa đầu 341,45 ngày, tỷ lệ phối lần một có chửa
84,305,có khả năng sinh sản tốt, đẻ 10 - 12 con/lứa. Dùng để phối với đực
Là phương pháp cho giao phối giữa con đực và con cái thuộc hai
giống khác nhau để sản xuất ra con lai F1, sau đó dùng con cái F1 cho giao
phối với con đực thuần chủng một giống thứ ba để tạo ra con lai F2 dùng làm
sản phẩm. Hình 1.2. Sơ đồ lai giữa ba giống
A
B
F1
C
ABC
F2- Thương phẩm
50%C+ 25%A+25%B
A
B
F1
Thương phẩm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
L19
E,M
(Bố, mẹ)
1.1.3.3. Lai giữa bốn và năm giống:
Là phương pháp lai trong đó trước tiên cho lai giữa hai giống A và B
để tạo ra con lai F
AB
, đồng thời lai giữa hai giống khác C và D để tạo ra con
lai F
CD
. Sau đó, cho lai hai con lai F
AB
và F
CD
với nhau để thu được con lai
kép F
ABCD
đem làm sản phẩm.
Hình 1.3. Sơ đồ lai tạo sản phẩm 4, 5 giống
1.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản của lợn nái
Các giống lợn nội có tuổi thành thục về tính (động dục lần đầu) sớm
hơn các giống lợn ngoại nhập và lợn lai. Theo Phùng Thị Vân và cs. (1998)
[29] lợn Landrace thành thục về tính dục là 213,1 ngày và lợn Yorkshire là
219,4 ngày.
Lợn cái hậu bị nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn
lợn nuôi chăn thả. Đối với lợn ngoại được 5,6 tháng tuổi nên cho tiếp xúc với
lợn đực mỗi ngày khoảng 15 phút để thúc đẩy sự dậy thì, lợn cái hậu bị sẽ
động dục sớm. Lợn cái hậu bị động dục lần đầu không nên cho phối ngay mà
nên cho phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Sự thành thục về thể vóc là sự sinh trưởng, phát triển đầy đủ các cơ quan,
bộ phận của cơ thể. Khi lợn cái hậu bị thành thục về thể vóc thì mới cho phối
giống. Đối với lợn cái ngoại chỉ phối khi trọng lượng cơ thể đạt trên 120 kg.
(d) Thứ tự các lứa đẻ
Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ
khác nhau.
Lợn cái hậu bị, ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượng con/ổ thấp. Sau đó từ
lứa đẻ thứ hai trở đi số con/ổ sẽ tăng dần lên đến lứa thứ 6, thứ 7 thì bắt đầu
giảm dần. Trong sản xuất người ta thường chú ý giữ vững số lượng con/ổ ở
các lứa từ thứ 6 trở đi bằng kỹ thuật chăn nuôi, quản lý, chăm sóc sao cho đàn
lợn nái không tăng cân quá và cũng không gầy sút quá.
(e) Kỹ thuật phối giống
Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng tới số lượng con/lứa. Chọn thời
điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa. Nếu lợn cái
động dục kéo dài 48 giờ thì trứng sẽ rụng vào 8 - 12 giờ trước khi kết thúc
chịu đực. Tức là 37 - 40 giờ sau khi bắt đầu chịu đực. Cho phối quá sớm hoặc
quá muộn thì tỉ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ thấp.
bất thường, tỷ lệ thụ thai kém. Lợn cái hậu bị phải có khả năng sinh trưởng
tốt, nhưng tốc độ sinh trưởng phải thấp hơn so với lợn thịt cùng loại, và
khuyến cáo rằng: khi chọn lợn cái hậu bị phải chọn từ những con có khối
lượng sơ sinh, cai sữa cao từ những ổ có nhiều con. Điều chỉnh thức ăn để
khối lượng cơ thể đạt 120 - 140kg ở chu kỳ động dục thứ 3 và trước khi được
phối giống 14 ngày, cho ăn chế độ kích dục, tăng khối lượng thức ăn 1,00 -
1,50kg thức ăn có bổ sung khoáng, sinh tố sẽ giúp lợn cái ăn nhiều hơn và sẽ
tăng số trứng rụng từ 2,00 - 2,10 trứng/1 lợn cái (Nguyễn Thiện , 1998) [24].
(h) Số con cai sữa/ổ:
Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến
cai sữa, đã thống kê khoảng 3% đến 5% số lợn con chết khi sơ sinh bao gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn chết trong giai đoạn chửa kỳ cuối. Các
nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là do:
bị lợn mẹ đè và không bú được chiếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng
kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4%.
Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai
sữa/nái/năm, đây là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng. Theo kết quả nghiên cứu
của Thomas W.J.K., (1973) (trích Nguyễn Thiện, 2005) [26]: Số lợn con đẻ ra
trung bình/ổ của đàn lợn nước Anh là 11,0 con/ổ, trong đó số con còn sống là
10,4 con, số con còn sống đến cai sữa là 8,6 con/ổ, tỷ lệ nuôi sống đạt 86,7%.
Số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc nhiều yếu tố như tuổi tthành thục về
tính, tỷ lệ thụ thai, tổng số lợn con đẻ ra, số lứa đẻ trong năm, tỷ lệ nuôi sống
đến cai sữa.
Rút ngắn khoảng cách 2 lứa đẻ bằng cách cai sữa sớm lợn con, đây là
biện pháp nhằm tăng số lứa đẻ/nái/năm. Cùng với việc cải tạo nuôi dưỡng,
chăm sóc, tích cực kiểm tra thành tích sinh sản của gia súc cái thì khả năng
khoảng 7 -8 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 70 - 80kg, các giống lợn nội
lúc 5 - 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể khoảng 25 - 30kg. Thời kì 4 - 8
tháng tuổi lợn ngoại và 2 - 6 tháng tuổi lợn nội tinh hoàn phát triển rất nhanh
để đạt tới độ thành thục sinh dục. Song ngoài ra độ thành thục sinh dục còn
phụ thuộc vào sự phát triển cơ thể hơn là tuổi con vật. Nếu nuôi dưỡng, chăm
sóc tốt sẽ thành thục sớm hơn và ngược lại nuôi dưỡng kém sẽ kéo dài thời
gian thành thục sinh dục.
Thời gian bắt đầu sử dụng lợn nội 8 tháng tuổi, lợn ngoại 10 tháng tuổi.
Khoảng thời gian 2 -3 tháng từ khi thành thục chúng ta kiểm tra tinh dịch của
chúng bằng việc cho phối với các con cái kiểm tra (số nái dùng kiểm tra 30 -
50 con).
(a) Ảnh hưởng của chế độ nuôi dưỡng đến tuổi thành thục về tính của
lợn đực giống
Thông thường lợn đực giống ngoại sẽ thành thục trong giai đoạn từ 5 -
8 tháng tuổi, khi đó khối lượng cơ thể đạt khoảng 80 - 120kg. Thời gian thành
thục về tính chịu ảnh hưởng của tuổi hơn là khối lượng cơ thể (Einarsson,
1975) (trích Nguyễn Thiện, 2005) [26].