Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái landrace, yorkshire và con lai (♂pidu x ♀ landrace), (♂pidu x ♀yorkshire) nuôi tại tỉnh tuyên quang - Pdf 14

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
A. Giống
Du Giống lợn Duroc
H Giống lợn Hampshire
Lr Giống lợn Landrace
LW Giống lợn LargeWhite
Pi Giống lợn Pietrain
MC Giống lợn Móng Cái
Yr Giống lợn Yorkshire
PD hoặc PiDu Lợn lai giữa Pietrain và Duroc
PD×Lr Lợn lai giữa PiDu và Landrace
PD×Yr Lợn lai giữa PiDu và Yorkshire
LrYr hoặc (Lr×Yr) Lợn lai giữa Landrace và Yorkshire
YrLr hoặc (Yr×Lr) Lợn lai giữa Yorkshire và Landrace
ĐB×MC Lợn lai giữa Đại Bạch và Móng Cái
Yr×MC Lợn lai giữa Yorkshire và Móng Cái
B. Thức ăn
TTTA Tiêu tốn thức ăn
KL Khối lượng
KLCS Khối lượng cai sữa
KLSS Khối lượng sơ sinh
Kg Kilogam
Kg/cm
2

Kilogam/Centimet vuông
G Gam
Cm Centimet
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
SCĐRCS/ổ Số con đẻ ra còn sống/ổ
Cs Cộng sự

năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp cho lai tạo
với các dòng lợn nái có năng suất sinh sản cao sẽ tạo ra các con lai 3 - 4 máu
ngoại có thừa hưởng di truyền tốt từ bố mẹ. Con lai thương phẩm sẽ có khả
năng sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, sức đề kháng với bệnh tật cao
và đặc điểm nổi bật là con lai thương phẩm sẽ có tỷ lệ thịt nạc cao. Theo kết
quả điều tra của Vũ Đình Tôn và cs (2007) [47] ở các hộ chăn nuôi tại một
số tỉnh phía Bắc cho thấy, việc sử dụng đực lai là khá cao (chiếm 36%) trong
cơ cấu đực giống. Các đực lai phối giống với lợn nái các giống ngoại (nái
thuần Landrace (Lr) chiếm 15,60% và Yorkshire (Yr) chiếm 18,9%) để tạo
1
ra con lai 3 máu có năng suất sinh sản cao, sinh trưởng nhanh và tiêu tốn
thức ăn thấp (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy, 2009 [20]).
Tuyên Quang là một trong những tỉnh có quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ là
chủ yếu. Đàn lợn nái nuôi vẫn chủ yếu là lợn nội và lợn lai F
1
chiếm 80 - 85%
tổng đàn nái. Theo số liệu của chi cục thống kê tỉnh năm 2011, tổng đàn lợn là
427.500 con, trong đó lợn nái là 49.200 con. Vì vậy, ngành chăn nuôi lợn, đặc
biệt là chăn nuôi lợn ngoại ở Tuyên Quang vẫn còn nhiều hạn chế trong công
tác giống dẫn đến năng suất, chất lượng của đàn lợn không ổn định. Do đó,
việc nghiên cứu đánh giá chất lượng đàn nái ngoại đang nuôi tại một số cơ sở
và để tìm ra tổ hợp lai thích hợp cho sản xuất lợn thịt chất lượng cao là một
đòi hỏi mang tính cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến
hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của lợn nái Landrace,
Yorkshire và con lai (♂PiDu x ♀ Landrace), (♂PiDu x ♀Yorkshire) nuôi
tại Tỉnh Tuyên Quang"
2. Mục đích đề tài
- Theo dõi năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire khi
được phối giống với đực PiDu (Pietrain x Duroc).
- Theo dõi khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của con lai (♂PiDu x

nhau, nhưng khi nuôi dưỡng chúng trong những điều kiện khác nhau thì khả
năng tăng trọng và thành phần thịt xẻ của chúng rất khác nhau. Điều này có
thể giải thích do các cá thể đều nhận từ bố, mẹ một hệ thống gen quy định
3
nào đó và được xem như là nhận được khả năng di truyền. Tuy nhiên khả
năng di truyền đó có thể được thể hiện hay không là tuỳ thuộc vào điều kiện
ngoại cảnh.
Theo di truyền học, kiểu hình là kết quả tác dụng của kiểu gen với điều
kiện ngoại cảnh.

P = G + E
Trong đó: P: Giá trị kiểu hình
G: Giá trị kiểu gen
E: Điều kiện ngoại cảnh.
Tuỳ theo phương hướng tác động của các gen alen mà giá trị kiểu gen
có thể bao gồm các thành phần khác nhau.
G = A + D+ I
“A” Gọi là giá trị cộng gộp, thành phần quan trọng nhất cố định không
thay đổi có thể di chuyển được và còn được gọi là giá trị giống của cá thể
(Breeding value) là cơ sở di truyền của việc chọn giống.
“D” là tính trội (Dominance) là tác động trội của các cặp alen trong
cùng 1 locus nên không có tính trội thì giá trị di truyền và giá trị cộng gộp là
trùng nhau. Khi xem xét 1 locus duy nhất sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen
và giá trị giống A và giá trị di truyền đó chính là sự sai lệch trội D.
Do vậy G = A + D
“I” là các gen của các cặp gen hoặc cùng alen sai lệch tương tác nên
kiểu gen là do từ 2 locus trở lên cấu thành giá trị kiểu gen có thể thêm 1 sai
lệch do sự tương tác giữa các gen trong các locus khác nhau.
Ngày nay, qua các công trình nghiên cứu đều cho thấy, các tính trạng số
lượng mà phần lớn là các tính trạng có ý nghĩa kinh tế như: mức tiêu tốn thức

5
con lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F
1
. Nếu
dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và
ưu thế lai của bố, do bố là con lai F
1
. Trong lai bốn giống, con lai có cả ưu thế
lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố.
Để đạt được ưu thế lai tối đa thì nhà chọn tạo và lai giống cần tối ưu
hóa các yếu tố để tạo cơ sở khoa học cho tăng năng suất chăn nuôi. Thông
thường ưu thế lai chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
* Tổ hợp lai: Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi tổ hợp lai. Theo Trần Đình
Miên và cs (1994) [26], mức độ ưu thế lai đạt được có tính cách riêng biệt cho
từng cặp lai cụ thể. Theo Trần Kim Anh (2000) [1], ưu thế lai của mẹ có lợi
cho đời con, ưu thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh
trưởng của lợn con. Ưu thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống
của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau cai sữa. Ưu thế lai của bố thể hiện tính
hăng của con đực, kết quả phối giống, tỷ lệ thụ thai. Khi lai hai giống, số lợn
con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%, khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn
con cai sữa/nái/năm tăng tới 10 - 15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 - 1,5
con và khối lượng cai sữa/con tăng được 1 kg ở 28 ngày tuổi so với giống
thuần (Colin, 1998) [62].
* Tính trạng: Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng
có khả năng di truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di
truyền thấp. Những tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng
sinh sản có ưu thế lai cao nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường
có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai
giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu

(giống Yorkshire chuyên hóa theo tăng khối lượng, tỷ lệ nạc), dòng L06
7
(giống Landrace chuyên hóa theo khả năng sinh sản) và dòng L64 (giống
Pietrain chuyên hóa theo tỷ lệ nạc cao) và 2 dòng tổng hợp là L19 và L95 hiện
nay đang được sử dụng để tạo ra các dòng giống tốt có tiềm năng năng suất và
chất lượng cao.
Để tạo ra lợn lai nuôi thịt có 4 và 5 giống, người ta thường cho lợn đực
giống dòng 402 lai với lợn nái CA và C22. Lợn đực 402 được tạo ra từ việc
cho lai tạo giữa lợn đực dòng L64 và lợn nái dòng L11. Lợn nái C22 và CA
thuộc cấp giống bố mẹ được tạo ra bằng cách cho lai giữa lợn đực L19 với lợn
nái C1050 và C1230.
Khi cho lai giữa lợn đực dòng 402 với lợn nái CA sẽ tạo ra con lai
hybrid 5 máu để nuôi thịt. Lợn lai hybrid nuôi thịt 4 hoặc 5 giống có năng
suất cao, phẩm chất tốt (tỷ lệ nạc cao), phù hợp với phương thức nuôi công
nghiệp hiện nay, được thị trường ưa chuộng.
Đối với giống lợn ngoại, hiện nay ở nước ta đang phổ biến 3 công thức
lai sau:
- Lợn lai 3 máu: Yorkshire - Landrace - Duroc, loại này phổ biến ở các
tỉnh phía Bắc (Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ). Công thức lai
tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại ông bà như sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1. Công thức lai tạo lợn thương phẩm lai 3 giống ngoại
Yr, Lr
Lr, Yr
Dr
LrYr,
YrLr
YrLrDr
LrYrDr
8
- Lợn lai 4 máu: Yorkshire - Landrace - Duroc - Pietrain, loại này phổ

Lr
L11
Yr
L64
Pi
L95
Meishan
L64
Pietran
9
1.1.2. Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục của lợn
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ trong cơ thể. Đó là sự
tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang và khối lượng các bộ phận của toàn
bộ cơ thể con vật trên cở sở bản chất di truyền của đời trước quy định. (Trần
Đình Miên, 1975) [25]. Trong chăn nuôi lợn, khả năng sinh trưởng của lợn
liên quan tới khối lượng cai sữa, khối lượng xuất chuồng, ảnh hưởng rất lớn
đến giá thành và hiệu quả chăn nuôi.
Các sinh vật sinh ra và lớn lên gọi là sự phát triển của sinh vật. Sinh vật
sống biểu thị tính cảm ứng, tính sinh sản, tính phát triển, tính tạo ra năng
lượng, tính hao mòn và chết. Đặc điểm của sinh vật là hấp thu, sử dụng năng
lượng của môi trường xung quanh làm thành chất cấu tạo cơ thể của mình, để
lớn lên và phát triển. Do vậy các giống gia súc khác nhau thì có quá trình sinh
trưởng khác nhau, chủ yếu là quá trình tích luỹ protein.
* Đặc điểm sinh trưởng phát dục: Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát
dục rất nhanh. Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng, khối lượng
lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 2 lần khi sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc
30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp
10 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần. Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh
nhưng không đồng đều qua các giai đoạn. Tốc độ nhanh nhất là lúc 21 ngày
đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống. Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân

2,5 lứa), tuỳ theo thời gian cai sữa cho lợn con. Lợn nội thành thục về tính
sớm lúc 3 - 4 tháng tuổi và có thể đưa vào sử dụng lúc 8 tháng tuổi. Lợn
nái ngoại thường thành thục về tính muộn hơn nhưng cũng có thể đưa vào
sử dụng lúc 9 - 10 tháng tuổi. Lợn nái bình thường có thể sử dụng tới 4
năm (Vũ Đình Tôn và Võ Trọng Thành, 2006) [46].
11
* Khả năng miễn dịch của lợn: Lợn con đẻ ra hầu như chưa có kháng
thể, lượng kháng thể tăng lên nhanh sau khi bú sữa đầu. Khả năng miễn dịch
của lợn con hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu vào
được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ. Do đó lợn con cần được bú sữa đầu
càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày
tuổi cơ thể chúng mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Vì vậy những lợn
không được bú sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, tỷ lệ chết cao (Trần Văn
Phùng và Hà Thị Hảo, 2004 ) [30].
Trong chọn tạo giống chăn nuôi lợn, hiểu được quá trình sinh trưởng,
nhất là quá trình tạo nạc và mỡ sẽ giúp cho người chăn nuôi lợi dụng được
các đặc tính sẵn có của lợn. Tốc độ tăng trưởng của gia súc thường khác nhau,
tỷ lệ các phần mỡ, cơ, xương trên lợn cùng lứa tuổi có khối lượng khác nhau
hay bằng nhau đều phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và các giai đoạn sinh
trưởng của gia súc. Giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 5 tháng tuổi. Trong giai đoạn
này, lợn chủ yếu là tích luỹ cơ và khoáng chất, đặc biệt là sự phát triển của cơ.
Mô cơ bao gồm một số sợi cơ nhất định liên kết với nhau thành bó, có vỏ liên
kết bao bọc. Ở giai đoạn còn non, lợn có nhiều mô cơ liên kết và sợi cơ,
nhưng càng lớn thì tỷ lệ cơ giảm. Giai đoạn mới sinh thớ cơ mỏng, do đó bó
cơ cũng như cấu trúc của thịt tốt, khi khối lượng cơ thể tăng theo tuổi thì sợi
cơ dày thêm và bó cơ trở lên lớn hơn. Tuy nhiên đến giai đoạn cuối từ 60 - 70
kg trở đi, khả năng tích luỹ cơ giảm dần, tốc độ tích luỹ mỡ tăng lên, mức độ
tăng này tuỳ thuộc vào tốc độ tích luỹ mỡ dưới da, vì lượng mỡ dưới da chiếm
2/3 tổng số mỡ trong cơ thể (Jurgens, 1993) [77].
Theo Pfeifer và cs (1984) [90] cùng với sự tăng lên về khối lượng thì tỷ lệ

này thấp hơn so với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo
(từ 25 - 95 kg).
13
Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền
nghịch và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: -0,51
đến -0,56 (Nguyễn Văn Đức và cs, 2001) [15]; - 0,715 (Nguyễn Quế Côi và
cs, 1996) [10].
Hệ số di truyền về tiêu tốn thức ăn ở mức trung bình. Tuy nhiên, tiêu
tốn thức ăn có thể dễ dàng được cải thiện thông qua chọn lọc và nó thường
là một chỉ tiêu quan trọng trong chương trình cải tiến giống lợn. Tác giả
Kovalenko và Yaremenko (1990) [79] công bố con lai (DLW) D có mức
tiêu tốn thức ăn là 3,55 kg/kg tăng trọng, trong khi con lai LW chỉ tiêu này
đạt 2,5 kg/kg tăng trọng. Tính trạng này được quan tâm chọn lọc và có xu
hướng ngày càng giảm.
Đối với các chỉ tiêu giết thịt như tỷ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỷ
lệ nạc, độ dày mỡ lưng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao (h
2
= 0,3 -
0,35) (Sellier và cs, 1998) [96]. Đối với độ dày mỡ lưng, hệ số di truyền dao
động ở mức độ trung bình đến cao, từ 0,3 - 0,7 (Johnson và cs, 1999 [76]),
nên việc chọn lọc cải thiện tính trạng này có nhiều thuận lợi. Mc.Kay, 1990
[83] cho rằng việc chọn lọc nhằm tăng khả năng tăng khối lượng và giảm dày
mỡ lưng không làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con sơ sinh trên ổ.
Tỷ lệ nạc là một tính trạng có hệ số di truyền cao, dao động từ 0,3 - 0,8.
Johnson (1985) đã công bố hệ số di truyền đối với tính trạng tỷ lệ nạc trên
8.234 lợn Landrace là 0,7 và trên 4.448 lợn Yorkshire là 0,81. Hovenier và cs
(1992) [73] khi nghiên cứu theo dõi trên lợn Duroc và Yorkshire cho biết hệ
số di truyền về tỷ lệ nạc là 0,63.
Đối với các chỉ tiêu thân thịt thì hệ số di truyền của tỷ lệ móc hàm là
thấp nhất (h

+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân
tố ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn.
Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70 - 80% giá thành sản phẩm, do
15
đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh
tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả
năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao
thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa
đẻ/nái/năm. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa
thức ăn của cơ thể. Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối
tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ
giảm chi phí thức ăn.
Mối quan hệ giữa năng lượng và protein trong khẩu phần là yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng khối lượng. Đảm bảo cân đối dinh dưỡng thì
con vật mới phát huy được tiềm năng di truyền của nó. Thức ăn và giá trị dinh
dưỡng là các nhân tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và chất lượng thịt
của con vật.
Ngoài ra, phương thức nuôi dưỡng cũng có ảnh hưởng đến khả năng
sản xuất của con vật. Khi cho lợn ăn khẩu phần ăn tự do, khả năng tăng khối
lượng nhanh hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn nhưng dày mỡ lưng lại cao hơn
khi lợn được ăn khẩu phần ăn hạn chế. Lợn cho ăn khẩu phần thức ăn hạn chế
có tỷ lệ nạc cao hơn lợn cho ăn khẩu phần thức ăn tự do (Nguyễn Nghi và Bùi
Thị Gợi, 1995 [27]).
+ Ảnh hưởng của tính biệt
Lợn cái, lợn đực hay lợn đực thiến đều có tốc độ phát triển và cấu thành
của cơ thể khác nhau. Lợn đực có khối lượng nạc cao hơn lợn cái và đực
thiến. Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn
lợn cái và lợn đực thiến. Một số công trình nghiên cứu khác lại cho rằng lợn
đực thiến có mức độ tăng khối lượng cao hơn, tiêu tốn thức ăn thấp hơn

Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ
thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn. Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ
khi còn rất nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích luỹ ngày càng
tăng. Tính từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi khối lượng lợn tăng khoảng 100 lần,
trong đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăng 81lần còn mô mỡ tăng
tới 675 lần (Perez, Desmoulin, 1975) [89].
17
1.1.3. Đặc điểm sinh sản của lợn nái
1.1.3.1. Một số đặc điểm của cơ quan sinh dục và sinh lý sinh dục lợn cái
Sinh sản của gia súc là một tiêu chuẩn để xác định giá trị của con vật. Khả
năng sinh sản biểu hiện qua nhiều chỉ tiêu: đẻ nhiều con, nhiều lứa, tỷ lệ nuôi
sống sau đẻ, sau khi cai sữa, tỷ lệ còi cọc, tỷ lệ dị hình, khuyết tật. Khả năng sinh
sản cũng liên quan đến các chỉ tiêu sớm thành thục, thời gian mang thai, số lần
thụ tinh đạt kết quả. Sau khi gia súc được sinh ra đến một giai đoạn nào đó cơ
thể có những biến đổi chuẩn bị cho việc sinh sản, thời kỳ này gọi là thành thục
về tính. Trong điều kiện bình thường sự thành thục về tính xuất hiện lúc 6 - 7
tháng tuổi đối với lợn ngoại. Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên, thời gian chiếu sáng, chế độ dinh dưỡng, giống, tuổi gia súc
Theo Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [45], cơ quan sinh dục cái gồm có
buồng trứng, tử cung, âm đạo và các cơ quan sinh dục bên ngoài. Cơ quan
sinh dục bên trong được đỡ bằng dây chằng rộng. Dây chằng này gồm những
màng treo buồng trứng (đỡ buồng trứng), màng treo ống dẫn trứng (đỡ ống
dẫn trứng) và màng treo tử cung (đỡ tử cung).
Buồng trứng khác với dịch hoàn, nó nằm lưu lại trong xoang bụng, thực
hiện cả 2 chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sinh sản ra Steroit). Tất
cả các tế bào trứng phát triển từ đám tế bào mầm đầu tiên của mào sinh dục.
Những tế bào nang trứng bọc quanh tế bào sơ cấp, phát triển từ biểu mô mầm,
tạo nên những nang trứng đầu tiên. Ban đầu những nang trứng này nằm rải
rác khắp buồng trứng, nhưng ngay sau đó chúng khu trú trong vùng vỏ ngoại
vi, dưới màng liên kết trứng. Hình dáng và kích thước buồng trứng biến đổi

1.1.3.2. Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái
Để đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải
xác định được các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để
19
định ra thời gian sử dụng lợn cái hiệu quả. Các chỉ tiêu này cần phải được tính
chung trong toàn bộ thời gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ
cuối cùng.
Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [39] cho rằng khi khảo sát và đánh giá
năng suất sinh sản của lợn nái cần chú ý các chỉ tiêu: tuổi thành thục sinh dục,
chu kỳ động dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian mang thai và số con đẻ
ra/lứa. Tuy nhiên, Nguyễn Thiện, Hoàng Kim Giao (1996) [36] cho rằng số
lợn con cai sữa/nái/năm là chỉ tiêu thể hiện sự đánh giá đúng đắn và chính xác
nhất về năng suất sinh sản của lợn nái. Cũng theo Legault, các chỉ tiêu ảnh
hưởng đến số lợn con cai sữa/nái/năm bao gồm: số con đẻ ra, tỷ lệ chết của
lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu, thời gian từ
cai sữa đến khi thụ thai lứa sau.
Qua nghiên cứu của Harmond (1994) (trích theo Đỗ Thị Thoa, 1998)
[41] cho thấy các chỉ tiêu quan trọng với lợn nái sinh sản gồm: tuổi đẻ lứa đầu,
số con đẻ ra còn sống/ổ, khoảng cách lứa đẻ, thời gian cai sữa. Kết quả đó cũng
cho thấy số con cai sữa/nái/năm của lợn Large white là 21,2 con và của lợn
Landrace Bỉ nuôi tại Pháp là 17,9 con.
Ở Việt Nam vào những giai đoạn khác nhau, đã có những tiêu chuẩn
khác nhau để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái như: số con đẻ ra còn
sống/lứa, khối lượng cai sữa/lứa, tuổi đẻ lứa đầu với nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng
cách giữa 2 lứa đẻ với lợn đẻ từ lứa thứ 2 trở đi (theo TCVN 1647- 82, TCVN
3666 - 89 hoặc TCVN 1280 - 81, TCVN 1282- 81). Trong điều kiện chăn
nuôi hiện nay dù là chăn nuôi lợn nái ở bất cứ khu vực nào thì thời gian cho
con bú của lợn nái cũng thấp hơn 60 ngày, thậm chí có những trang trại chăn
nuôi với quy mô trung bình và nhỏ cũng đã thực hiện được việc tách con vào
21 ngày tuổi. Đó cũng là một giải pháp góp phần tăng năng suất sinh sản của

số con cho mỗi nái có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản.
Số lượng lợn con/ổ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó
sau này. Những lợn nái từng được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra
những con cái nhẹ cân hơn, ảnh hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ
đẻ trên 10 con. Việc tiêu chuẩn hoá số con đẻ ra/ổ là 8 - 10 con sẽ giảm bớt
ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định giá trị giống chính xác hơn, vì
sau khi được chuẩn hoá và được nuôi dưỡng trong cùng một môi trường nên
khả năng làm mẹ, tiết sữa nuôi con của lợn nái được đánh giá chính xác hơn
qua khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi.
Số con cai sữa/lứa phụ thuộc tỷ lệ nuôi sống: tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh
đến cai sữa chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đã
biết 9,8%; bệnh chưa biết 13,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhân
khác 3,2%. Lợn con trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ
khác nhau như di truyền 4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%;
dinh dưỡng kém 8%; nguyên nhân khác 26,4%. Theo Nguyễn Khắc Tích
(2002) [44] tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở mỗi giai đoạn có sự khác nhau:
ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày 4 - 7: 10%; từ ngày 8 - 14:
15%; từ ngày 15 - 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%.
Số con đẻ/nái/năm: chỉ tiêu này chịu ảnh hưởng rất nhiều vào thời gian
nuôi con và số ngày bị hao hụt (thời gian chờ phối, mang thai, sảy thai, chết
thai ). Trước kia ở Việt Nam thời gian lợn nái nuôi con trung bình 60 ngày,
hiện nay tuỳ điều kiện cụ thể số ngày cho con bú đã rút ngắn còn từ 21 - 45 ngày.
Thực tế nên cai sữa lợn con vào 21, 28, 35, 45 ngày tuổi thì các bệnh đã biết
gây chết 9,8% lợn trước cai sữa; bệnh chưa biết gây chết 13,1% và bệnh ỉa
chảy lợn con gây chết 10,8%. Những tỷ lệ này thường ít xảy ra ở lợn dưới 21
ngày tuổi. Nếu cai sữa trước 22 ngày tuổi sẽ khắc phục được những nguyên
nhân trên đến 33,35% số lợn con chết trước cai sữa (Nguyễn Khắc Tích,
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status