Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay
1 - Trí thức trong lịch sử phát triển của nhân loại
Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vai trò của trí thức rất lớn. C. Mác -
Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin trên cơ sở tổng kết lịch sử xã hội loài người và thực tiễn đấu tranh
cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đã đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng
lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -
Lênin, giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mạng lịch sử toàn thế giới của mình khi
liên minh với các giai cấp và tầng lớp lao động khác mà trước hết là với giai cấp nông dân,
đội ngũ trí thức và lãnh đạo họ tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.
Trong xu thế phát triển của nhân loại nói chung và của nền kinh tế tri thức nói riêng hiện
nay, lao động trí óc đang ngày càng chiếm ưu thế, lao động chân tay đang thu hẹp dần. Nhiều
quá trình sản xuất ra của cải vật chất xã hội được tự động hóa, tin học hóa, đòi hỏi người sản
xuất phải có trình độ tri thức, chuyên môn cao, làm việc theo phương thức sáng tạo. Do vậy, tầng
lớp trí thức đang phát triển nhanh chóng và chắc chắn sẽ trở thành bộ phận dân cư lớn, không
những về số lượng mà cả vai trò, sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến diễn tiến chính trị, kinh tế, xã hội.
Đồng thời, họ sẽ là những người tạo ra phần lớn nhất của cải xã hội.
Mặt khác, trong nền kinh tế tri thức, ranh giới của tầng lớp trí thức với các giai cấp, tầng
lớp khác trong xã hội cũng không còn tách biệt rõ ràng như trước đây. Đã xuất hiện những bộ
phận của giai cấp công nhân, nông dân và của các tầng lớp khác được trí thức hóa, lao động theo
những đặc điểm của lao động trí thức. Chính vì thế, quan niệm về trí thức và giới trí thức cũng đã
thay đổi, không còn nguyên nghĩa như trước đây, khi mà công nghệ thông tin chưa ra đời.
Cho dù quan niệm về trí thức có thể thay đổi do sự vận động của các điều kiện lịch sử xã
hội, thì trong xã hội thời nào cũng vậy, tầng lớp tri thức đều có 5 vai trò chủ yếu là:
- Tiếp thu và truyền bá tri thức;
- Sáng tạo các giá trị mới của tri thức;
1
- Đề xuất, phản biện một cách độc lập các chủ trương, chính sách và biện pháp giải quyết
các vấn đề của xã hội;
- Dự báo phát triển và định hướng dư luận xã hội;
- Tham gia gián tiếp và trực tiếp vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.
tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân.
Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài"
1
Bản thân Hồ Chí Minh là một trí thức yêu nước đi làm cách mạng. Người đã hết sức
trọng dụng tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc, tạo điều kiện cho họ được cống hiến, được thể
hiện đầy đủ nhất tài năng, vai trò và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp chung của toàn dân.
Hàng loạt trí thức trẻ - những học sinh, sinh viên yêu nước, giác ngộ cách mạng đã có mặt trong
đội ngũ cán bộ lãnh đạo trung kiên, giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy Đảng, Nhà nước
trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ,
Nguyễn Đức Cảnh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, v.v
Nhiều trí thức trưởng thành trong nước hay từ nước ngoài trở về như: Hồ Đắc Di, Đặng Văn
Ngữ, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đại Nghĩa,
Lương Định Của, Tôn Thất Tùng, Phạm Huy Thông, Trần Duy Hưng, Đặng Thai Mai, Nguyễn
Đình Thi, Cù Huy Cận, Xuân Diệu v.v đã đi theo cách mạng ngay từ những ngày đầu độc lập,
sẵn sàng chịu đựng những thử thách khó khăn, gian khổ, hy sinh trong kháng chiến chống thực
dân, đế quốc, đóng góp tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, dành độc lập, tự do
cho đất nước. Ngay cả trong Chính phủ lâm thời năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã mời
các nhân sĩ trí thức không phải là đảng viên Đảng Cộng sản tham gia và giữ những trọng trách
như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh, v.v
Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đều luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là
lấy "liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt" của
cách mạng. Điều này được thể hiện trong Chính cương, Điều lệ Đảng, trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và nhiều văn kiện khác.
Thế giới hiện nay đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, đó là quá
trình chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế
chủ yếu dựa vào tri thức con người. Đó là nền kinh tế trong đó sản sinh ra, truyền bá và sử dụng
tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành
kinh tế. Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức là một bước nhảy vọt về chất của lực lượng
sản xuất và nền văn minh nhân loại. Tỷ trọng của cải tri thức trong tài sản quốc gia của các nước
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 5, tr 156.
Theo số liệu thống kê, hiện nay nước ta có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở
lên, chiếm 4,5% lực lượng lao động, trong đó có 18.000 thạc sỹ, 16.000 tiến sỹ và tiến sỹ khoa
học, hơn 6.000 giáo sư và phó giáo sư. Tuy nhiên, có thể thấy đội ngũ trí thức nước ta hiện nay
4
đang còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động. Đội ngũ cán bộ khoa
học và công nghệ - lực lượng chủ yếu của đội ngũ trí thức, chất lượng chưa cao về phương pháp
tư duy sáng tạo, năng lực tổ chức, điều hành công việc, trình độ ngoại ngữ, mối quan hệ hợp tác
với các đồng nghiệp nước ngoài Đây chính là những hạn chế sẽ cản trở quá trình hội nhập của
trí thức nói riêng và của đất nước nói chung.
Số liệu thống kê sau đây phần nào cho thấy sự hạn chế của đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ nước ta. Từ năm 1998 đến năm 2002, toàn thế giới công bố được 35 vạn công
trình khoa học và công nghệ, trong đó, Mỹ đóng góp xấp xỉ 1/3 - 119.000 công trình, Xin-ga-po:
6.932 công trình, Thái Lan: 5.210 công trình, Ma-lai-xi-a: 2.088 công trình. Riêng Việt Nam chỉ
có 250 công trình, chiếm chưa đến một phần nghìn của thế giới. Trong 5 năm, 2001 đến 2005,
nước ta có 11 đơn đăng ký sáng chế gửi Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, trong khi đó số lượng
của các nước khác là: In-đô-nê-xi-a 36 đơn, Thái Lan 39 đơn, Phi-lip-pin 85 đơn, Hàn Quốc
15.000 đơn, Nhật Bản 87.620 đơn và Mỹ 206.710 đơn.
Chỉ số phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam mới chiếm 1,9%, tỷ lệ đóng góp vào tăng
trưởng kinh tế do nhân tố trí tuệ chỉ khoảng 16%, tỷ lệ ngành công nghệ cao chiếm 15,7%. Xuất
khẩu công nghệ cao năm 2003 mới có 2,5%, khi đó Trung Quốc là 27%, Thái Lan là 30%, Xin-
ga-po là 59%.
Có thể nói, sự hạn chế kết quả xây dựng đội ngũ trí thức ở nước ta gắn liền với một số
vấn đề sau :
- Thiếu một chiến lược và quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cơ bản và dài
hơi. Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức phải được coi là một bộ phận cấu thành quan
trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó hữu cơ và trở thành điều kiện của chiến
lược cán bộ. Chiến lược ấy phải bao gồm đầy đủ các phương diện từ đầu tư phát triển hệ thống
giáo dục; đào tạo, bồi dưỡng đại học và sau đại học ngang tầm với khu vực, thế giới; phát hiện,
bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài; hệ thống nhất quán các chính sách về lựa chọn, bồi
dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức; phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ gắn với thu hút và
cao, có khả năng sử dụng ngoại ngữ đã bỏ việc tại các cơ quan nhà nước để đi tìm việc làm tại
các cơ sở nước ngoài hoặc tư nhân, có thu nhập cao và phương thức quản lý hiện đại. Nhiều trí
thức làm việc trái ngành nghề đào tạo. Nhiều hoạt động của các viện nghiên cứu xa rời thực tế, ít
gắn bó với yêu cầu cụ thể của kinh tế, xã hội và các yêu cầu thực chất của đời sống
- Cuối cùng, cần phải nói đến giáo dục, đào tạo, lĩnh vực có ý nghĩa quyết định trong việc
nâng cao dân trí cho toàn dân, tạo điều kiện đầu tiên và quyết định cho việc hình thành đội ngũ
trí thức, nơi thu hút một bộ phận lớn trí thức có trình độ cao làm việc. Chính giáo dục, đào tạo là
nền tảng tạo ra nguồn lực quyết định, lớn nhất của đất nước, là nơi chuẩn bị một cách toàn diện
về học thức, thể lực, nhân cách, lối sống và những giá trị tinh thần, văn hóa quan trọng nhất cho
lớp trẻ trở thành những trí thức, người lao động, chủ nhân ưu tú của dân tộc, của chế độ.
6
Tuy nhiên, hiện nay nền giáo dục của chúng ta đang có nhiều vấn đề, chưa đáp ứng yêu
cầu của đất nước và kỳ vọng của nhân dân. ở khu vực giáo dục phổ thông, chương trình nặng nề,
chưa chú ý quan tâm đầy đủ đến các nội dung bồi dưỡng, giáo dục về đạo đức, lối sống, ý thức
công dân, tình cảm đối với quê hương đất nước. Tại Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa III, năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra nhận xét có ý nghĩa báo động
đối với chương trình giáo dục: "Tôi xem chương trình giáo dục của 10 lớp, thì từ lớp 1 đến lớp
10, phần đức dục rất thiếu sót, chỉ có 10 dòng". Theo nhiều chuyên gia thì tình trạng ấy hầu như
không được cải thiện là bao trong chương trình của 12 lớp hệ giáo dục phổ thông hiện nay.
Phương pháp đào tạo trong giáo dục phổ thông chậm đổi mới, chủ yếu là phương thức truyền thụ
một chiều từ giáo viên, làm cho học sinh thụ động, ỷ lại, thiếu tính sáng tạo.
Đối với hệ đào tạo đại học, tình trạng cũng không khả quan hơn. Khung chương trình bị
bó cứng trong những "niêm luật" từ trên, không phát huy được trình độ và khả năng đặc thù của
từng trường. Không ít môn học trùng lặp nhiều về tri thức ở cấp phổ thông. Các môn học Mác -
Lê-nin chậm đổi mới về nội dung, phương pháp giảng dạy nên không tạo được sự quan tâm,
hứng thú của người học. Hoạt động nghiên cứu khoa học nghèo nàn, chưa thực sự xuất phát từ
yêu cầu thực tế. Phương pháp quản lý mang nặng tính bao cấp, quan liêu, không phát huy được
sự tự chủ, trách nhiệm và sự sáng tạo của từng nhà trường, từng người thầy, chưa quan tâm thích
đáng đến việc kiểm tra, đánh giá chất lượng đầu ra. Chính sách đãi ngộ đối với giáo dục, nhất là
với giáo viên không nhất quán, chưa đủ mức cần thiết để động viên, khuyến khích đội ngũ giáo
công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
3 - Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức, bao gồm cải cách giáo
dục, nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học; đổi mới cơ chế quản lý, vận hành các
trường đại học, các viện nghiên cứu; thực hiện tốt việc đưa sinh viên có triển vọng đi đào tạo ở
nước ngoài; bồi dưỡng đội ngũ trí thức trẻ và mở ra nhiều hình thức, huy động các nguồn lực xã
hội tham gia bồi dưỡng, đào tạo lại để đội ngũ trí thức đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn của
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.
4 - Củng cố và phát triển các hội trí thức nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức này
trong việc tập hợp, đoàn kết, góp phần phát huy năng lực chuyên môn, khoa học, nâng cao và
cập nhật tri thức, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân của đội ngũ trí thức. Tạo
điều kiện và cơ chế để các hội trí thức thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia
tích cực vào quá trình hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước.
5 - Nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, trước hết là nâng
cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp về vai trò, vị trí của trí thức cũng như của công
tác trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Làm tốt công tác tư tưởng để, một
mặt, làm cho toàn xã hội mà trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu đúng về vai trò của trí
thức; mặt khác, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ trí thức đối với đất nước, với
8
chế độ. Cán bộ, đảng viên, các cơ quan, tổ chức của Đảng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra,
đánh giá, uốn nắn kịp thời những sai sót, hạn chế trong việc đề ra và thực hiện các chính sách,
chế độ đối với trí thức, đồng thời xây dựng và thực hiện cơ chế bảo đảm quyền và trách nhiệm
của đội ngũ trí thức trong góp ý kiến xây dựng, phản biện các chủ trương, chính sách kinh tế - xã
hội.
Trong mọi thời kỳ lịch sử phát triển của thế giới cũng như của nước ta, đội ngũ trí thức
luôn là lực lượng quyết định trong sáng tạo, truyền bá tri thức, có vai trò vô cùng to lớn trong
việc sáng tạo ra những giá trị tinh thần cũng như vật chất của nhân loại. Thời đại ngày nay, khi
mà khoa học, công nghệ phát triển và phổ biến nhanh chóng, nền kinh tế tri thức không chỉ là
một xu thế phát triển mà đã trở thành một thực tế sinh động, khẳng định như một tất yếu phát
triển của nhân loại thì vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức càng trở nên to lớn và quan trọng hơn.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X "Về xây dựng đội