Phng phỏp dy th trung i trong trng THCS
A. Đặt vấn đề:
Dạy văn trong nhà trờng thực chất là dạy học sinh đọc hiểu văn bản. Tức là hiểu biết
về văn bản, thông cảm, đồng cảm với cuộc sống trong văn bản, giải thích biểu đạt đợc ý t-
ởng, cái hay của văn bản. Nh thế có nhiều mức độ hiểu bằng cảm xúc, tình cảm, trực giác,
hiểu bằng lý trí, lô gích bằng phân tích, giải thích. Đồng thời các em còn phải hiểu cái
hay, cái tình, cái tài, cái tuyệt vời trong nghệ thuật, hiểu dụng ý sâu xa của tác giả, và các
em còn phải diễn đạt đợc điều mình hiểu ra một cách chính xác, có thể giảng cho ngời
khác hiểu điều mình hiểu, làm bài tập, bài kiểm tra sau mỗi tiết học. Để đạt những điều
đó đòi hỏi một quá trình dạy học không bao giờ kết thúc. Và đây cũng không phải là vấn
đề đơn giản cho mỗi giáo viên chúng ta. Vì vậy bản thân ngời giáo viên phải tự mày mò,
tiếp cận đối tợng học sinh, tìm hiểu kiến thức từ các tài liệu, sách tham khảo từ đó hình
thành cho mình một chơng trình, hệ thống kiến thức thích hợp, chọn ra phơng pháp phù
hợp với từng mảng kiến thức văn học. Để việc dạy văn đạt chất lợng cao thì bản thân ngời
giáo viên phải tìm cho mình hớng đi thích hợp để rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc
hiểu văn bản. Đó là 4 kỹ năng: Nghe, đọc, nói, viết để các em hiểu nội dung thông báo
tức là hiểu ngôn từ và hình tợng. Hiểu ngôn từ đòi hỏi phải hiểu rõ từ ngữ, hình ảnh, điển
cố, yếu tố liên văn bản. Các em phải liên tởng, tởng tợng, bổ sung cụ thể hoá các chi tiết,
phát hiện các mối liên hệ ngầm giữa các hình tợng và đồng thời còn cảm nhận cái hay
qua nghệ thuật văn bản. Nh R.JakobSon nói là hay ở trong Tính văn học của tác phẩm.
Không những thế mà còn do yêu cầu tích hợp của phơng pháp dạy học văn cải cách, do
chơng trình sách giáo khoa nên trong số tác phẩm đợc chọn giảng dạy ở lớp 7 hiện nay,
một số thể loại văn học đợc đa vào chơng trình với số tiết khá.
Trong số tác phẩm đợc chọn giảng dạy ở lớp 7 hiện nay, một số loại văn học đợc đa
vào chơng trình với số tiết khá nhiều: 12 văn bản ( cả đọc và hớng dẫn ) với thời lợng 10
tiết. Số lợng ấy là khá nhiều so với cấu trúc chơng trình. Đó chính là mảng thơ Đờng
( gồm của Trung quốc Việt nam: trung đại hiện đại ) tất cả tạo nên một nét riêng,
rất độc đáo của chơng trình Ngữ văn 7. Trong đó có cả Thất ngôn tứ tuyệt, ngữ ngôn tứ
tuyệt, thất ngôn bát cú đờng luật, gồm cả chữ Hán và chữ Nôm. Trong phạm vi đề tài này
chúng tôi không có tham vọng đa ra dạy cho tất cả các bài thơ Đờng luật thuộc văn học
trung đại.
ờng cho học sinh vừa khô cứng, vừa mất đi cảm giác mềm mại của một giờ văn.
- Không bám vào nguyên tác bài thơ mà bám vào phần dịch nghĩa để dạy cho học
sinh dễ hiểu.
- Tuyệt đối chú trọng khâu phân tích phải theo kết cấu của thơ Đờng với Thất ngôn
tứ tuyệt là: Khai Thừa Chuyển Hợp: với Thất ngôn bát cú là: Đề Thực
Luyện Kết.
- Chủ yếu phân tích ý ( vì là bản dịch ) chứ không chú ý phân tích từ ngữ trong câu.
Từ những quan niệm ấy, khi dạy đến các văn bản thơ Đờng luật hầu nh cả giáo viên và
học sinh không mấy hứng thú, giờ học bỗng trở nên khô cứng, tẻ nhạt và mất đi cái
hồn, cái sáng tạo của chính tác giả.
Trong chơng trình Ngữ văn 7 các văn bản thơ Đờng luật đợc đa vào giảng dạy với một
thời lợng khá lớn. Đối tợng học sinh còn quá nhỏ, tiếp xúc với thơ Đờng luật cả phần
phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ là một vấn đề hoàn toàn mới và phải thừa nhận rằng không
tránh khỏi những bỡ ngỡ ban đầu
Yêu cầu chơng trình lớp 7 lại phải tuân thủ những nguyên tắc riêng của nó: Vừa tích
cực, vừa tích hợp. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của chơng trình sau khi nghiên cứu thể
loại này tôi mạnh dạn đa ra quan niệm mới về văn học.
2, Quan niệm mới Cách dạy mới:
Việc dạy thơ Đờng luật cho học sinh lớp 7 THCS:
- Giờ dạy học thơ Đờng luật phải thực sự nhẹ nhàng, thoải mái, không gò bó cứng
nhắc mà vẫn chuyển tải hết nội dung cơ bản của văn bản.
2
- Phải đảm bảo nguyên tắc vừa tích cực vừa tích hợp để cho học sinh chủ động, sáng
tạo tìm thấy những cái hay, cái đẹp, cái sáng tạo của chính tác giả qua các thời kỳ
văn học.
- Dạy thơ Đờng luật trong mối quan hệ với các thể thơ trữ tình khác để thấy rõ: Tuy
bị bó buộc, chi phối bởi niêm, luật, đối thơ Đờng luật vẫn không hề cứng nhắc
hơn thế nữa lại là một chỉnh thể văn học trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về nghệ
thuật.
Từ những quan niệm ấy, tôi đã bắt tay thiết kế và dạy mẫu một số tiết thơ Đờng luật
- Hồi hơng ngẫu th
a. Đối với thơ Thất ngôn tứ tuyệt đờng luật ( chữ hán )
Trong chơng trình Ngữ văn 7 thơ Thất ngôn tứ tuyệt và ngữ ngôn đờng luật có hai
bộ phận là chữ Hán và chữ Nôm có cả văn học trong nớc và văn học nớc ngoài. Gồm 4
tác phẩm bằng chữ Hán: Nam quốc sơn hà, Thiên trờng vãn vọng, Võng l sơn bộc bố
và hồi hơng ngẫu th.
Để giảng dạy thành công bộ phận văn học này trớc hết ngời thầy giáo cần cho học
sinh tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của văn bản. Vì muốn hiểu rõ giá trị nội dung,
nghệ thuật của văn bản cần hiểu rõ tác phẩm đó do ai sáng tác, ra đời trong thời kỳ
lịch sử, xã hội và văn hoá nh thế nào. Đối với giáo viên chúng ta ai cũng biết các tác
phẩm văn học thuộc thời kỳ trung đại đều do các bậc vua chúa, tớng lĩnh quan lại và
các trí thức tài hoa sáng tạo nên. Đây chính là bớc nhảy vọt của tiến trình phát tiển
lịch sử văn học. Song mỗi tác phẩm lại ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Hoàn cảnh ấy quyết định không nhỏ đến cảm xúc trữ tình và giá trị nội dung t tởng
của tác phẩm văn học. Từ đó chúng tôi cho học sinh thảo luận để tìm hiểu về thể loại
của tác phẩm về số tiếng, số câu, vần, nhịp thơ. Cho học sinh đọc, rút ra cách đọc.
Từ việc đọc văn bản về phần phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ chúng tôi cho học sinh
nhận xét so sánh giữa nguyên tác với bản dịch thơ để giúp học sinh nhận thấy dịch
thuật nói chung, dịch thơ nói riêng gian khổ đến nhờng nào. Quan trọng hơn là bồi d-
ỡng ý thức văn học tối thiểu cho học sinh. Đặc biệt khi so sánh nh vậy ta đã làm tốt
một việc là bồi dỡng thêm về từ Hán việt cho học sinh. Đồng thời giúp học sinh khắc
sâu nhng từ ngữ quan trọng, khi so sánh cần lu ý những từ dịch cha sát nghĩa.
Trong phần hiểu giá trtị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm theo chúng tôi phải tuỳ
thuộc vào dung lợng thời gian để hớng dẫn học sinh nắm bắt tác phẩm. Với các văn
bản thuộc thể loại này có bố cục 4 phần ( Khai, thừa, chuyển, hợp ). Tuy vậy theo tôi
không phải tác phẩm nào cũng phân tích theo bố cục 4 phần đó mà tuỳ thuộc vào khả
năng cảm nhận của học sinh và năng khiếu, sở thích của giáo viên để hớng dẫn học
sinh. Khi phân tích thơ Đờng luật cần bám vào các từ có tính chất chìa khoá ( nhãn tự )
và cách mở bài, kết bài của bài thơ. Bên cạnh đó khi phân tích cần lu ý cho học sinh
tìm hiểu để nắm đợc nghệ thuật đối ( Tiểu đối và bình đối ). Đặc biệt cần bám vào chữ
không phụ thuộc nớc lớn, bình đẳng Quốc gia dân tộc, Nớc nam có chủ, có quốc chủ.
Chữ C có nghĩa là ở trong tiếng Hán có nghĩa là trong coi, cai quản, xử lý mọi
việc, dịch ở, thì cha hay, thiếu ý nghĩa vì mọi ngời từ Vua chúa, quan lại đến dân lao
động đều sống trên lãnh thổ nớc Nam.
Trong phần phân tích chi tiết: Hiện nay nhiều đồng nghiệp của tôi vẫn hớng dẫn
học sinh khai thác, tìm hiểu theo bố cục 4 phần, thì tôi đã hớng dẫn học sinh tìm hiểu
theo 2 ý lớn.
ý 1 : Câu 1 2:
Tôi cho học sinh thảo luận để rút ra đợc với nghệ thuật điệp từ, ngắt nhịp 4/3 để
khẳng định chủ quyền, lãnh thổ của dân tộc ta đặt trong mối quan hệ với Trung quốc, tác
giả đứng trên lập trờng quan điểm t tởng tự hào, tự tôn dân tộc và ranh giới, lãnh thổ Việt
nam sự thật hiển nhiên trong thực tế nhng càng vững vàng hơn, chắc chắn hơn khi đã đợc
ghi chép ở sách trời. Vậy mà các hoàng đế Trung hoa luôn tự xng mình là Thiên tử các
con trời phải hiểu hơn ai hết lẽ trời. Tác giả đã đa ra ý này nhằm mục đích ràng buộc kẻ
thù đừng cố ý làm trái lẽ tự nhiên thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc qua các
chìa khoá: Nam, Đế, C, Tiệt nhiên, Thiên th.
ý 2: 2 câu 3 4:
Tôi đã cho học sinh thảo luận để rút ra đợc thái độ của tác giả, lời cảnh báo, sự thật
đối với kẻ thù qua các từ chìa khoá: Nh hà, Nghịch lỗ, Thủ bại để chất vấn kẻ thù, lũ giặc
nghịch tặc tại sao lại làm trái lẽ tự nhiên. Mà cố tình làm trái lẽ tự nhiên thì nhất định sẽ
chuốc lấy thất bại đó là điều chắc chắn. Hai câu thơ có sức mạnh cổ vũ chiến thắng.
5
Từ đó giúp học sinh nhận thức đợc bài thơ là sự kết hợp chặt chẽ giữa hiểu ý và biểu
đạt không khô khan mà hấp dẫn bởi tình cảm, cảm xúc là sự thăng hoa của cảm xúc và
mạnh mẽ của ý chí.
b. Đối với các bài thơ ngũ ngôn: (chữ Hán )
Tụng giá hoàn kinh sự:
Theo tôi ngoài các phần tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời của bài thơ, văn tự, thể thơ
vẫn theo thứ tự nh một bài thơ Thất ngôn tứ tuyệt đờng luật. Phần tìm hiểu nội dung văn
bản chúng tôi cho học sinh thảo luận theo hai mạch cảm xúc của tác giả để thấy đợc sự
Hai câu sau đột ngột mở ra một viiễn cảnh mới
Thái bình nên rắng sức
Non nớc ấy nghìn thu.
6
Thái bình đối với Trung quốc không phải là lúc ăn ngon, ngủ yên để hởng thụ mà là
lúc cần phải dốc sức để tăng cờng sức mạnh của nhân dân và quân đội, tiềm lực quốc
phòng, thì đất nớc mới vững bền lâu dài.
Sổ sách cho biết đến trháng 7 âm lịch năm ất dậu, tức tháng 8 năm 1258, khu mật viên
Triều Nguyên lại bày mu kế chuẩn bị xâm lớc đại việt một lần nữa. Do viên tớngthống
lĩnh á Lí Hải Nha bị ốm chết vào tháng 6 năm Bính tuất ( trớc tháng 7 năm 1286 ) thì Hốt
Tất Liệt mới hoãn binh và sang năm Đinh hợi ( 1287 ) lại sang xâm lợc lần thứ 3, để
tháng 4 năm 1288 lại bị đại bại thêm một lần nữa.
Lời thơ Trần Quang Khải không đã thể hiện niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nớc thiết
tha, mà chủ yếu thể hiện tầm nhìn chiến lợc xa rộng, niềm tin vào sức mạnh của nhân dân
mình, đất nớc mình. Bài thơ thể hiện một ý thức cảnh giác kín đáo, bởi lẽ quân xâm lợc
tuy thua nhng không từ bỏ dã tâm xâm lợc, nếu ta sa sút thì chúng sẽ thừa cơ lấn sang.
Bài thơ ngắn, hào hùng mà ý tứ thật sâu xa đáng để muôn đời con cháu suy ngẫm.
c. Đối với thơ Thất ngôn bát cú đờng luật Chữ nôm
Qua đèo ngang:
Trớc hết phải thừa nhận rằng: Qua đèo ngang là một kiệt tác. văn bản không những
có giá trị về mặt nội dung mà hơn thế nữa nó là một bài thơ Đờng hoàn mỹ về cấu trúc, về
niên luật, về đối . Trong số 6 bài thơ còn lại của bà Huyện nói riêng và thơ Đ ờng luật
giai đoạn này nói chung.
Từ trớc đến nay, khi giảng bài thơ này, để làm rõ giá trị chính thể của một bài thơ Đ-
ờng toàn bích tôi đã giảng theo kết câu: Đề Thực Luận Kết của thơ Đờng luật.
Không thể phủ nhận đợc những kết quả khả thi mà cách dạy này mang lại: Học sinh dễ
hiểu, phát hiện tốt các nghệ thuật qua phép đổi, đảo ngữ, vần điệu . của bài thơ.
Lần này khi Qua đèo ngang đợc trở về với chơng trình lớp 7, quả thực cũng không
phải dễ dàng chuyển tải hết những kiến thức cơ bản. Bởi vậy tôi đã mạnh dạn đa ra một
cách dạy mới nh sau:
Nếu hai câu thơ đầu tả khái quát về đèo Ngang thì bốn câu thơ sau thực luận:
Lom khom dới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nớc đau lòng con cuốc cuốc
Thơng nhà mỏi miệng cái gia gia.
Cảnh vật nhà thơ thấy ở hai vị trí: Dới núi, bên sông Sử dụng từ láy âm lom
khom, lác đác gợi nên sự xuất hiện xa vời, nhở lại, ít ỏi cùng với đảo ngữ Lom
khom dới núi Tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Và phép đối chuẩn: Lom khom dới núi/ Lác đác bên sông .
Tiều vài chú/ Chợ mấy nhà
Đã gợi lên sợ hoang vắng, sự xuất hiện của con ngời ở đây không làm vơi đi sự hoang
vắng của một miền sơn cớc lúc bóng ngả chiều tà .Nhà thơ còn cảm thấy đèo Ngang qua
việc nghe thấy âm thanh của tiếng chim cuốc cuốc, chim gia gia tiếng chim ấy đ ợc
vọng đến trong buổi chiều tà gợi nên một sự khắc khoải, hắt hiu, buồn vắng, mênh mông
trong bóng chiều ảm đảm
Dễ nhận thấy bức tranh đèo Ngang lúc này đẹp, hoang vắng nhng gợi buồn. Đó cũng
chính là những ngoại cảnh góp phần bộc lộ tâm trạng của nhà thơ.
- phần 2: Tâm trạng của tác giả: Tôi chú ý khắc hoạ tâm trạng nhớ nớc thơng nhà
qua hai câu luận:
Nhớ nớc đau lòng con cuốc cuốc
Thơng nhà mỏi miệng cái gia gia
- Cần cho học sinh cách chơi chữ đồng âm: Cuốc cuốc, gia gia
Việc đổi ý rất chuẩn ở hai câu luận: Nhớ nớc/ thơng nhà
8
Đau lòng/ mỏi miệng
Con cuốc cuốc/ cái gia gia
Cùng với nghệ thuật nhân hoá, bút pháp tả cảnh ngụ tình sự cộng h ởng ấy làm cho
nỗi niềm nhớ nớc thơng nhà đau buồn của ngời mợn tiếng chim kêu càng da diết. Âm
thanh mà nhà thơ nghe đợc là buồn, khắc khoải , triền miên, không dứt. Nhng ở đây có
trung khai thác tình huống chiêm nghiệm và cấu trúc ngôn từ của bài thơ. Rất nhiều thi
phẩm kiệt xuất của đời Đờng đợc nảy sinh từ những tình huống chiêm nghiệm.Hồi hơng
ngẫu th của Hạ Tri Chơng (659-744) là một trờng hợp khá điển hình.
Trớc hết tôi hớng dẫn cho học sinh tìm hiểu chú thích * sách giáo khoa,để các em biết
về tác giả Hạ Tri Chơng(659-744) ngời ở tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), rời quê từ bé,
lên sống và làm quan hơn nửa đời ngời trong sự trọng trọng vọng hết mực của vua quan
và bè bạn ở kinh đô Tràng An. Mãi tới lúc hơn 80 tuổi, ông mới về lại quê nhà.
9
Hãy bắt đầu từ nhan đề của tác phẩm: Hồi hơng ngẫu th-Ngẫu nhiên viết nhân buổi
mới về quê.Thì đúng là ban đầu nhà thơ đâu có ý định làm thơ! Hứng bút đột nhiên đến,
theo diễn biến bất ngờ của sự việc.
Bằng một lối cảm nhận hồn nhiên, dễ thấy câu thơ thứ nhất có tính chất của một câu
kể việc:
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
(Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về)
Khi đi trẻ, lúc về già
Có thể hiểu đơn giản rằng nhà thơ muốn kể chuyện mình đằng đẵng xa quê từ thuở
nhỏ, khi về lại thì đã già lắm rồi. Xúc động làm sao cái tâm sự toát lên từ đó: thoáng hồi
tởng xa xăm lẫn vào ánh nhìn gần gặn về tình trạng già lão đáng phiền muộn của bản
thân, chút nuối tiếc hoà trộn với mặc cảm có lỗi nh ng do đợc ngắt thành hai vế đối
nhau về lời về ý ( Dù không cân nhau về số chữ ), câu thơ bỗng có thể tồn tại độc lập,
không thuần tuý mang chở một nội dung mà là một nhận thức khái quát về đời sống bật
lên từ đây. Tuổi trẻ hăng hái kiếm tìm, hăng hái lập công danh, xem chuyện phải ly h-
ơng là tất yếu và chẳng có gì phải bận lòng, còn tuổi già thì quay đầu về núi. Chính vì
thế mà khiến cho câu thơ hàm chứa một đờng hớng phát triển riêng, vợt ra khỏi quĩ đạo
của những bài thơ kể việc ( để bày tỏ tình cảm ) thông thờng. Ngẫm nghĩ kỹ về câu thơ
thứ hai
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hơng âm vô cải, mấn mao tồi.
Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về,
D. Nhiều hình ảnh ẩn dụ, tởng tợng
Bài tập 3: Tâm trạng của tác giả thể hiện qua bài thơ là tâm trạng nào?
A. Yêu say đắm trớc vẻ đẹp của thiên nhiên đất nớc
B. Đau lòng ngậm ngùi trớc sự thay đổi của quê hơng
C. Buồn thơng da diết khi phải sống trong cảnh ngộ cô đơn
D. Cô đơn trớc thực tại, da diết nhớ về quá khứ của đất nớc.
Bài tập 4: Hãy chỉ ra tình quê tha thiết của tác giả Hạ Tri Chơng qua bài thơ : Ngẫu
nhiên viết nhân buổi mới về quê.
Hớng dẫn giải bài tập:
Bài tập 1: Nhận xét chung nhất cho cả hai bài thơ là: Cả hai bài thơ đều thể hiện
bản lĩnh, khí phách của dân tộc ta trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, nên kết
quả C là đúng.
Bài tập 2: Nghệ thuật nổi bật đợc sử dụng ở hai bài thơ Nam quốc sơn hà và
Tụng giá hoàn kinh s là: Ngôn ngữ sáng rõ, cô đúc, hoà trộn ý tởng và cảm xúc do
đó kết quả C là đúng.
Bài tập 3: Tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan đợc thể hiện trong bài thơ Qua
đèo Ngang là nỗi buồn, nỗi cô đơn trớc thực tại, da diết nhớ về quá khứ của đất nớc,
do đó kết quả D là đúng.
Bài tập 4: Tác giả đã rất có ý thức giữ gìn giọng quê( Hơng âm). Bao năm xa cách
làng quê, từ một ngời trẻ thành một nời già, từ một nời nhỏ thành một ngời cao lớn, từ
một học trò, thành một ông quan to. Tóc mai đã rụng. Tất cả đều thay đổi, riêng giọng
quê, nhờ ý thức về quê mà không đổi. Thế nhng, ngời có ý thức rất sâu sắc về quê Ngời
có ý thức rất sâu sắc về quê ấy, ngời ôm mối tình quê tha thiết ấy, khi về quê lại gặp toàn
trẻ con. Chúng không biết ông là ai. Chúng coi ông nh là khách đến chơi . Câu hỏi của trẻ
con nh một gáo nớc lạnh dội vào tâm trạng nhà thơ. Tác giả không viết gì thêm sau phút
sững sờ bị coi nh khách lạ. Nhng chính điều đó lại càng thể hiện tình quê thắm thiết của
ông. Bọn trẻ con coi ông nh khách lạ cũng là một nhắc nhở để nói rằng chỉ yêu quê hơng
trong lòng thôi không đủ, cần phải thể hiện tình yêu ấy bằng hoạt động cụ thể cho quê h-
ơng, với quê hơng.
11
không có gì mới lạ song có chăng chỉ là ngời giáo viên nên biết cách tích hợp nh thế nào
tích hợp nh thế nào, vào thời điểm nào, tích hợp cái gì để đạt hiệu quả cao của một giờ
đọc hiểu văn bản để đọng lại những kiến thức những hiểu biết một cách hệ thống một
cách quan trọng.
Trong bài Nam Quốc Sơn Hà: Tác giả sử dụng cách biểu cảm trực tiếp với các từ ngữ:
nh hà, nghịch lỗ, nhữ đẳng hành khan, thủ bại, để chất vấn kẻ thù và thể hiện thái độ ngạc
nhiên, căm giận lũ giặc nghịch tặc tại sao lại làm trái lẽ tự nhiên với thái độ khinh miệt kẻ
thù từ đó đa ra lời cảnh báo bọn chúng đã từng trải qua cuộc chiến với Đại Việt và nhất
định sẽ tiếp tục thua trận với thái độ dứt khoát. Tơng tự nh vậy trong bài Tụng giá hoàn
kinh s Trần Quang Khải đã trực tiếp bộc lộ tính chất, cảm xúc của mình qua các từ ngữ:
đoạt, sáo, Chơng Dơng, cầm, Hồ, Hàm tử, thái bình, tu tri lục nhằm nổi bật những
chiến thắng dồn dập của quân ta diễn ra sống động, mới mẻ, tơi nguyên. Thể hiện sự hả
hê sung sớng tự hào của ngời vừa làm nên chiến thắng và khát vọng xây dựng đất nớc hoà
bình, thịnh trị đồng thời là niềm tin về đất nớc vững bền mãi mãi. Nh vậy qua hai văn
bản: Sông núi nớc Nam và Phò giá về kinh sẽ nắm đợc phơng thức biểu đạt chủ yếu là sự
12
kết hợp chặt chẽ giữa biểu ý và biểu đạt, không khô khan mà hấp dẫn bởi tình cảm, cảm
xúc. Cảm xúc mạnh mẽ mợt mà kết hợp hài hoà sức mạnh của ý chí. Ngợc lại qua bài đèo
Ngang Bà Huyện Thanh Quan lại gián tiếp bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình qua một số
hình ảnh thể hiện tình cảm, nỗi lòng thơng nhớ gửi vào âm thanh: cuốc cuốc, gia gia làm
cho ngời đọc thấu hiểu tâm trạng buồn, cô đơn thấm vào cảnh chiều tà giữa trời, non nớc
mênh mông của đèo ngang.
Bài tập:
Khoanh tròn vào chữ cái đầu câu trả lời đúng trong 4 phơng án sau:
Bài tập 1: Dòng nào sau đây nói đúng về văn biểu cảm
A. Chỉ thể hện cảm xúc, không có yếu tố miêu tả và tự sự
B. Không có lý lẽ lập luận
C. Cảm xúc chỉ thể hiện trực tiếp
D. Cảm xúc có thể bộc lộ trực tiếp hoặc gián ttiếp
Bài tập 2: Từ nào sau đây có yếu tố gia cùng nghĩa với gia trong gia đình
- Phải đặt bài thơ trong hoàn cảnh sáng tác để thấy rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm, thấy đợc ý tứ sâu xa từ ngôn ngữ của tác phẩm( ví dụ: ở bài thơ Qua đèo
ngang khi tác giả trên đờng từ Thăng Long vào Phú Xuân nhậm chức mới thấy hết tâm
trạng cô đơn của một ngời lữ khách tha hơng, mới cảm nhận đợc hết cái cô đơn lẻ loi và
tâm trạng hoài cổ khi rời đất nớc Chúa cũ hoặc qua bài thơ Nam quốc sơn hà đặt vào
hoàn cảnh khi nhà Tống Quách Quỳ và Triệu Tiết phối hợp với quân Chiêm Thành xâm l-
ợc nớc ta lần thứ hai mới thấy đợc lập trờng quan điểm tự hào, tự tôn dân tộc và ranh giới
lãnh thổ Việt nam từ đó thấy đợc ý chí và quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lợc giữ
vững chủ quyền, lãnh thổ của dân tộc.
- Phải cảm nhận hết giọng điệu của bài thơ để lột tả nội dung của bài. Có thể nhận
thấy Phò giá về kinh là cảm hứng lãng mạn cùng với hào khí đông A. Một thời đã làm
cho bài thơ nhẹ nhàng, dễ đi vào lòng ngời. Có thể thấy Sông núi nớc nam là giọng
điệu phấn chấn tự hào, rắn rỏi mạnh mẽ, dứt khoát khi tổ quốc lâm nguy Tất cả đã làm
nên nhỡng nét riêng của những bài thơ Đờng luật vốn trang nghiêm trở nên gần gũi.
- Giảng thơ Đờng luật cho học sinh lớp 7 không nên quá câu nệ lệ thuộc vào kết cấu
của bài thơ, tuỳ theo tựng tác phẩm có thể có cách dạy riêng, không nhất thiết đi theo bố
cục ( Đề thực luận kết ) với Bát cú đờng luật, hay( Khai thừa chuyển
hợp) với thất ngôn tứ tuyệt đờng luật . Giáo viên phải thực sự nhìn thấy nội dung cảm
xúc trong bài để đa ra cách dạy tối thiểu. Có thể giảng cách ngang, có thể bổ dọc, có thể
vừa cắt ngang vừa bổ dọc theo chúng tôi nếu giảng theo mạch cảm xúc nh đã trình bày
ở trên,bài giảng sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều
Khi phân tích bài thơ chữ Hán nên dùng bản phiên âm để giảng bởi nếu dùng bản
dịch thơ sẽ có những từ ngữ dịch không sát làm ảnh hởng đến vẻ đẹp bích của tác phẩm,
đến nội dung của bài thơ ( Ví dụ: Từ Sinh, quái trong Vọng l sơn bộc bố . Trong
bản dịch tác giả đã bỏ mất hai từ này đã làm thay đổi hẳn ý nghĩa của câu thơ hoặc từ
đế, c trong Nam quốc sơn hà.
Không phân tích ý thơ tràn lan, nên tập trung phân tích bình những từ ngữ
nhãn tự của bài thơ, làm nổi bật rõ cái thần trong bài. Hình ảnh, loại đợc dùng, vần
nhịp, phép đối, niêm, luật . Có thể giúp cho học sinh thấy rõ hơn tính hoàn chỉnh của
thơ Đờng luật.