0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
XoOoW
ĐỀ TÀI
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Luân
Giảng viên hướng dẫn:
PGS.TS. Nguyễn Văn Luân
Sinh viên thực hiện đề tài:
Nguyễn Hữu Trường K084010091 TP.HCM, Tháng 06/2011
MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN
SÁCH VÀ LẠM PHÁT NHÌN TỪ LÝ
THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2004-2008
1
MỐI QUAN HỆ GIỮA BỘI CHI NGÂN SÁCH VÀ LẠM PHÁT NHÌN TỪ LÝ
THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2004-2008
F×G
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới và ở
Việt Nam, lạm phát nổi lên là một vấn đề đáng quan tâm về vai trò của nó đối với sự
nghiệp phát triển kinh tế. Nghiên cứu lạm phát, kiềm chế và chố
ng lạm phát được thực
hiện bởi nhiều nàh kinh tế trên nhiều nước. Càng ngày cùng với sự phát triển đa dạng
và phong phú của nền kinh tế, nguyên nhân của lạm phát cũng ngày càng phức tạp.
Tình hình lạm phát năm 2010 (11,75%) và bốn tháng đầu năm 2011 (9,64%) ở nước ta
đã và đang đặt ra đòi hỏi làm thế nào để kiểm soát được lạm phát, đưa tỷ lệ lạm phát
xuống thấp ở mức có thể ch
ấp nhận được. Nguyên nhân gây ra lạm phát thì có nhiều,
nhưng trong bài viết này chỉ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân
sách nhà nước (NSNN) với lạm phát ở nước ta hiện nay, nhằm tìm ra một lời giải nhỏ
trong lời giải tổng thể cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế.
C. Bù đắp thâm hụt
- Viện trợ.
- Lấy từ nguồn dự trữ.
- Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc).
4
Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F
Công thức tính bội chi Ngân sách Nhà nước của một năm sẽ như sau:
Bội chi Ngân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C
(khoản bù đắp thâm hụt).
1.1.2.2. Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước
Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:
- Do tác động của chu kỳ kinh doanh:
Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng
lên nhằm giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Đi
ều đó làm cho mức
bội chi NSNN tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên,
trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức
bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.
- Do tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực
hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm t
ăng mức bội chi NSNN.
Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội
chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra
được gọi là bội chi cơ cấu.
Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn, ),
tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN.
1.1.2.3. Các giải pháp xử lý bội chi ngân sách nhà n
khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ
sau
Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế. Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là
thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây
không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp
lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống
nhân dân, nghiêm trọng hơn s
ẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các
ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với
các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN.
Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc
gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệ
t để tiết kiệm các khoản đầu tư
công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra
những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc
không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt
để tiết kiệm các khoản đầu tư công, nhữ
ng khoản chi thường xuyên của các cơ quan
6
nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự
cần thiết.
Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định
chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để
thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ
quản lý vĩ mô
để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết
các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi
phụ thuộc vào phạm vi khu vực kinh tế mà nó được thực hiện. Tuy nhiên, thước đo
lạm phát phổ biến nhất chính là CPI - Chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index) đo
giá cả của một số lượng lớn các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau, bao gồm thực
phẩm, lương thực, chi trả cho các dịch vụ y tế , được mua bở
i "người tiêu dùng thông
thường".
1.2.3. Nguyên nhân lạm phát
Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, lạm phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí
đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng trong lưu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát
gia tăng còn do một số nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối
trong cơ cấu đầu tư
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lạm phát, người ta chia ra 2 loại lạm phát là lạm
phát tiền tệ và lạm phát giả cả.
Lạm phát ti
ền tệ được hiểu là do mức tiền cung ứng cho lưu thông vượt quá mức
cần thiết dẫn đến tình trạng mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giả cả được hiểu là giá cả của hàng hóa và dịch vụ nói chung tăng lên do
cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ tăng lên (chi
phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà thường
hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
Nếu điều tiết lạm phát ở mức độ ổn định và hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế, hay nói cách khác là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế, điều
kiện cần là vấn đề của Chính phủ trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ
thu
ật Nghiên cứu bước đầu của IFM (2006) về mức độ lạm phát ở Việt Nam với
các nước Đông Nam á cũng đã chỉ ra răng, mức lạm lạm phát tối ưu cho tăng trưởng
8
kinh tế ở các nước vùng Đông Nam á, trong đó có Việt Nam khoảng 3.6% trong khi
2. Thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008
2.1. Thực trạng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008
Thay đổi CPI qua các năm
Nguồn: IMF, International Financial Statistics
Nhìn vào số liệu cho thấy tình hình lạm phát tại Việt Nam có chiều hướng gia
tăng cao từ giữa cuối năm 2007 và đạt đỉnh cao vào tháng 8/2008 với mức tăng CPI là
hơn 30%. Tính trung bình tỷ lệ lạm phát năm 2007 là 8.86% (nhưng nếu tính riêng 4
tháng cuối năm 2007 là gần 12%) và năm 2008 là 22,97%. Đây có thể nói là mức tăng
cao nhất kể từ năm 2004 trở về đây.
2.2. Tình hình bội chi ngân sách tại Việt Nam giai đoạn 2004-2008
Do việc xem xét là c
ăn cứ thực tế tại Việt Nam, do đó các số liệu về bội chi
ngân sách được nghiên cứu ở đây là lấy số liệu được tính theo cách tính riêng của Việt
Nam và công bố trong nước, không sử dụng số liệu công bố quốc tế ( số liệu của Bộ
tài chính công bố tại website: http://www.mof.gov.vn/
.
0
5
10
15
20
25
30
35
M1 2004
M
5
2004
M
9
Từ năm 2004-2007, tình hình bội chi NSNN tăng lên qua các năm và về cơ bản
đuợc cân đối ở mức 5% GDP và thực hiện ở mức 4,9%-5,5% GDP và nằm trong mức
mà quốc hội đã thông qua từ đầu năm. Tuy nhiên nếu chỉ xem xét bội chi NSNN so
với GDP thì chưa thấy hết sự tăng lên của nó trong những năm này; đặc biệt những
năm gần đây, ngoài NSNN được cân đối, đã có một lượng vố
n lớn được đưa ra đầu tư
các công trình giao thông và thuỷ lợi thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính
phủ không cân đối vào NSNN. Ngoài ra, phải kể đến lượng công trái giáo dục được
phát hành để thu hút tiền cho đầu tư kiên cố hoá trường lớp học cũng là một lượng tiền
lớn cân đối ngoài NSNN. Nếu cộng cả hai loại trên vào cân đối NSNN, bội chi NSNN
trong những năm qua không phải chỉ 5% GDP mà cao hơn (khoảng 5,8-6,2% GDP).
Tốc độ tăng bộ
i chi NSNN là khá cao, trung bình ở mức 18%/ năm trong các năm
2005- 2006 và đột biến ở năm 2007 với mức là 33% so với năm 2006. Tốc độ này nếu
trừ đi yếu tố tăng trưởng thì còn cao hơn tỷ lệ lạm phát từ 2004 – 2007 (năm 2004:
7,8%; năm 2005: 8,3%; năm 2006: 7,4%; năm 2007: 8,86% ). Riêng năm 2008 tốc độ
tăng bội chi giảm hẳn xuống so với 2007, đây là do chính sách cắt giảm chi tiêu của
Chính phủ nhằm kiềm chế lạ
m phát.
11
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư
Về bù đắp bội chi ngân sách, trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm
soát bội chi NSNN từ hai nguồn là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép tăng
tiền cung ứng thêm ra thị trường là không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của Chính
phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư là tăng lên.
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư
Bội chi ngân sách Nhà nước cả năm 2004 bằng 16,2% tổng số chi, chiếm
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư
Ta có thể nhận thấy rằng chi cho hoạt động thường xuyên là chiếm chủ yếu và
có sự gia tăng khá mạnh, tốc độ tăng trung bình là 23% /năm trong giai đoạn 2004 –
2008 ; các khoản trả nợ vay cũng như viện trợ cũng chiếm đáng kể trong số chi của
Chính phủ (nhằm trả các khoản nợ vay nhằm bù đắp cho thâm hụt ngân sách), ngoài ra
chi cho đầu tư phát triển (chi cho đầu tư xây dựng cơ bản là ch
ủ yếu) tuy không phải
chiếm chủ yếu trong nguồn chi ngân sách nhưng lại có tốc độ tăng mạnh qua các năm
với tốc độ tăng trung bình là 25%/năm trong giai đoạn 2004 – 2008, đặc biệt năm 2008
đã tăng 43% so với 2007.
Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ tài chính và Bộ kế hoạch đầu tư
2.3. Mối quan hệ giữa bội chi ngân sách và lạm phát
Số liệu thống kê cho thấy khi mức bội chi ngân sách nhà nước tăng thì tỷ lệ lạm
phát cũng có chiều hướng gia tăng. Nếu như tỷ lệ lạm phát trung bình năm 2006 là 7,4
14
%, mức bội chi ngân sách ở mức 48,61 ngàn tỷ đồng, đến năm 2007 tỷ lệ lạm phát
trung bình tăng lên là 8,9% thì mức bội chi ngân sách cũng tăng lên 64.56 ngàn tỷ
đồng và năm 2008 tỷ lệ lạm phát trung bình tăng đột biến lên 22,97% thì mức bội chi
ngân sách cũng tăng lên 66,2 ngàn tỷ đồng.
Ngoài ra khi nhìn vào khoản bù đắp thâm hụt ngân sách cho thấy phần lớn nguồn
bù đắp là từ nguồn vay trong nước (trung bình chiếm trên 75%), phần còn lại là từ
nguồn vay nướ
c ngoài và hoàn toàn không có việc bù đắp thâm hụt thông qua việc
phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên phần huy động từ vay nước ngoài
đã làm tăng cung lượng tiền vào thị trường trong nước, vì số tiền vay nước ngoài về để
bù đắp thâm hụt NSNN phải đổi ra VND để chi tiêu trên cơ sở bán cho NHNN là
chính, mà NHNN lại cung ứng tiền ra để mua ngoại tệ là cơ bản. Đây chính là phần
ngân sách và vốn của doanh nghi
ệp nhà nước, cắt giảm khoảng 9.000 tỷ đồng vốn trái
phiếu chính phủ, tiết kiệm 2.700 tỷ đồng chi thường xuyên của các cơ quan đơn vị thụ
hưởng ngân sách. Những động thái này đã góp phần làm cho tỷ lệ lạm phát 3 tháng
cuối năm 2008 giảm so với những tháng giữa năm 2008. 16
3. Những vấn đề đặt ra về xử lý bội chi NSNN nhằm kiềm chế lạm phát tại
Việt Nam
Thực tế trong những năm qua (2004-2008), chúng ta đã kiểm soát được mức bội
chi NSNN ở giới hạn cho phép (không quá 5% GDP/năm) và nguồn vay chủ yếu chi
đầu tư phát triển. Ngoài ra, chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế,
phí, lệ phí chi đầu tư phát triển. Đây là những thành công bướ
trong tương lai hay không.
17
- Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Đây
là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi ngân sách
(nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp
nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp
trên cho ngân sách cấp dưới. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với
các nhiệm vụ chi cụ thể
và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì
vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên
để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng
như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó
luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách, để công trình vận hành và phát huy tác dụ
ng,
luôn phải đòi hỏi nhu cầu kinh phí cho hoạt động. Để có nguồn kinh phí này hoặc phải
đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp
đều tạo áp lực bội chi NSNN.
- Liệu có tồn tại vấn đề bội chi ngân sách địa phương ở Việt Nam hay không?
Biện pháp xử lý ra sao? Quản lý vấn đề này thế nào? Đó là những vấn đề cần được
xem xét kỹ càng h
ơn. Theo khoản 3, Điều 8, Luật NSNN năm 1996, ngân sách địa
phương được cân đối theo nguyên tắc tổng số chi không vượt quá tổng số thu, trường
hợp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng thì được
phép huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và phải cân đối vào
ngân sách địa phương để trả nợ khi đến hạn. Luậ
t NSNN sửa đổi năm 2002 mở rộng
thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa phương. Vay vốn
đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do hội đồng nhân dân tỉnh quyết
định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định như trước đây).
ương cần được xem xét và thực hiện bổ sung từ ngân sách cấp trên. Thực
hiện như vậy tránh được đầu tư tràn lan, kém hiệu quả và để tồn ngân sách quá lớn và
quản lý chặt chẽ số bội chi NSNN. Hiện tại, chúng ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa
nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển với nguồn lực hạn hẹp. Nếu thực hiện thắt chặt, hạn
chế
vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vốn rất
cao. Nhưng nếu chúng ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay nợ của NSNN, nhất
là vay của ngân sách địa phương, thì nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc
gia, sự bền vững của NSNN. Thực hiện đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát
triển hài hoà, cân đối giữa các vùng, miền trong toàn quốc. Kinh nghi
ệm của Trung
Quốc: nghiêm cấm ngân sách các địa phương vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào, các
khoản chi đầu tư của địa phương được xem xét tính toán và bổ sung từ ngân sách trung
ương.
Thứ hai, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên,
nhất là ngân sách các địa phương. Do vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư, sẽ
kiên quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc v
ận hành các công trình khi
19
hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình,
làm giảm hiệu quả đầu tư. Có như vậy, các địa phương phải tự cân đối nguồn kinh phí
này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách.
Thứ ba, nếu chấp nhận bội chi ngân sách địa phương thì cần quản lý và giám sát
chặt chẽ việc vay vốn. Các khoản vốn vay chỉ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và phát
triển các cơ sở kinh tế. Các khoản vay của ngân sách địa phương cần được tổng hợp và
báo cáo Quốc hội để tổng hợp số bội chi NSNN hằng năm. Vấn đề vay vốn của các địa
phương không được kiểm soát chặt chẽ chẳng những tạo ra nguy cơ vay vốn tràn lan,
đầu tư kém hiệu quả mà còn ảnh hưởng đến tính bền vững của NSNN trong tương lai.
Bội chi NSNN hằ
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] PGS.TS Nguyễn Văn Luân (2011), “Giáo trình Kinh tế Vĩ mô”, Trường ĐH Kinh
Tế - Luật.
[2] Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls (2007), “Kinh Tế Học tập 2”, Nhà xuất
bản Tài Chính.
[3] Nguyễn Văn Ngọc (2009), “Lý thuyết chung về thị trường tài chính, ngân hàng và
chính sách tiền tệ”, NXB Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
[4] Tổng cục thống kê (2011), “Lạm phát tăng cao trong 4 tháng đầu năm”
[5] PGS.TS Lê Quốc Lý (2008), “Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với
lạm phát ở Việt Nam hiệ
n nay”, Tạp chí ngân hàng số 10 năm 2008.
[6] Báo cáo hội thảo “Bội chi ngân sách nhà nước trong mối quan hệ với lạm phát ở
Việt Nam” do Uỷ ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội và Chương trình phát triển
Liên hiệp quốc (UNDP) phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 5/5.