Mở đầu
Trong những năm gần đây, vấn đề bội chi ngân sách ngày càng được dư
luận quan tâm, và luôn là chủ đề được bàn cãi trong các kỳ họp quốc hội.
Chúng ta luôn cho rằng: Bội chi ngân sách nhà nước là “một căn bệnh” làm
cản trở sự phát triển nền kinh tế, gây nên lạm phát, mất cân đối tài chính quốc
gia, tuy nhiên bội chi ngân sách ở một mức độ nhất định, sẽ là yếu tố quan
trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Có thể ví bội chi ngân sách như
con dao hai lưỡi, quan trọng là “người cầm dao” sử dụng nó như thế nào? Nếu
bội chi ngân sách hợp lí sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, đáp ứng được sự
Trang 1
thiếu hụt nguồn vốn đối với các dự án quan trọng. nhưng nếu không thực hiện
tốt, điều tiết kịp thời thì bội chi ngân sách là một trong những nguyên nhân
chính gây khủng hoảng nền kinh tế, gây lên lạm phát, nợ quốc gia. Tuy nhiên
mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngày càng
tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế. Nói
cách khác, đây chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh
tế, gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và
tiền tệ. Vậy thâm hụt ngân sách là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân sách ở
Việt Nam thế nào? Giải pháp để hạn chế và khắc phục tình trạng thâm hụt
ngân sách nhà nước ra sao? Nhóm chúng tôi sẽ cùng các bạn giải đáp trong bài
thảo luận về đề tài: ‘Trình bày các biện pháp mà chính phủ việt nam đã sử
dụng để bù đắp thâm hụt ngân sách. Lấy số liệu thực tế làm vd minh họa trong
5 năm trở lại đây’’
I. Khái niệm
a. Bội chi ngân sách nhà nước:
Thâm hụt ngân sách nhà nước, hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước,
là tình trạng khi tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu
"không mang tính hoàn trả" của ngân sách nhà nước. Để phản ánh mức độ
thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP
hoặc so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước. Thâm hụt ngân sách nhà
nước có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh tế một nước tùy
hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính
bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Đo lường tăng trưởng kinh tế:
Trang 3
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối,
tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong
một giai đoạn.
Mức tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần
so sánh.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô
kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ
trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức:
y = dY/Y × 100(%),
trong đó Y là qui mô của nền kinh tế, và y là tốc độ tăng trưởng. Nếu quy mô
kinh tế được đo bằng GDP (hay GNP) danh nghĩa, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng
GDP (hoặc GNP) danh nghĩa. Còn nếu quy mô kinh tế được đo bằng GDP
(hay GNP) thực tế, thì sẽ có tốc độ tăng trưởng GDP (hay GNP) thực tế.
Thông thường, tăng trưởng kinh tế dùng chỉ tiêu thực tế hơn là các chỉ tiêu
danh nghĩa.
Các nhân tố của tăng trưởng kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các
nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đã phát hiện ra rằng động lực của
phát triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của
tăng trưởng kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ.
Bốn nhân tố này khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng
khác nhau đưa đến kết quả tương ứng.
• Nguồn nhân lực: chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến
thức và kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng
kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ đều có
trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư
bản không chỉ là máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư
bản cố định xã hội, những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát
triển. Tư bản cố định xã hội thường là những dự án quy mô lớn, gần như
không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suất tăng dần theo quy mô nên
phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng của sản xuất (đường giao thông,
mạng lưới điện quốc gia ), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi
• Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng
không phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động
và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất.
Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra
sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ
phát triển ngày càng nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học, công nghệ vật liệu mới có những bước tiến như vũ bão góp phần
gia tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần
túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng dụng một cách
nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự đổi mới" - sự duy trì cơ chế
cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách
xứng đáng.
Trang 5
II. Nguyên nhân BCNSNN và ảnh hưởng
a Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước.
Có hai nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước.
- Thứ nhất: Do tác động của chu kỳ kinh doanh, khủng hoảng lạm chi làm cho
thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết khó
khăn mới về kinh tế xã hội. Điều đó làm cho mức độ bội chi ngân sách ngân
sách nhà nước tăng lên trong giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ
tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội
chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây
ra được gọi là bội chi chu kỳ.
vào sẽ dẫn tới bùng nổ lạm phát.
Bội chi ngân sách nhà nước cũng không hoàn toàn là tiêu cực. Nếu bội
chi ngân sách ở một mức độ nhất định (dưới 5% so với tổng chi ngân sách
trong năm) thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển. Vì thế ở những
quốc gia có nền kinh tế phát triển, nguời ta vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi
ngân sách nhà nước chứ không hề có ý loại trừ nó hoàn toàn. Nhưng cho dù
bội chi ngân sách nhà nước ở mức độ nào đi chăng nữa thì nó vẫn đòi hỏi mọi
chính phủ phải có biện pháp thích hợp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân
sách.
d. Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong
một thời kỳ nhất định. Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm gốc sẽ
phản ánh tốc độ tăng trưởng. Đó là sự gia tăng sản lượng kinh tế nhanh hay
chậm so với thời điểm gốc.
Hiện nay, mức gia tăng tổng giá trị của cải Xã Hội được tính bằng các đại
lượng tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Vì vậy, tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với
năm trước.
Các nhân tố tăng trưởng kinh tế:
- Vốn là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra được tích lũy lại và tài
nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản … Vốn được thể hiện dưới hình
thức hiện vật và tiền tệ. Đó là yếu tố đầu vào của sản xuất, có vai trò rất quan
trọng để tăng trưởng kinh tế.
Mối quan hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư gọi là hiệu suất sử dụng vốn
sản phẩm gia tăng. Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP. Những
nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển với chỉ số này
thấp, thường là tăng 3% vốn để tăng 1% GDP.
- Con người là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững. Con người có
sức khỏe, trí tuệ, kỹ năng cao, có ý chí, nhiệt tình lao động và được tổ chức
hợp lý. Tài năng, trí tuệ của con người là vô hạn và là nhân tố quyết định trong
nói chung? Với mục tiêu trọng tâm hướng về chính sách quản lý Bội chi ngân
sách của các quốc gia trên thế giới và từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam, phần đầu tiên trong bài nghiên cứu, chúng tôi sẽ trình bày mối
quan hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế - nguyên nhân giúp
Trang 8
Chính Phủ nhận thấy cần phải có một chính sách quản lý Bội chi ngân sách phù
hợp để đảm bảo tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu những quan điểm của các nhà kinh tế học
trên thế giới, chúng tôi tìm ra được năm quan điểm như sau:
Thứ nhất, Bội chi ngân sách là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc
vốn tài chính của các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển,
góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài
hạn có nguy cơ gây tổn hại cho nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả
vốn gốc và lãi của nó.
Theo quan điểm của Folorunso S. Ayadi và Felix O. Ayadi (2008)
1
, nợ
là một trong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền
kinh tế nào, đặc biệt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc Châu Phi,
Châu Á, Châu Mỹ La Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa
đáng, do đó, luôn gặp phải vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếu nguồn
vốn đầu tư nâng cấp và xây dựng cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghệ kỹ thuật,
rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là tiết kiệm cũng thấp và tiếp tục quay lại
với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn. Vì vậy, lúc này, những kiến thức thuộc về
chuyên môn, bộ máy quản lý tài chính quốc gia và sự hỗ trợ tài chính từ
những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về nguồn lực là điều trở
nên rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng buộc chính yếu
đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong hầu hết các
trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi
của nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát
với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực hiện bởi hai tác
giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác nhau
của Bội chi ngân sách và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20
quốc gia phát triển
4
trải dài khoảng hai thế kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền
kinh tế thị trường mới nổi
5
giai đoạn 1946-2009 nhận thấy rằng: (i) mối quan
hệ giữa Bội chi ngân sách và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ số
nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăng
trưởng giảm đáng kể. Điều này sẽ được trình bày rõ hơn ở phần bằng chứng
thực nghiệm tiếp theo và bảng thống kê về nợ và tăng trưởng kinh tế của một
Trang 10
số quốc gia chọn lọc trong phần phụ lục A1.
Như vậy, đây chính là điểm mấu chốt trong việc đề ra những chính sách
quản lý Bội chi ngân sách và trần Bội chi ngân sách phù hợp cho mỗi quốc
gia dựa vào ngưỡng nợ cảnh báo, từ đó, tránh vay
mượn quá đà, rơi vào trạng thái mất khả năng chi trả và ảnh hưởng tiêu cực
đến tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của Bội chi ngân sách lên tăng
trưởng kinh tế thông qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ
lụy mà nó đưa lại: sự không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của
các quốc gia đang phát triển với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự
trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc trong chính sách tiền tệ và chính sách tài
khóa.
Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989)
6
đã xem xét
tác động của Bội chi ngân sách lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động
, sự tăng lên trong tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế
dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ
không tăng cho đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định.
Khi lượng vốn tăng, đầu tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến
lên, tiết kiệm sẽ tiếp tục tăng. Sau khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong
cả vốn và tiết kiệm sẽ kích thích sự tăng lên trong tăng trưởng một cách tự
lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một hàm của tiết kiệm, và trong
những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiệm nội địa không đủ để tài trợ
cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp lý khi tìm
kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài. Colaco (1985) đã giải
thích tính chất nhạy cảm của việc thanh toán nợ đối với những nước đang
phát triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt
đến một mức độ mà lớn hơn so với vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng
giữa nợ và vốn tự có; (ii) tỷ lệ nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy
những người vay mượn phải đối mặt trực tiếp với việc lãi suất tăng cao; (iii)
thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một phần bởi vì sự giảm đi của những nguồn
chính thức. Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho rằng quản lý nợ tương xứng là
Trang 12
thiết yếu trong môi trường tài chính ngày càng phức tạp. Mehran cũng xác
định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp về chính sách, môi trường kiểm
soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách minh
bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ và quá trình
đưa ra quyết định. Vấn đề tiếp theo trong việc nhận và quản lý nợ là quyết
định quy mô nợ thực tế. Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường
bởi những tỷ số riêng, ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất
khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP), và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc
dân (GNI). Tuy nhiên, quyết định mức phù hợp của những chỉ số này khó xác
định và việc hữu ích bây giờ là giảm thiểu nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng
nợ nước ngoài. Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng cao, thanh toán gánh nặng nợ
cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của quốc gia, việc nhận nợ
kinh tế trong dài hạn. Đó là do sự tồn đọng nợ theo thời gian, những yêu cầu
chi trả nợ cả vốn gốc và lãi, sự trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm
bớt chi tiêu đầu tư phát triển quốc gia một cách đáng kể. Do đó, chính sách
quản lý Bội chi ngân sách hiệu quả đòi hỏi phải lường trước những nguy cơ,
rủi ro gặp phải, xác định mức nợ phù hợp, cân đối hợp lý mức chi trả nợ trong
tương lai, góp phần tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Để minh họa
cho sự tác động của Bội chi ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế và nhấn
mạnh thêm vai trò quản lý tài chính công của Chính Phủ, chúng tôi đã tiến
hành thu thập thông tin và tìm hiểu về diễn biến tác động của Bội chi ngân
sách đến tăng trưởng kinh tế trên thực tế của một số quốc gia, do các tác giả
thuộc những tổ chức có uy tín thực hiện, dựa vào những bộ dữ liệu thu thập
được trong một quá trình dài từ các nhóm quốc gia khác nhau. Đầu tiên,
chúng tôi sẽ trình bày môi trường kinh tế ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa Bội
chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế như thế nào.
Trang 14
IV. Bình luận
Tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước có những ảnh hưởng hết sức rộng
lớn trên tất cả các lĩnh vực, các hoạt đông kinh tế xã hội.Thâm hụt ngân sách
Nhà nước với một mức cao và triền miên sẽ làm cho Nhà nước phải tìm cách
tăng các khoản thu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người
dân, hơn nữa khi đó các nguồn vốn trong các ngân hàng sẽ trở nên khan hiếm
hơn điều đó sẽ dẫn đến tình trạng lãi suất tăng cao, điều này gây ra những trở
ngại trong việc vay vốn của các nhà đầu tư.Về lâu về dài thì sẽ dẫn đến tình
trạng đầu tư sẽ giảm sút nghiêm trọng, sẽ có nhiều doanh nghiệp bị phá sản do
không tìm được những khoản vay thích hợp, sản xuất trong nước bị thu nhỏ lại
từ đó sẽ toạ điều kiện thúc đẩy quá trình nhập siêu, cán cân thương mại quốc
tế mất cân bằng.Những điều này dẫn đến tình trạng thất nghiệp ngày càng gia
tăng, thu nhập thực tế của người dân giảm sút và ngày càng gặp nhiều khó
khăn trong cuộc sống.
Do đó, nhiều người vẫn nghĩ rằng bội chi ngân sách nhà nước là “một căn
Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế,
phí, lệ phí ; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước ,vay nợ nước ngoài ;phát
hành thêm tiền để phù đắp chi tiêu ;…Sử dụng phương pháp nào ,nguồn nào
tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời
kỳ của mỗi quốc gia .
Để có được điều này chính phủ cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cũng
như đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng bền vững của đất
nước.
Tuy nhiên, chi như thế nào thì cần phải có sự quản lý chặt chẻ của nhà
nước. chính vì vậy mà cần Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước Tăng
cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách
kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế.
Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và
công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế -xã hội,
nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội,
nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế
với giữ gìn mội trường v.v…Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là
một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý của
các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước
đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói
riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết.
Tăng trưởng kinh tế có tác động hai mặt đến việc thực hiện các chính
sách xã hội. Một mặt, nó làm biến đổi cơ cấu ngành kinh tế, hình thành nhiều
Trang 16
ngành mới, tạo ra nhiều việc làm. Mặt khác, do ứng dụng công nghệ tiên tiến,
tăng nhu cầu về nhân lực chất lượng cao, nếu giáo dục đào tạo không đáp ứng
kịp sẽ dẫn đến tình trạng dư thừa nhiều lao động giản đơn, tăng thất nghiệp
nhưng lại thiếu lao động lành nghề. Hoặc là, tăng trưởng kinh tế theo cơ chế
thị trường, diễn ra cạnh tranh gay gắt, vừa thúc đẩy sản xuất, vừa dẫn đến
phân hóa hai cực: những người chiến thắng thu lợi nhuận cao sẽ giàu lên,