NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH ĐẬU GÀ VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐẬU GÀ - Pdf 25

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA THÚ Y

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ CỦA BỆNH
ĐẬU GÀ VÀ ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR TRONG
CHẨN ĐOÁN BỆNH ĐẬU GÀ
Người hướng dẫn : PGS.TS NGUYỄN THỊ LAN
Người thực hiện : LƯƠNG THU HƯỜNG
Lớp : TYB K55
Mã sinh viên : 554679
HÀ NỘI - 2014
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, tôi
đã được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô
giáo trong khoa Thú y đã giúp tôi có những kiến thức cơ bản của nghề nghiệp, cũng
như tư cách, đạo đức của người làm kỹ thuật, của một bác sĩ thú y. Nhân dịp này
cho phép tôi được gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới:
PGS.TS Nguyễn Thị Lan đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Các chị trên phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học Thú Y – Học
viện Nông Ngiệp Việt Nam.
Cùng toàn thể các thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên bộ môn Bệnh lý thú y
và toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Thú Y, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam.
Sự động viên và tạo điều kiện tốt nhất của gia đình, bạn bè đã góp phần giúp
đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tất cả mọi người.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Lớp vỏ virus 6
Hình 1.2. Cấu trúc virus 6
Hình 1.3. Bệnh đậu ở thể niêm mạc (Dinev, 2011) 13
Hình 1.4. Màng giả giống như bã đậu dính vào niêm mạc thanh quản và thực
quản (tập ảnh màu về bệnh gia súc của Nhật Bản ) 13
Hình 1.5. Mô hình các bước của phản ứng PCR ( Lê Thanh Hòa, 2002) 22
Hình 4.1. Gà ủ rũ 36
Hình 4.2. Viêm mắt, chảy nước mắt 36
Hình 4.3. Nốt đậu ở mào, tích, xung quanh mắt 36
Hình 4.4. Gà khó thở 36
Hình 4.5. Con ngươi phồng to 36
Hình 4.6. Sưng đầu 36
Hình 4.7. Niêm mạc miệng phủ màng giả, có dịch nhày 40
Hình 4.8. Khí quản xuất huyết 40
Hình 4.9. Thận sưng 40
Hình 4.10. Lách nhạt màu 40
Hình 4.11. Phổi sưng 40
Hình 4.12. Tim nhão, cơ tim nhạt màu 40
Hình 4.13. Lớp tế bào bị thoái hóa trong mụn đậu gà (HE. 10x) 45
Hình 4.14. Lớp vẩy sừng hóa của mụn đậu gà (HE. 10x) 45
Hình 4.15. Phổi sung huyết trong bệnh đậu gà (HE. 10x) 45
Hình 4.16. Sung huyết lớp hạ bì trong bệnh đậu gà (HE. 20x) 45
Hình 4.17. Thể bao hàm trong mụn đậu gà 45
(HE. 20x) 45
Hình 4.18. Thể bao hàm trong mụn đậu gà (HE. 40x) 45
Hình 4.19 . Kết quả phản ứng PCR 47
Hình 4.20. Nghiền mẫu tươi dùng tách DNA 50
Hình 4.21. Chuẩn bị thạch Agarose 50
Hình 4.22. Tách chiết DNA 50

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển thì tình hình dịch bệnh cũng diễn biến
phức tạp. Trong đó, bệnh đậu gà là một trong những bệnh truyền nhiễm nan giải tuy
không gây chết ồ ạt trong một thời gian ngắn nhưng nó làm chết rải rác, kéo dài,
gây tổn thất khá lớn cho đàn gà đặc biệt chăn nuôi gà công nghiệp. Bệnh gây ra bởi
virut DNA thuộc nhóm Avipoxvirus, họ Poxviridae. Bệnh phân bố rộng khắp trên
toàn thế giới, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế đối với các đàn gia cầm vì
nó gây giảm sản lượng trứng đối với đàn gà đẻ, gây giảm sự tăng trưởng đối với gia
cầm non và gây tỷ lệ chết đáng kể đối với tổng đàn (Isa và cộng sự, 2002; Ariyshi
và cộng sự, 2003). Bệnh lây lan chậm với những đặc trưng của bệnh là hình thành
những nốt đậu hoặc vẩy ở những vùng da không có lông (gọi là thể ngoài da) hoặc
hoại tử fibrin và các bệnh tích tăng sinh ở lớp màng nhầy của đường hô hấp trên,
miệng, thực quản (gọi là thể thực quản). Gia cầm bị bệnh đậu có thể bị ở thể ngoài
da hoặc thể bạch hầu hoặc có thể bị cả hai thể cùng lúc.
Đứng trước thực tế trên thì yêu cầu tìm hiểu về bệnh cũng như chẩn đoán
chính xác để ngăn chặn hạn chế dịch bệnh xảy ra là vô cùng cần thiết. Trong các
phương pháp chẩn đoán hiện nay thì PCR là phương pháp chẩn đoán nhanh, có độ
chính xác cao. Phương pháp này có thể chẩn đoán chính xác khi lượng virus trong
con vật mắc bệnh rất nhỏ. Đây là ứng dụng to lớn của ngành công nghệ sinh học
vào công tác chẩn đoán bệnh.
Để khống chế, phòng và trị bệnh hiệu quả thì những kiến thức về đặc điểm
bệnh lý cũng rất quan trọng. Từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :
“Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh đậu gà và ứng dụng kỹ
thuật PCR trong chẩn đoán bệnh đậu gà”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
1
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
1.2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được biến đổi đại thể và vi thể của một số cơ quan, tổ chức của gà
mắc bệnh đậu.

đậu và phát triển kỹ thuật nuôi cấy virus vào màng niệu đạo của phôi trứng. Từ năm
1929- 1931, Woodruff và Goodpasture chứng minh virus trong các thể vùi là
nguyên nhân gây ra bệnh. Năm 1932 đã xác định khả năng gây nhiễm của chất qua
lọc và ly tâm tiểu thể nội bào của virus đậu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
3
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
Năm 1954 mô tả bệnh giống như bệnh đậu ở muỗi. Năm 1962 Bigelli mô tả
bệnh đậu ở cá. Năm 1963 nghiên cứu về siêu cấu trúc của virus đậu bằng phương
pháp nhuộm âm bản và soi kính hiển vi điện tử.
Các nghiên cứu về đặc tính sinh học của virus đậu nói chung và đậu gà nói
riêng, về cơ chế sinh bệnh, về chẩn đoán bệnh và về vacxin phòng bệnh của nhiều
tác giả đã làm sáng tỏ về bệnh đậu.
Bệnh xảy ra nhiều nơi trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể (Isa và cộng sự,
2002; Tripathy & Reed, 2003; Pledger, 2005). Trong hơn 40 năm nay thiêt hại do
bệnh đã giảm rất nhiều do hiệu quả của việc phòng bệnh bằng vaccine, ở các nước
chăn nuôi gia cầm tiên tiến hầu như không còn thấy bệnh đậu. Bệnh xảy ra nhiều ở
các nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới hơn các nước vùng ôn đới và hàn đới
(Beytut & Haligur, 2007).
2.1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh đậu trong nước
Ở Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh đậu gà đặc biệt là
công trình nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Như Thanh trong việc nghiên cứu ra
vacxin nhược độc đậu gà chủng C cho việc phòng bệnh có hiệu quả.
Năm 1975. Kết quả bước đầu nghiên cứu vacxin nhược độc đậu gà chế từ
chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp
Năm 1976. Kết quả bước đầu nghiên cứu vacxin nhược độc đậu gà chế từ
chủng C” đăng trong tạp chí Khoa học kỹ thuật nông nghiệp - Bộ Nông nghiệp
Năm 1978. Kết quả bước đầu nghiên cứu vacxin nhược độc đậu gà chế từ
chủng C - Bảo quản và thực nghiệm trong sản xuất đăng trong tạp chí Khoa học kỹ

giả Bolte, A. L. J Meurer, E. F. và Kaleta thì có khoảng 9.000 loài chim đã bị nhiễm
bệnh tự nhiên với virus Đậu. Vì ảnh hưởng kinh tế do FPV gây ra rất lớn nên hầu
hết các nghiên cứu đều tập trung vào loài virus này, hơn là các loài virus khác trong
giống.
Dựa vào nguồn gốc phân lập, người ta gọi tên virus theo loài vật chủ như
virus đậu gà (fowpox ), virus đậu bồ câu (pigeonpox), virus đậu chim hoàng yến
(canarypox), virus đậu chim ác (magpiepox), virus đậu vẹt (psittacinepox).
2.2.2. Hình thái, cấu trúc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
5
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
Hình 1.1. Lớp vỏ virus Hình 1.2. Cấu trúc virus
Tất cả các virus đậu gia cầm đều giống nhau về mặt hình thái. Virus trưởng
thành có hình khối hộp, kích thước 330 - 280 - 200nm. Lớp vỏ bên ngoài được cấu
tạo bởi các ống bề mặt sắp xếp tùy tiện (hình 1.1). Virus đậu gà là một loại virus
chứa nhân DNA sợi đôi, móc lại ở hai đầu, kích thước khoảng 254 - 300kb. Khối
lượng hạt virus 2,04× 10
-14
g, trong đó gần 1/3 là lipid. Virus bao gồm thể nhân ở
trung tâm và hai tiểu thể ở mỗi bên mặt lõm, bên ngoài được bao bọc bởi lớp vỏ
lipid ( hình 1.2).
Virion có vỏ lipit bọc ngoài không bền vững với ete và clorofom. Dưới kính
hiển vi quang học có thể thấy những thể hình cầu, kích thước từ 0,2 – 0,25µ khi
nhuộm bằng phương pháp nhuộm Hơxbec (Herzberg) thì kích thước của nó lớn
hơn. Những thể hình cầu đó gọi là tiểu thể Boren (Borrel). Các tiểu thể này sản sinh
trong nguyên sinh chất tế bào thượng bì và tạo nên các bệnh tích tế bào đặc hiệu gọi
là các bao hàm thể Bolingơ (Bonllinger). Việc xác định các thể này có ý nghĩa chẩn
đoán quan trọng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam

tiên ở da tại vị trí tiêm sau 2 ngày và ở phôi sau 4 ngày, ở mạch máu sau 5 ngày.
Khi gây nhiễm trong khí quản, virus được tìm thấy đầu tiên ở phổi sau 2 ngày, ở
mạch máu sau 4 ngày. Có thể phân lập virus từ gan, lách, thận và não của gà mắc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
7
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
bệnh. Sau 10- 18 ngày gây nhiễm trong da, quan sát thấy nhiều hạt u nhỏ ở thận,
cùng với các bệnh tích ở da và viêm thể hạch hầu ở niêm mạc đường hô hấp trên.
Bệnh tích vi thể quan sát có các thể bao hàm ở tế bào biểu mô ống thận sau 4- 14
ngày gây nhiễm và ở tế bào biểu mô lưới miền tủy tuyến ức sau 4- 10 ngày.
- Trên phôi gà: phôi gà sạch bệnh thường được dùng để phân lập và nuôi cấy
virus đậu gà bằng cách tiêm vào màng nhung niệu của phôi thai gà ấp 10 – 12 ngày.
Dùi một lỗ ở buồng hơi và một lỗ tiêm cách xa thai và mạch máu, lỗ thứ 2 này rất
nông không xuyên qua niệu mô, nhỏ một giọt nước sinh lý vào lỗ tiêm, dùng một
quả bóng cao su hình lê hút hơi ở túi hơi ra hết làm tách niệu mô với vỏ mềm. Sau
đó dùng ống tiêm và kim tiêm ngắn, nhỏ, hút huyễn dịch virus đậu (màng nhung
niệu chứa virus đậu gà hòa với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/10) ấn kim vào rất
nông, vừa bơm huyễn dịch vừa xoay. Sau đó để tủ ấm 37
0
C trong 4 – 5 ngày, hàng
ngày soi trứng để kiểm tra, thai nào chết thì loại ra, giữ thai sống đến ngày thứ 5.
Mổ phôi thai, xem bệnh tích thấy màng nhung niệu dày ra, giống gelatin và có
nhiều nốt đậu trắng.
- Trên môi trường tế bào: virus đậu có thể nhân lên trên nhiều loại môi
trường tế bào có nguồn gốc từ gia cầm như môi trường tế bào xơ phôi gà, môi
trường thận phôi gà, môi trường da phôi gà và môi trường xơ phôi vịt. Hai môi
trường tế bào là môi trường tế bào thường trực “ QT35” chế từ phôi chim cút và
môi trường dòng tế bào gan gà LMH được dùng để cấy chuyển và giữ chủng virus
đậu sau khi đã được thích ứng. Cũng cần lưu ý, một số chủng virus đậu phân lập từ

bệnh thường tồn tại dai dẳng mặc dù đã chủng ngừa bằng vacxin.
Người ta phân biệt các loài virus đậu dựa vào đặc tính gây bệnh cho loài vật
chủ bao gồm đậu gà, đậu gà tây, đậu bồ câu, đậu vịt và đậu chim hoàng yến. Chim
hoàng yến rất mẫn cảm với đậu hoàng yến nhưng đề kháng cao với đậu gà, đậu gà
tây và đậu bồ câu.Virus đậu bồ câu gây bệnh nhẹ cho gà và gà tây nhưng rất độc với
gà bồ câu. Vịt không mẫn cảm với virus đậu gà nhưng mẫn cảm với virus đậu gà
tây, do đó có thể sử dụng đặc tính này để phân biệt 2 chủng virus với nhau.
Bệnh đậu gà không lây sang người và động vật có vú. Tuy nhiên, Mayr và
Mahnel (1970) thông báo đã phân lập virus đậu gà ở loài tê giác.
Trong phòng thí nghiệm thường dùng gà để gây bệnh thực nghiệm.
 Phương thức truyền lây
Bệnh có thể lây truyền qua 2 phương thức trực tiếp và gián tiếp:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
9
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
- Lây trực tiếp: gà bệnh làm rơi vảy mụn đậu ra ngoài không khí hoặc khi ho,
hắt hơi làm bắn nước dãi lẫn niêm dịch có chứa virus vào da hoặc niêm mạc của gà
làm khỏe. Bệnh lây chủ yếu của vết thương hoặc vết xây xát ở da, đặc biệt khi gà
đánh nhau hoặc mổ cắn nhau. Người bắt gà để chủng vacxin có thể nhiễm virus ở
tay và quần áo, làm lây nhiễm vào mắt của gà mẫn cảm.
- Lây gián tiếp: do chuồng nuôi, dụng cụ chăm sóc, thức ăn, nước uống
nhiễm virus. Chim hoang, côn trùng hút máu (muỗi, mòng, rận) đều có khả năng
truyền bệnh.Virus đậu có thể tồn tại nhiều tháng trong cơ thể của chúng nhưng vai
trò truyền bệnh không lớn lắm vì mùa Thu Đông không thuận lợi cho sự sống của
các côn trùng này.
 Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào da hay niêm mạc, virus sản sinh tại chỗ, rồi tùy quan
hệ giữa cơ thể và mầm bệnh, quá trình bệnh lý sẽ diễn ra với các thể khác nhau.
Nếu gia cầm nhiễm đậu khác loài, virus chỉ nhân lên tại chỗ và chỉ gây phản

thể bệnh. Gà lớn thường nhiễm bệnh qua da nên hay bị thể đậu, còn gà con hay
nhiễm bệnh qua niêm mạc nên hay bị bệnh ở thể yết hầu. Những cách giải thích này
chỉ đúng ở một số trường hợp. Trong thực tế chúng ta thấy sức đề kháng của cơ thể
quan hệ với các thể bệnh. Gà con có sức đề kháng yếu nên hay mắc ở thể nặng.
2.4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Bệnh đậu gà thường có 3 thể: thể ngoài da (mụn đậu ), thể niêm mạc (yết
hầu, màng giả) và thể hỗn hợp, thời gian nung bệnh trung bình từ 4 – 8 ngày, thời
gian này có thể thay đổi tùy theo hoạt lực của virus.
 Mụn đậu thể ngoài da
Thể ngoài ra được đặc trưng bởi sự hình thành các nốt đậu ở mào, yếm, mí
mắt, khóe mắt, khóe miệng, và một số chỗ ít lông khác của cơ thể như mặt trong
cánh, quanh hậu môn, da chân…
Mụn đậu bắt đầu bằng những nốt sần nhỏ, màu nâu xám hay đỏ xám. Nốt sần
to dần bằng hạt thóc, hạt đậu. Nếu mọc gần nhau nốt đậu sẽ làm da sần sùi. Gà có
mào to, nốt đậu dày đặc có thể làm đầu gà to sù, sần sùi như hoa bắp cải. Nốt đậu
mọc ở khóe mắt làm cho gà khó nhìn nên không thấy được thức ăn và nước uống,
gà bị viêm kết mặc mắt, chảy nước mắt. Nốt đậu có thể bịt kín lỗ mũi làm cho gà
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
11
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
khó thở. Nếu mọc ở khóe mồm, con vật sẽ đau đớn khi mổ thức ăn làm cho chúng
biếng ăn.
Màu sắc nốt đậu biến đổi dần từ màu sẫm sang màu vàng xám. Do các tế bào
bên trong bị dung giải nên mụn đậu mềm dần rồi vỡ ra chảy một chất mủ sánh như
kem. Mụn đậu khô đóng vảy. Vảy màu nâu sẫm, dần bị bóc đi để lại những vết sẹo
nhỏ màu vàng xám, mụn đậu lành, con vật lành bệnh nhanh chóng. Nếu mụn đậu
mọc dày đặc ở nhiều chỗ bệnh sẽ lâu lành, con vật bị sốt, bỏ ăn trong nhiều ngày.
Trường hợp mụn đậu bị nhiễm trùng, quá trình viêm và hoại tử ở da sẽ trở lên trầm
trọng, khi lành bệnh sẹo sẽ lớn hơn và sâu hơn.

 Thể hỗn hợp
Thường xảy ra ở gà con. Cùng lúc trên con vật xảy ra hai thể bệnh là thể bệnh
ngoài da và thể yết hầu. Tỷ lệ chết cao. Ngoài ra có thể gặp phổ biến ở chim hoàng yến
thể nhiễm trùng huyết làm cho con vật bỏ ăn, sốt cao, ỉa chảy, suy kiệt và chết.
Quá trình bệnh tiến triển trong vòng 3- 4 tuần . Nếu có kết phát khác, bệnh sẽ
kéo dài hơn. Bệnh xảy ra với đàn gà đẻ sẽ làm giảm tỷ lệ đẻ.
2.5. BỆNH TÍCH
2.5.1 Bệnh tích đại thể
Gà ốm gầy, nổi mụn đậu trên da, viêm cata ở niêm mạc miệng, thanh quản.
Các vết viêm này loang dần thành các nốt phồng, dày dần lên cuối cùng tạo thành
lớp màng giả dính chặt vào niêm mạc. Niêm mạc ruột có thể tụ máu đỏ từng đám.
Phổi tụ máu và tích nước. Khí quản chứa nhiều dịch xuất lẫn bọt.
Bệnh tích đặc trưng của bệnh đậu gà thể da là sự tăng sinh ở biểu mô và ở
nang lông với sự hình thành các nốt lúc đầu là các nốt trắng sau đó nhanh chóng to
lên và biến màu vàng. Ở các gà mắc bệnh trong da, ngày thứ 4 xuất hiện bệnh tích
nguyên phát. Vào ngày thứ 5 và thứ 6 hình thành các nốt mụn. Tiếp theo là giai
đoạn mụn nước, kèm theo sự hình thành các bệnh tích dày, các nốt bệnh tích liền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
13
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
nhau có thể hợp lại và trở lên thô ráp và có màu xám hoặc nâu thẫm. Sau 2 tuần
hoặc thỉnh thoảng sớm hơn bệnh tích có các vùng viêm sưng và xuất huyết. Hình
thành vảy trong vòng 1 – 2 tuần kế tiếp, kết thúc bằng việc bong vảy. Nếu vảy bong
sớm có dịch chảy ra khắp vùng lấm tấm xuất huyết. Khi vảy bong tự nhiên, một sẹo
tròn có thể xuất hiện, ở trường hợp nhẹ sẹo có thể không nhìn rõ. Các virus vacxin
nhược độc tạo ra các bệnh tích cục bộ, các bệnh tích này nhẹ hơn so với các bệnh
tích do các chủng độc lực gây nên.
Ở thể bạch hầu sẽ hình thành các nốt đục hoặc các nốt đốm vàng trên niêm
mạc miệng, thực quản, lưỡi, khí quản. Các nốt nhanh chóng to lên và thường hợp lại

của tế bào biểu mô kết mạc và biểu mô đường hô hấp, bệnh phát triển với quy mô
lớn, lây lan nhanh, ho hen ngạt từng cơn, màng giả rất dễ bóc.
 Bệnh Newcastle: Xuất huyết ở các niêm mạc và phủ tạng đặc biệt xuất huyết
và loét đường tiêu hóa.
 Bệnh nấm phổi: Màng giả tạo thành những điểm những đám tròn đều và khô
ở phổi và túi khí. Kiểm tra vi thể thấy các sợi nấm Aspergillus.
 Bệnh thiếu vitamin A: Niêm mạc không hình thành màng giả nhưng lại xuất
hiện dịch xuất màu vàng, sau đặc lại vón cục từng đám và bờ như bã đậu. Đặc trưng
của bệnh là hiện tượng thoái hóa các tế bào thượng bì.
2.6.2. Phương pháp làm tiêu bản
Từ gà bệnh tự nhiên hoặc sau khi đã gây bệnh nhân tạo 7 ngày, gạt bỏ vảy
đậu, nặn lấy chất mủ trong các lỗ chân lông, phiết kính. Nhuộm tiêu bản bằng
phương pháp mạ bạc Morosop hoặc phương pháp Pasen – Boren sẽ thấy thể vùi (thể
Boren) hình cầu trong nguyên sinh chất tế bào bệnh đậu.
2.6.3. Chẩn đoán virus học
Gây bệnh thí nghiệm cho gà: lấy mụn đậu hoặc màng giả bôi lên khoảng 2,2
cm da đùi đã nhổ sạch lông. Nếu bệnh phẩm có virus, sau đó 5 - 10 ngày lỗ chân
lông dày lên và hình thành các nốt đậu điển hình .
Nếu gây nhiễm cho phôi gà: tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm vào màng
nhung niệu của phôi gà ấp 10 - 12 ngày. Sau 4 - 8 ngày mổ toàn bộ trứng tiêm. Nếu
có bệnh màng thai dày lên, trong suốt, trên màng thai xuất hiện những chấm, điểm
tròn to nhỏ màu vàng xám nổi cộm trên bề mặt của màng thai.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
15
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
2.6.4. Chẩn đoán huyết thanh học
Có thể sử dụng nhiều phương pháp để phát hiện kháng thể như phản ứng kết
tủa khuếch tán trên thạch
 Phản ứng trung hòa virus: trên tế bào hoặc trên phôi gà có thể được sử dụng tuy

Lương Thu Hường TYB – K55
Cơ sở của sự tiêm phòng bằng vacxin là phải nhận thức được vacxin không
loại trừ mối đe dọa nào của tất cả các bệnh truyền nhiễm do virus vi khuẩn gây ra,
vacxin chỉ có ích trong việc giúp con vật tránh sự tấn công ồ ạt những dịch bệnh
nghiêm trọng. Phòng bệnh bằng vacxin có tác dụng duy trì sức khỏe đối với cả một
quần thể gia súc và ít có ý nghĩa phòng trước mắt cho một cá thể.
Để tiêm phòng có hiệu quả, việc chọn thời điểm sử dụng vacxin là vô cùng
quan trọng. Những trường hợp sử dụng vacxin một cách vội vã trong khi thông tin
về những vacxin này không đầy đủ gây nên sự bất lợi cho việc nghiên cứu lưu hành
bệnh trong đàn, bởi vì khi đã dùng vacxin rồi thì việc phân biệt kháng thể do tiêm
vacxin kích thích tạo ra hay kháng thể do bản thân gia súc đã nhiễm bệnh mà có rất
khó khăn, đặc biệt là trong trường hợp sử dụng vacxin virus nhược độc.
Vì vậy muốn sử dụng vacxin có hiệu quả, hạn chế được tổn thất do dịch bệnh
gây ra người sử dụng vacxin phải có sự hiểu biết về các bệnh truyền nhiễm cũng
như dịch tễ học của bệnh.
Việc thành công trong tiêm phòng bằng vacxin không chỉ phụ thuộc vào
vacxin mà bên cạnh đó các biện pháp vệ sinh và y học cần được tiến hành đồng
thời. Cải thiện điều kiện sinh thái, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh môi trường xung
quanh sẽ góp phần đáng kể vào việc làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và tăng tác dụng
của việc dùng vacxin phòng bệnh .
Việc miễn dịch kháng đậu gà bao gồm việc tiêm chủng cho gà mẫn cảm
trước thời điểm thường xảy ra dịch. Thường thường phải tiến hành tiêm phòng
trong suốt mùa Xuân và mùa hè ở những vùng bệnh xảy ra vào mùa thu và đông .
Tuy nhiên, ở những trang trại lơn nuôi gà nhiều lứa tuổi và ở những vùng có khí
hậu nhiệt đới, những vùng mà bệnh xuất hiện quanh năm nên tiêm chủng bất cứ lúc
nào cần mà không theo mùa nào cả. Việc tiêm chủng chống virus đậu gà dưới 3
điều kiện sau:
 Khi một đàn gà nuôi trong nhà mà năm trước đã xảy ra dịch thì tất cả các đàn
gà con ấp nở từ nhà đó hoặc từ các nguồn khác đưa đến đều phải tiêm phòng
vacxin đậu gà.

lây lan và gây nhiễm ở vùng đầu gà. Vị trí được chọn để tiêm chủng là giữa đùi. Gà
tây nên tiêm chủng lúc 2 – 3 tháng tuổi, nhưng đối với gà giống nên tiêm nhắc lại
trước khi đẻ trứng. Tiêm nhắc lại 3 – 4 tháng 1 lần trong suốt thời kỳ đẻ trứng có
thể có lợi, điều đó còn phụ thuộc vào mức độ dịch tễ. Vacxin đậu gà đã xảy ra trên
tất cả các vùng của Mỹ ở các đàn gà trước đó đã tiêm chủng 2 loại vacxin đậu gà và
đậu bồ câu, điều đó chứng tỏ rằng khó có khả năng cho miễn dịch hoàn toàn.
Thường người ta sử dụng kết hợp 2 vacxin đậu gà và đậu bồ câu trong các đàn gà.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
18
Khóa luận tốt nghiệp
Lương Thu Hường TYB – K55
Theo Nguyễn Như Thanh, Trần Khâm đã ngiên cứu phương pháp sử dụng và
bảo quản vacxin đậu gà ở dạng đông khô, nhận thấy
Nếu chủng cho gà vào lúc 10 – 12 ngày tuổi là thích hợp nhất, vừa phát huy
được trạng thái miễn dịch của cơ thể vừa giúp cơ thể gà con vượt qua được giai
đoạn cảm nhiễm nhất đối với bệnh đậu gà tự nhiên (khoa học kỹ thuật nông nghiệp
11/1976)
Miễn dịch chắc chắn có từ ngày thứ 7 – 8 sau khi chủng và miễn dịch cao
nhất sau 21 – 28 ngày miễn dịch có thể duy trì sau 9 tháng.
Vacxin dưới dạng đông khô, bảo quản ở 26 – 30
0
C được 4 ngày và ở 2 – 3
0
C
được 9 tháng.
Theo kinh nghiệm của Milơ 1962, Bengendoc và Snaydo 1963 thì có thể trộn
virut vacxin đậu gà với virut ffosai (hesordshire) làm thành vacxin hỗn hợp phòng
bệnh đậu và Newcastle cho gà. Loại “vacxin hai virut” này có thể phòng bệnh cho
gà từ 2 tháng tuổi trở lên bằng cách dùng dùi nhọn chọc vào da cánh. An toàn hơn
nếu trước lúc dùng vacxin này gà đã được miễn dịch một lần bằng vacxin Lasota.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status