1 Tác động Đầu tư công đến tăng trưởng của Tỉnh Long An - Pdf 25

Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Là cửa ngõ nối thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh vùng đồng
bằng sông Cửu Long, được kết nạp chính thức vào thành viên của
Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam ( KTTĐPN ) từ năm 2000, lại nằm
trong vành đai dãn nở công nghiệp và đô thị của trung tâm kinh tế lớn
thành phố Hồ Chí Minh, Long An có lợi thế rất lớn trong cơ hội nâng
cao năng lực sản xuất, trong thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước,
trong trao đổi buôn bán quốc tế và đặc biệt là việc sớm tiếp thu và ứng
dụng các thành tựu khoa học trong sản xuất, trong quản lý.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng vào nền
kinh tế thế giới, với xuất phát điểm thấp hơn so với các Tỉnh trong
vùng KTTĐPN do kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng phục
vụ phát triển công nghiệp, đã làm hạn chế cơ hội thu hút đầu tư vào địa
bàn Tỉnh Long An.
Với vị trí và những điều kiện thuận lợi sẵn có, để có thể phát
triển, hội nhập nhanh vào Vùng KTTĐPN thì vai trò của đầu tư công
trên địa bàn Tỉnh là một yếu tố quan trọng. Để tìm hiểu sự tác động của
đầu tư công với tăng trưởng kinh tế của Tỉnh trong thời gian qua, tôi đã
lựa chọn đề tài:
“Tác động Đầu tư công đến tăng trưởng của Tỉnh Long An”
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài được nghiên cứu nhằm đánh giá tác động đầu tư công đến
tăng trưởng kinh tế của Long An trong thời gian qua. Từ đó, đưa ra các
giải pháp, khuyến nghị nhằm giúp lãnh đạo Tỉnh có chính sách đầu tư
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
2

3
- Góp phần đánh giá đúng tác động đầu tư công đến tăng trưởng
kinh tế trên địa bàn Tỉnh.
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để thực hiện đầu tư công có
hiệu quả hơn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Tỉnh cao và bền
vững trong dài hạn.
- Có thể giúp cho lãnh đạo Tỉnh tham khảo trong quá trình hoạch
định chính sách đầu tư và phân bổ vốn đầu tư công có hiệu quả hơn.
6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài được kết cấu thành 3 chương chính, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về lý thuyết đầu tư.
Chương 2: Đánh giá thực trạng đầu tư công đến tăng trưởng kinh
tế Tỉnh Long An.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công trên địa bàn
Tỉnh Long An.
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT ĐẦU TƯ
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Đầu tư
Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực
sản xuất tương lai của nền kinh tế (Sach-Larrain 1993). Sản lượng ở
đây có thể do nền kinh tế tự sản xuất hay là do nhập khẩu từ bên ngoài,
có thể là các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị,…hay là các sản
phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế…Cũng có định nghĩa đầu
tư là hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lời ở tương lai.
Vốn ở đây có thề là tiền, là tài sản, là sức lao động, là trí tuệ. Quá trình
tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua ba khâu: tiết kiệm, huy động

– Cp
Trong đó: Yp
d
là thu nhập khả dụng;
Cp là tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình
Nguồn tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và cá nhân thường là
nguồn chủ yếu trong nền kinh tế. Nguồn vốn của nước ngoài đổ vào
khu vực tư thường ở các dạng như đầu tư trực tiếp (FDI) và các khoản
nợ.
- Nguồn vốn đầu tư của khu vực công: nguồn đầu tư của nhà
nước (Ig) được xác định theo công thức sau:
Ig = (T – Cg) + Fg.
Trong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước;
Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không
kể chi đầu tư. Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của
khu vực nhà nước;
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
6
Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào
khu vực nhà nước.
Dựa vào đẳng thức trên, ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước được
tài trợ bởi ba nguồn:
Thứ nhất là khả năng huy động vốn của khu vực nhà nước từ khu
vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian.
Hình thức huy động này được thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu,
kỳ phiếu của nhà nước.
Thứ hai là tiết kiệm của khu vực nhà nước, bằng các khoản thu về
ngân sách nhà nước trừ cho các khoản chi thường xuyên. Trong trường
hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất khiêm tốn,

tư vào các loại hàng hoá công là nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên
thường do nhà nước đảm trách. Tuy nhiên, đầu tư vào kết cấu hạ tầng
có tác động thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế khác phát triển.
1.1.4. Các lý thuyết về đầu tư công
1.1.4.1. Quan điểm của trường phái tân cổ điển
Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên
can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và
lao động…mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò
này. Trường phái này khẳng định là một trong các ưu điểm kinh tế thị
trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay
vô hình của thị trường. Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực
trong các hình thức đó - phân bổ vốn trong nền kinh tế.
Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong
quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư
tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để
tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
8
nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho
chính doanh nghiệp. Cộng tất cả các đơn vị sản xuất này trong nền kinh
tế sẽ hình thành một cơ cấu đầu tư của một nền kinh tế và theo lập luận
trên, và cơ cấu đó là hợp lý. Vai trò của nhà nước trong trường hợp
này chỉ dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết
cho nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội
mà nếu để thị trường tự vận động thì không thể đáp ứng được. Giả định
của trường phái tân cổ điển là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Đây là
thị trường mà người bán và người mua có khả năng kiểm soát giá vá họ
có đầy đủ thông tin về thị trường không những trong hiện tại mà cả ở
tương lai.

theo Rosenstain-Rodan, mục đích của viện trợ nước ngoài cho các nước
kém phát triển là đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đến một điểm
mà ở đó tốc độ tăng trưởng kinh tế mong muốn có thể đạt được trên
nền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào các nguồn tài trợ bên ngoài.
- Thuyết tăng trưởng không cân đối
Hirchman (1958) đưa ra một mô hình trái ngược với thuyết tăng
trưởng cân đối, ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo ra
động lực cho nhiều dự án mới. Theo đó, cách tiếp cận này yêu cầu phần
lớn vốn đầu tư được phân phối bởi nhà nước cho những ngành công
nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra những cơ hội ở những ngành khác
trong nền kinh tế, từ đó khuyến khích làn sóng đầu tư thứ hai. Những
ngành được chọn ra để đầu tư nên được đánh giá theo mối liên hệ giữa
ngành đó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá trị”, điều này nói đến
khả năng tạo ra những ngành mới làm đầu ra hay cung cấp đầu vào cho
những ngành được chọn để đầu tư.
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
10
Hirchman chấp nhận có sự can thiệp của nhà nước nhưng ông
cho rằng ý tưởng “cú huých” là không khả thi mà thay vào đó, sự phát
triển tốt nhất là được tạo ra từ những mất cân đối như thế. Do nguồn
vốn có hạn, chính phủ không thể bảo đảm đầu tư một cách rải đều cho
tất cả các ngành khác để đảm bảo phát triển ngành này cũng là tạo điều
kiện để ngành khác phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển
đổi, nhiều định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh
nên các điều kiện của thị trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng
được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang ở trình độ rất thấp, chủ yếu là
nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp…đòi hỏi phải có vai trò
chủ động của nhà nước trong việc định hướng phát triển các ngành

nghệ là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng
năng suất lao động, tăng sản lượng quốc gia.
Như vậy hàm sản xuất tổng hợp được thể hiện:
Y = F(K, L, R, T)
Hàm sản xuất cho thấy tăng trưởng tổng sản lượng phụ thuộc vào
quy mô, chất lượng của các yếu tố đầu vào K, L, R, T và cách thức phối
hợp chúng. Mỗi yếu tố giữ một vai trò nhất định và có tác động qua lại
lẫn nhau, tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, có thể yếu tố nào đó
được đề cao hơn yếu tố khác nhưng không có nghĩa là phụ thuộc duy
nhất vào một yếu tố.
Ngoài các yếu tố trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào
những yếu tố phi kinh tế khác như: thể chế kinh tế chính trị, đặc điểm
về văn hoá-xã hội, tôn giáo…
1.2.2. Một số mô hình phân tích nguồn gốc tăng trưởng kinh tế
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
12
Trong quá trình phát triển của kinh tế học, nguồn gốc của tăng
trưởng được giải thích khác nhau bởi các nhà kinh tế học, có một số mô
hình chủ yếu được phổ biến như sau:
- Mô hình Ricardo (David Ricardo, 1772-1832): cho rằng đất đai
sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Ông cho
rằng giới hạn của đất làm cho lợi nhuận của người sản xuất có xu
hướng giảm do chi phí sản xuất lương thực thực phẩm cao, giá hàng
hoá tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và giới hạn của đất cũng làm cho
năng suất lao động nông nghiệp thấp, xuất hiện thừa lao động trong
nông nghiệp do đó hiệu suất sử dụng lao động thấp làm ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế.
- Trường phái Tân Cổ điển: cho rằng dưới tác động của khoa học
và công nghệ, chất lượng ruộng đất không ngừng nâng cao vì vậy ngay

vào số lượng vốn đã đầu tư vào thực thể kinh tế đó, được biểu diễn
dưới dạng hàm:
Y = K/k
Trong đó k là hằng số, được gọi là hệ số vốn sản lượng. Chuyển
sang tốc độ tăng, ta có:
+Y = +K/k
Chia cả 2 vế của đẳng thức trên cho Y, ta có:
+Y/Y = (+K/Y).1/k
+Y/Y chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế, +K/Y là tỷ lệ đầu
tư/GDP. Điều này có nghĩa là để đạt được tốc độ tăng trưởng nào đó thì
nền kinh tế phải đầu tư theo một tỷ lệ nhất định nào đó trên GDP.
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
14
Khi chuyển sang tốc độ tăng thì hệ số k gọi là hệ số ICOR
(incremental capital-output ratio). Hệ số này cho ta biết là để tăng được
một đồng GDP thì cần phải đầu tư bao nhiêu đồng vốn.
Nguồn đầu tư trên có thể là do tiết kiệm trong nước hay vốn nước
ngoài đưa vào. Theo mô hình tăng trưởng “nhị khuyết” (two-gap
model), thì ở hầu hết các nước đang phát triển, tiết kiệm nội địa thường
thấp nên không thể đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư, do đó phải huy động
vốn từ bên ngoài (“khuyết 1”). Do đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ
thuộc vào khả năng tiết kiệm của nền kinh tế và khả năng huy động vốn
từ bên ngoài. Ngoài ra, cũng theo mô hình này thì do đầu tư ở các nước
đang phát triển phần lớn là phải nhập khẩu máy móc, thiết bị… nên
việc thiếu hụt ngoại hối có thể trở thành một trong những cản trở chính
cho hoạt động đầu tư (“khuyết 2”), và đó cũng là cản trở cho tăng
trưởng kinh tế.
- Mô hình Robert Solow (1956): cho rằng việc tăng vốn sản xuất
chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn, không ảnh

phái này cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế tuỳ thuộc và cách
thức kết hợp giữa yếu tố đầu vào; vốn (K) và lao động (L). Theo mô
hình này, có 2 cách thức để thực hiện tăng trưởng: chiều rộng và chiều
sâu. Đối với các nước đang phát triển thường lựa chọn cách thức tăng
trưởng theo chiều rộng như lựa chọn công nghệ thâm dụng lao động.
Tuy nhiên cách thức này lại hạn chế việc nâng cao năng suất lao động.
Do đó, trong chính sách kinh tế cần quan tâm đến việc khuyến khích
những ngành có điều kiện để thực hiện tăng nhanh hệ số vốn trên lao
động.
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
16
1.2.3. Mối tương quan giữa đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh
tế
Đầu tư tác động lên tăng trưởng kinh tế ở 2 mặt: tổng cung và
tổng cầu. Trong hàm tổng cầu thì đầu tư là một thành phần của tổng
cầu có dạng:
Y= C + I + G + X - M (1)
Trong đó: Y là sản lượng hay thu nhập quốc dân;
C là tiêu dùng dân cư;
I là đầu tư;
G là chi tiêu của nhà nước;
X là xuất khẩu và M là nhập khẩu.
Từ đẳng thức (1) ta thấy rằng khi đầu tư I tăng lên thì trực tiếp làm
cho thu nhập quốc dân Y tăng lên.
Theo lý thuyết Keynes thì khi đầu tư tăng lên một đơn vị thì làm
cho Y tăng hơn một đơn vị.
Thật vậy, khi thay thế C = a + b.Y và M = u + v.Y là hàm tiêu
dùng và hàm nhập khẩu biểu diễn theo Y thì đẳng thức (1) có dạng:
Y = a + b.Y +I + G + X – u - v.Y

Như vậy, các mô hình tăng trưởng đơn giản đều nhấn mạnh đến
yếu tố vốn trong tăng trưởng.
1.3. Đặc điểm cuả đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.1. Đặc điểm cuả đầu tư công
Hàng hóa công là loại hàng hoá không có tính cạnh tranh trong
tiêu dùng. Tính phi cạnh tranh về tiêu dùng biểu hiện cùng một lúc có
hơn một người tận hưởng những lợi ích từ hàng hoá công, và chi phí
đáp ứng nhu cầ
u đòi hỏi các đối tượng tiêu dùng tăng thêm này là bằng
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
18
không. Phần lớn hàng hoá công do Chính phủ cung cấp và ngoài ra còn
có thể huy động sự tham gia của khu vực tư để đáp ứng nhu cầu về
hàng hoá công của xã hội.
Hàng hoá công có tính tiêu dùng chung, khi tăng thêm một người
tiêu dùng thì hàng hoá công sẽ không làm giảm đi lợi ích của những
người tiêu dùng hiện có và chi phí đáp ứng đòi hỏi của các đối tượng
tiêu dùng tăng thêm là bằng không. Khi hàng hoá công được cung cấp
thì không thể loại trừ hoặc rất tốn kém để loại trừ một người nào đó
tiêu dùng hàng hoá mà không chịu trả tiền cho hành động tiêu dùng của
mình.
Tại sao Chính phủ phải cung cấp hàng hoá công? Nguyên nhân
là có sự thất bại của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hoá công, tính
không hiệu quả do khu vực tư cung cấp hàng hoá công và làm giảm
phúc lợi xã hội. Sự phát triển của xã hội trong giai đoạn kinh tế thị
trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không mất đi mà
trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế.
Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu

- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước
không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế
tư nhân.
Theo kinh nghiệm phát triển cho thấy, trong thời kỳ đầu thực
hiện chiến lược công nghiệp hoá, quy mô chi đầu tư công của ngân
sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội.
Ở giai đoạn này, do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu trong khi
chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên nhà nước phải tăng
cường quy mô đầu tư từ ngân sách nhà nước để tạo đà cho tiến trình
công nghiệp hoá. Đi đôi với sự gia tăng quy mô thì cơ cấu chi đầu tư
cũng rất đa dạng để đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ
trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội…Quy mô chi
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
20
đầu tư công của nhà nước sẽ giảm dần theo mức độ thành công của
chiến lược công nghiệp hoá và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân. Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu tập trung vào
điều chỉnh nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi
cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ
được cắt giảm.
- Chi đầu tư công phải gắn chặt chi thường xuyên nhằm nâng
cao hiệu quả vốn đầu tư.
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ
sở hạ tầng. Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản
đầu tư. Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu
tư tràn lan, không tình đến hiệu quả khai thác.
Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lãnh vực: chi xây dựng các công

phát triển giáo dục, an sinh xã hội...
Kết cấu hạ tầng là đối tượng chính của đầu tư công, là một bộ
phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có
chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần
thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình
thường, liên tục. Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các
cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt
động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường.
Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại
khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Cụ thể như:
- Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế -xã hội thì kết cấu hạ tầng có
thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ
tầng phục vụ hoạt động xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc
phòng. Tu
y nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào chỉ phục
vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại.
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
22
- Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân thì kết
cấu hạ tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công
nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,
xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hoá xã
hội…
- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì kết cấu hạ
tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ
tầng nông thôn; kết cấu hạ tầng kinh tế biển (ở những nước có kinh tế
biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như nước ta), kết cấu hạ tầng đồng
bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố
lớn…

bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn
định và bền vững. Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận
rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh
tế-xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Trình độ phát
triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất
nước, có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói
giảm nghèo.
Nghiên cứu về tác động của việc phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt
Nam, tác giả Phạm Thị Tuý (2006) đã phát hiện ra sáu tác động quan
trọng sau đây:
- Kết cấu hạ tầng phát triển mở ra khả năng thu hút các luồng vốn
đầu tư đa dạng cho phát triển kinh tế-xã hội;
- Kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại là điều kiện để phát
triển các vùng kinh tế động lực, các vùng trọng điểm và từ đó tạo ra các
tác động lan toả lôi kéo các vùng liền kề phát triển;
Luận văn Thạc sĩ – Cao học K15
SVTH: Ngô Lý Hoá GVHD: PGS TS Sử Đình Thành
24
- Kết cấu hạ tầng phát triển trực tiếp tác động đến các vùng nghèo,
hộ nghèo thông qua việc cải thiện hạ tầng mà nâng cao diều kiện sống
của hộ.
- Phát triển kết cấu hạ tầng thực sự có ích với người nghèo và góp
phần vào việc giữ gìn môi trường;
- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông nông thôn,
đem đến tác động cao nhất đối với giảm nghèo; và
- Phát triển kết cấu hạ tầng tạo điều kiện nâng cao trình độ kiến
thức và cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, góp phần giảm
thiểu bất bình đẳng về mặt xã hội cho người nghèo.
Tóm lại, kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự phát

Đây là một thành tựu đáng ghi nhận.
1.4. Kinh nghiệm phát triển kết cấu hạ tầng của một số nước:
1.4.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc:
Quá trình phát triển kết cấu hạ tầng ở Hàn Quốc đã diễn ra mạnh
mẽ kể từ những năm 1960 khi nền kinh tế Hàn Quốc bắt đầu bước vào
thời kỳ công nghiệp hoá nhanh chóng. Đến nay, Hàn Quốc đang có một
hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối tiên tiến so với các nền kinh tế công
nghiệp đang nổi lên khác, tuy nhiên nó vẫn còn lạc hậu so với các nền
kinh tế công nghiệp phát triển. Ngay sau khi kết thúc chiến tranh Triều
Tiên, Hàn Quốc đã bắt đầu quá trình hồi phục kinh tế của mình với sự
hỗ trợ mạnh mẽ của viện trợ nước ngoài. Kế hoạch phát triển 5 năm lần
đầu tiên của Hàn Quốc (1962-1966) tập trung vào phát triển các ngành
công nghiệp nhẹ và thay thế nhập khẩu. Chính phủ đã bắt tay xây dựng
275km đường sắt và nhiều dự án đường cao tốc nhỏ. Kế hoạch phát
triển 5 năm lần thứ hai (1967-1971) tập trung đẩy mạnh xuất khẩu với

Trích đoạn Bài học kinh nghiệm từ thực trạng đầu tư công 20 năm qua Chọn mô hình phân tích Dependent Vrible: GDP Đầu tư công trong chiến lược phát triển của Tỉnh Nâng cao hiệu quả quản lý nhàn ước trong đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status