tác động của đầu tư công đến tăng trưởng ngành du lịch tỉnh hậu giang - Pdf 25


iBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

ĐẶNG CHÍ CÔNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DU LỊCH
TỈNH HẬU GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Khánh Hòa – 2014
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. NGUYỄN VĂN NGỌC
Khánh Hòa – 2014
iLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thật sự của
cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, các số liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa được công bố ở bất cứ
công trình nào khác, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Văn Ngọc, trường
Đại học Nha Trang.

Tác giả
Đặng Chí Công

ii
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư công 4
1.1.1. Khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công 4
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư 4
1.1.2. Khái niệm hiệu quả quản lý đầu tư công 5
1.1.3. Đặc điểm và vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội 6
1.1.3.1. Đặc điểm 6
1.1.3.2. Vai trò 7
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công 7
1.1.5. Cơ chế đầu tư công 8
1.1.5.1. Vài nét về lý thuyết quan hệ người chủ - người thừa hành (principal-agent theory) 8
1.1.5.2. Cơ chế phân bổ nguồn vốn 9
1.1.5.3. Cơ chế thực hiện đầu tư công 10
1.1.5.4. Cơ chế giám sát quá trình đầu tư công 11
1.2. Các lý thuyết về đầu tư công 11
1.2.1. Trường phái Tân cổ điển 11
1.2.2. Lý thuyết về sự can thiệp của Nhà nước 12
1.2.3. Lý thuyết tăng trưởng cân đối và không cân đối 12
1.3. Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế 13
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu 14
1.5. Đầu tư công trong ngành du lịch 15
1.5.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của du lịch 15
1.5.1.1. Khái niệm 15

iv

1.5.1.2. Vai trò 16
1.5.1.3. Đặc điểm 16
1.5.2. Những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển dịch vụ du lịch 17
1.5.2.1. Dân cư và lao động 17
1.5.2.2. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế 17

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU
TƯ CÔNG ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DU LỊCH TỈNH HẬU GIANG 33
3.1. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang 33
3.1.1. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch 33
3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên 33
3.1.1.2. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật 36
3.1.1.3. Hệ thống dịch vụ xã hội 36
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 37
3.1.2.1. Điều kiện kinh tế xã hội 37
3.1.2.2. Nguồn nhân lực 38
3.2. Đánh giá đầu tư công tại tỉnh Hậu Giang từ 2005 - 2012 38
3.2.1. Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Hậu Giang từ 2005 – 2012 38
3.2.1.1. Thực trạng đầu tư công trên lĩnh vực du lịch 38
3.2.1.2. Kết quả đầu tư công 43
3.3. Đánh giá tác động của đầu tư công đến sự tăng trưởng của ngành du lịch 51
3.3.1. Đánh giá ngành du lịch tỉnh Hậu Giang: 51
3.3.2. Đánh giá tác động của đầu tư công đến sự tăng trưởng của ngành du lịch tỉnh
Hậu Giang: 52
3.3.3. Ứng dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas vào ngành du lịch tỉnh Hậu Giang với
tác động đầu tư công 53
3.3.3.1. Mô hình phân tích 53
3.3.3.2. Khung phân tích của đề tài 54
3.3.3.3. Kết quả nghiên cứu 54
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CÔNG VÀO NGÀNH DU LỊCH HẬU GIANG 58
4.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 58
4.1.1. Quan điểm phát triển 58
4.1.2. Mục tiêu phát triển 59


UBND: Ủy ban nhân dân
VNĐ: Việt nam đồng

viiiDANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình đầu tư công vào ngành du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2005-2012 40
Bảng 3.2. Hệ số ICOR ngành du lịch tỉnh Hậu Giang 40
Bảng 3.3: Tình hình khách du lịch tới Hậu Giang từ 2005 - 2012 48
Bảng 3.4 Số liệu thu thập được trong giai đoạn năm 2005 đến 2012 54
Bảng 3.5 Kết quả các hệ số hồi quy 55
Bảng 4.1. Dự báo đầu tư công vào tỉnh Hậu Giang đến năm 2020 60

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Hậu Giang 34
Biểu đồ 3.2 Đầu tư công cho du lịch tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2005 – 2012 39
Biểu đồ 3.3: Tổng lượng khách du lịch tới Hậu Giang từ 2005 – 2012 46
Biểu đồ 3.4: Tổng lượng khách du lịch tới Hậu Giang và các tỉnh lân cận năm 2012 .47
Biểu đồ 3.5: Tình hình doanh thu hoạt động du lịch Hậu Giang 2005 - 2012 49
Biểu đồ 3.6: Đóng góp của ngành du lịch trong GDP Hậu Giang 2005 - 2012 49
Biểu đồ 3.7: Cơ cấu ngành du lịch của Hậu Giang 2005 - 2012 50
chất lượng cao của Hậu Giang, dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả. Đồng thời, hệ thống
kết cấu hạ tầng KTXH yếu kém, nhất là hệ thống dịch vụ phục vụ du lịch chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển của ngành du lịch, nên những năm qua du lịch Hậu Giang
chưa phát huy hiệu quả.
Như vậy, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tạo
động lực thúc đẩy phát triển của ngành du lịch địa phương thì đầu tư công có vai trò
rất quan trọng.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch tỉnh Hậu Giang phát triển, sánh
bước cùng các tỉnh trong khu vực và cả nước, đồng thời phát huy thế mạnh với các
tiềm năng sẵn có thì việc nghiên cứu thực trạng, rút ra những việc làm được và những

2

yếu kém, đề xuất những giải pháp để ngành du lịch tăng trưởng và phát triển bền vững
là vấn đề hết sức cần thiết.
Xuất phát từ những quan điểm nhận thức trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu:
“Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng ngành du lịch của Tỉnh Hậu Giang”.
Tác giả hy vọng, việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần vào quá trình tăng trưởng và phát
triển ngành du lịch Hậu Giang.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Phân tích tác động của đầu tư công tới tăng trưởng ngành du lịch ở tỉnh Hậu
Giang trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp phát huy vai trò của đầu tư
công trong phát triển ngành du lịch của địa phương trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định các yếu tố liên quan tới đầu tư công trong phát triển ngành du lịch.
- Phân tích, đánh giá thực trạng đầu tư công trong lĩnh vực du lịch tại Hậu
Giang trong thời gian qua.
- Dựa vào kết quả phân tích, đưa ra các đề xuất, giải pháp cần thiết để nâng cao
hiệu quả đầu tư công vào ngành du lịch của tỉnh Hậu Giang.

vào ngành du lịch Hậu Giang.

4

CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ THỰC TIỄN ĐẦU
TƯ CÔNG TRONG NGÀNH DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận về đầu tư công
1.1.1. Khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư
Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất
tương lai của nền kinh tế. Sản lượng ở đây có thể do nền kinh tế tự sản xuất hay là do
nhập khẩu từ bên ngoài, có thể là các sản phẩm hữu hình như máy móc, thiết bị,…hay
là các sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sáng chế…Cũng có định nghĩa đầu tư là
hoạt động bỏ vốn ở hiện tại nhằm mục đích sinh lời ở tương lai. Vốn ở đây có thề là
tiền, là tài sản, là sức lao động, là trí tuệ. Quá trình tích lũy vốn đến đầu tư được thể
hiện qua ba khâu: tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính và cuối cùng là
đầu tư (Ngô Lý Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2007).
1.1.1.2. Khái niệm đầu tư công
Cho đến nay, vẫn có hai quan điểm khác nhau về đầu tư công. Quan điểm thứ
nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà
nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm
mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH; các
hoạt động đầu tư, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động
đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
Dù cách hiểu, cách diễn đạt có những điểm khác nhau, song điểm chung nhất là
hoạt động đầu tư có nguồn vốn của nhà nước (từ ngân sách nhà nước, do nhà nước
vay, nhà nước bảo lãnh khoản vay ).
Ở Việt Nam, đầu tư công được hiểu theo nghĩa hẹp. Đầu tư công là đầu tư từ
nguồn vốn của Nhà nước vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục

tư công và thể hiện được đầu tư công là đối tượng của chính sách đầu tư của nhà nước
hiện nay.
1.1.2. Khái niệm hiệu quả quản lý đầu tư công
Hiệu quả đầu tư là một phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả
KTXH đã đạt được của hoạt động đầu tư và chi phí bỏ ra để tạo ra các kết quả đó trong
một thời kỳ nhất định.
Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình "tổ chức và điều khiển
các hoạt động theo những yêu cầu nhất định", đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao
động trên phương diện điều hành. Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành
chính, là cai trị; nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được
định sẳn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý.

6

Hoạt động quản lý đầu tư công là sự điều hành, điều khiển bằng quyền lực nhà
nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, do các cơ quan
trong hệ thống hành pháp và hành chính thực hiện nhằm hỗ trợ các chủ đầu tư thực
hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các
dự án công; ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát,
ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất
thoát, lãng phí NSNN.
Hoạt động quản lý đầu tư công có hiệu quả tức là hoạt động quản lý nhà nước
phải đạt được mục đích là hỗ trợ các chủ đầu tư thực hiện đúng vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của người đại diện sở hữu nhà nước trong các dự án công; ngăn ngừa các
ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu
cực trong việc sử dụng vốn nhà nước nhằm tránh thất thoát, lãng phí NSNN; đảm bảo
hoạt động đầu tư công đạt được tốt nhất mục tiêu phát triển KTXH với chi phí thấp nhất.
1.1.3. Đặc điểm và vai trò của đầu tư công đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.3.1. Đặc điểm

với sự phát triển. Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, kết cấu hạ tầng thiếu và yếu
đã gây ứ đọng trong luân chuyển các nguồn lực, khó hấp thụ vốn đầu tư, gây ra những
“nút cổ chai kết cấu hạ tầng” ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
1.1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư công
- Năng lực của cơ quan nhà nước: đây là yếu tố mang tính quyết định đến kết
quả đạt được của dự án. Để dự án đạt được kết quả mong muốn, các cơ quan thực hiện
đầu tư công và quản lý đầu tư công cần phải bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và
chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực). Phải đảm bảo những người phụ trách
chính trong dự án có trình độ, năng lực quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án.
- Kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công việc nhìn
chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứng đầy đủ kinh phí cho hoạt
động đó. Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt động đầu tư
xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được quan tâm chặt
chẽ. Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ NSNN. Do nguồn ngân sách này còn
phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau, nhiều dự án khác nhau nên việc bảo
đảm đủ kinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra đúng tiến độ là vô cùng quan trọng.
- Thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư công liên
quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ
bản, quản lý ngân sách. Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo ra trình tự ổn
định và rành mạch cho hoạt động quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc thực hiện dự án
được thuận lợi. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có cách hiểu thống
nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng mục tiêu phát triển
KTXH.

8

- Bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội, chính trị, tiến bộ khoa học – công
nghệ… đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư. Những
biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng không thực hiện
dự án nữa do không còn phù hợp.


- Trong trường hợp không thể hình thành được hợp đồng rõ ràng: người chủ sẽ
đề nghị người tớ hợp đồng hợp tác dạng đồng chủ sở hữu tăng trách nhiệm và chia sẻ
rủi ro.
Mối quan hệ người chủ - người thừa hành trên rất hữu ích để bàn luận về cơ chế
đầu tư công.
Về mặt lý thuyết cơ chế đầu tư công bao gồm 2 nhóm cơ chế liên quan đến 2
giai đoạn của đầu tư công. Nhóm thứ nhất là cơ chế xác định cách thức phân bổ các
nguồn vốn của nhà nước sao cho hiệu quả. Nhóm thứ hai là cơ chế thực hiện các dự án
đầu tư công. Bên cạnh cơ chế ra quyết định và cơ chế thực hiện tại hai giai đoạn là các
cơ chế giám sát để đảm bảo rằng việc ra quyết định và thực hiện các dự án đầu tư công
đạt được mục tiêu đề ra với mức thất thoát là thấp nhất.
1.1.5.2. Cơ chế phân bổ nguồn vốn
Trên bình diện lý thuyết người chủ - người thừa hành, cơ chế phân bổ nguồn
vốn phản ánh mối quan hệ giữa người dân ủy thác cho chính quyền các cấp thực hiện
việc xác định các dự án cung cấp dịch vụ công cộng cho người dân. Trong mối quan
hệ này, chính quyền các cấp có lợi thế hoàn toàn về thông tin. Giữa người dân và
chính quyền cũng không thể hình thành được hợp đồng rõ ràng. Vì vậy, cách thức để
giải quyết mối quan hệ này là tập trung vào việc giảm private information cũng như
tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định.
Cách giải quyết tổng quát vấn đề này là phân quyền (decentralization). Đây là
xu hướng chung trên thế giới kể từ thập niên 1980. Các dự án đầu tư công có qui mô
vùng hoặc quốc gia thì do chính quyền trung ương quyết định trong khi các dự án đầu
tư công có qui mô địa phương thì do địa phương quyết định.
Mục đích của việc phân quyền là tăng hiệu quả phân bổ đầu tư dựa trên nguồn
tri thức mà các cấp có thể biết tốt hơn cũng như được nhiều người dân biết đến hơn.
Trung ương hiểu biết rõ về tổng thể nền kinh tế, mỗi liên kết giữa các vùng miền, xây
dựng kế hoạch về cơ sở hạ tầng cũng như các vùng kinh tế để tăng hiệu ứng hợp trội
(synergy effects). Dự án có qui mô quốc gia cũng nhận được sự quan tâm của nhiều
người dân. Mức độ phản biện những lý lẽ phân bổ của chính quyền trung ương sẽ đa

Với các dự án PPP, lựa chọn nhà đầu tư tư nhân có năng lực tài chính cũng như
năng lực thực thi là rất quan trọng. Mấu chốt để một dự án PPP có thể tiến hành là phải
đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cho nhà đầu tư tư nhân cao hơn lãi suất trái phiếu chính phủ.
Hình thức PPP đã trở nên rất phổ biến trên thế giới từ thập kỷ 1990. Khởi đầu
từ Anh Quốc, PPP đã lan rộng ra khắp thế giới như Úc, Chi Lê, Liên hiệp Châu Âu, và
gần đây nhất là Mỹ. Nó thường được dùng để thực hiện các dự án liên quan đến giao
thông vận tải, bệnh viện, trường học, và các công trình xây dựng công cộng.

11

1.1.5.4. Cơ chế giám sát quá trình đầu tư công
Với cả hai giai đoạn, phân bổ vốn đầu tư công và thực hiện đầu tư công, vai trò
giám sát của bên thứ ba là rất quan trọng. Bởi cả chính quyền và đơn vị thực hiện trên
nguyên tắc đều là “người thừa hành” đối với người dân trong mối quan hệ người chủ -
người thừa hành, nên rất có thể cả hai bên sẽ cấu kết trục lợi với nhau để làm tăng chi
phí dự án. Vì lẽ đó, giám sát đầu tư công thường được xem như là một trong những
khâu quyết định đến chất lượng đầu tư công. Đến lượt, việc giám sát hiệu quả góp
phần làm giảm nợ công và thâm hụt ngân sách.
Để giám sát đầu tư công hiệu quả, nhiệm vụ tiên quyết là tạo ra một qui trình
minh bạch, có khả năng giải trình từ khâu phân bổ đầu tư cho đến khâu thực hiện đầu
tư. Tính minh bạch và khả năng giải trình trong đầu tư công giúp người dân (báo chí,
các chuyên gia độc lập) có khả năng theo dõi các hành vi của các bên thừa hành.
Trước áp lực phải giải trình, các bên thừa hành sẽ giảm bớt việc lạm dụng thông tin
nội bộ để trục lợi.
Việc xây dựng các cơ quan giám sát đầu tư công chuyên trách theo các cấp
quản lý dự án đầu tư công là rất cần thiết để giảm các hành vi trục lợi. Bản chất của
việc hình thành cơ quan giám sát là tập trung tri thức chuyên sâu vào một nơi nào đó
nhằm làm đối trọng với các người chủ - người thừa hành có nhiều thông tin nội bộ.
Việc phân tầng giám sát giúp cho các cơ quan giám sát trung ương tập trung vào giám
sát các dự án qui mô lớn, trong khi các cơ quan giám sát cấp địa phương tận dụng tri

chung lại, chủ nghĩa thể chế đặt vấn đề cần có sự can thiệp của nhà nước vào đời sống
kinh tế.
Keynes khẳng định, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp và suy thoái,
nhà nước phải trực tiếp điều tiết kinh tế. Cách thức điều tiết là thông qua những
chương trình công cộng và dùng những chương trình này để can thiệp tích cực với
hướng kích thích và duy trì tốc độ gia tăng ổn định của tổng cầu.
1.2.3. Lý thuyết tăng trưởng cân đối và không cân đối
Lý thuyết tăng trưởng cân đối và bất cân đối là hai quan điểm trái ngược nhau
trong việc nghiên cứu phát triển của các nước đang phát triển. Tăng trưởng cân đối là
nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế giữa các ngành phải đảm bảo tỉ lệ hợp lí và
phát triển một cách cân đối. Tăng trưởng không cân đối là sự phát triển không phải các
mặt đồng thời cùng được đẩy lên, mà là tập trung lực lượng để phát triển nhiều ngành
trọng điểm, áp lực của sản xuất không cân đối mới có thể làm cho sự chuyển động
kinh tế liên tục phát triển. Do vậy, sự tăng trưởng không cân đối có lợi cho sự phát
triển và phát huy lợi thế. Cần thấy rằng, quá trình tăng trưởng kinh tế là quá trình điều
chỉnh cơ cấu sản xuất công nghiệp, cho nên tăng trưởng kinh tế phải làm cho giữa các
ngành sản xuất công nghiệp giữ được tỉ lệ hợp lí, tức là tăng trưởng cân đối, đồng thời
cho phép giữa các ngành sản xuất công nghiệp có sự không hài hoà cục bộ và tạm thời.

13

Chỉ có như vậy mới không gây ra tình trạng kinh tế đình trệ ở mức độ tương đối thấp,
mới có thể đạt được sự thích ứng mới giữa các ngành sản xuất công nghiệp. Nói cách
khác, muốn tăng trưởng cân đối phải thông qua việc thực hiện không cân đối, còn tăng
trưởng không cân đối chẳng qua là cái giá cần thiết phải trả cho việc thực hiện cơ cấu
công nghiệp mới.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, nhiều
định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh nên các điều kiện của thị
trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta
đang ở trình độ rất thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp…

trong xã hội. Vốn không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế với tư cách là
đầu vào của sản xuất (đóng góp về mặt lượng) mà còn đóng góp một cách gián tiếp
thông qua việc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật do đầu tư mới mang lại, do lợi thế kinh tế nhờ
quy mô lớn, tức một số ngành việc đầu tư mở rộng quy mô sẽ làm giảm chi phí sản
xuất do chuyên môn hoá … đây là những đóng góp về chất của đầu tư, tức là hiệu quả
của nền kinh tế đã được nâng cao.
1.4. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây có nhiều đề tài của các tác giả đi vào nghiên cứu về
lĩnh vực đầu tư công, tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch ở các góc độ khác
nhau, như:
* Đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Hậu Giang” của tác
giả Hồ Ngọc Tú Anh, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, năm 2009. Đề tài này
nghiên cứu chủ yếu về công tác quản lý nhà nước về du lịch nói chung và quản lý nhà
nước về du lịch tại tỉnh Hậu Giang nói riêng, là tài liệu tham khảo phong phú khi tác
giả nghiên cứu các giải pháp để phát triển du lịch tỉnh Hậu Giang trong đó có giải pháp
quản lý nhà nước về du lịch.
* Đề tài “Hiệu quả quản lý đầu tư công tại thành phố Hồ Chí Minh: vấn đề
và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hoàng Anh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2008. Đề
tài này nghiên cứu chủ yếu về quản lý đầu tư công tại thành phố Hồ Chí Minh và kết
quả là hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan thành phố Hồ Chí Minh chưa cao,
tác giả tham khảo đề tài này làm phong phú thêm cho luận văn nhất là về đầu tư công.
* Đề tài “Tác động Đầu tư công đến tăng trưởng của Tỉnh Long An” của tác giả
Ngô Lý Hóa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, năm 2007. Đề tài này nghiên cứu chủ yếu về tác
động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Long An và chọn mô hình
Harrod – Domar làm mô hình nghiên cứu

kết quả là có mối tương quan tỷ lệ thuận
giữa đầu tư với tăng trưởng kinh tế, có kết luận rằng: “Tổng vốn đầu tư xã hội có
tương quan đến tăng trưởng GDP của tỉnh Long An”.
Các bài viết, tạp chí chuyên về du lịch có liên quan đến tăng trưởng ngành du

Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó. Chúng ta cũng thấy ý tưởng này
trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện
tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi
không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành
hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể được hiểu là:

Trích đoạn Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch Hệ thống dịch vụ xã hội Thực trạng đầu tư công tại tỉnh Hậu Giang từ 2005–2012 Đánh giá ngành du lịch tỉnh Hậu Giang: Kết quả nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status