Tác động Đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Tỉnh Đăk Nông - Pdf 12

1

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 5
HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 5
I. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG 6
1) Lý thuyết cơ bản về đầu tư công 6
1.1) Một số khái niệm: 6
1.2) Các lý thuyết về đầu tư công: 7
1.2.1) Quan điểm trường phái Tân cổ điển: 8
1.2.2) Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước: 8
1.2.3) Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối 9
2) Lý thuyết cơ bản về tăng trưởng kinh tế 10
2.1) Các khái niệm: 10
2.2) Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế: 11
2.2.1) Lý thuyết tăng trưởng cổ điển 12
2.2.2) Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển 13
2.2.3) Lý thuyết tăng trưởng hiện đại 15
3) Mối tương quan giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế 15
3.1) Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế 15
3.2) Đầu tư phát triển tác động đến tăng trưởng kinh tế 18
Ưu, nhược điểm của hệ số ICOR 19
2

4) Đặc điểm của đầu tư công và vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển


2.
Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công tại tỉnh Đăk Nông 44
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52 4

LỜI MỞ ĐẦU

 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đắk Nông là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây
Nguyên. Đăk Nông có 130km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Mondulkiri, có 02 cửa
khẩu Bu Prăng và Dak Peur nối thông với Mondulkiri, Kratie, Kandal, Pnom Penh, Siem
Reap, v.v. của nước bạn Campuchia. Đây là tỉnh mới được tái thành lập, chia tách từ tỉnh
Đăk Lăk từ ngày 01/01/2004, có trình độ dân trí thấp so với mặt bằng chung của cả nước.
Hiện nay, Đăk Nông có 29 dân tộc cùng sinh sống như: Kinh, M’Nông, Mạ, Êđê, Nùng,
Tày, H’Mông …trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh.
Bên cạnh đó, Đăk Nông lại có vị trí địa lý quan trọng cả về phát triển kinh tế lẫn
an ninh quốc phòng, Đắk Nông có tiềm năng mở rộng giao lưu với các tỉnh trong khu vực
Tây Nguyên; vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Duyên hải miền Trung và nước bạn
Campuchia. Đây là điều kiện thuận lợi để Đăk Nông thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,
và trong tương lai sẽ trở thành trung tâm phát triển kinh tế năng động của khu vực Tây
Nguyên.
Với điều kiện thuận lợi sẵn có thì vai trò của đầu tư công trên địa bàn Tỉnh là một
yếu tố rất quan trọng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Để tìm hiểu sự tác động của đầu
tư công với tăng trưởng kinh tế của Tỉnh trong thời gian qua, nhóm em đã lựa chọn đề tài:
“Tác động Đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Tỉnh Đăk Nông”

nguyên.
— Phân tích sâu thêm vai trò của các loại hình đầu tư khác như: đầu tư trực tiếp nước
ngoài (FDI), đầu tư khu vực tư nhân.

 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
— Đề tài chỉ nghiên cứu ở một địa phương mới được thành lập từ năm 2004 nên số
liệu còn khá hạn chế. 6

I. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG
1) Lý thuyết cơ bản về đầu tư công
1.1) Một số khái niệm:
_ Đầu tư: Đầu tư là phần sản lượng được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản
xuất tương lai của nền kinh tế (Sach – Larrain 1993). Sản lượng ở đây có thể do nền kinh
tế tự sản xuất hay là do nhập khẩu từ bên ngoài, có thể là các sản phẩm hữu hình như máy
móc, thiết bị,… hay là các sản phẩm vô hình như bằng phát minh, sang chế,…
Đầu tư cũng có thể hiểu là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra
để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi cuộc đầu tư là đạt được các kết
quả lớn hơn những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành
đầu tư.
_ Nguồn vốn đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hóa
thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. _ Đối tượng đầu tư
Nguồn

7

Trong một nền kinh tế, tư bản tồn tại dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng có nhiều loại
đầu tư.

Xét trên tổng thể nền kinh tế thì có một dạng đầu tư vào các tài sản cố định rất
quan trọng, đó là đầu tư vào cơ sở hạ tầng, phần lớn lượng đầu tư vào cơ sở hạ tầng
do nhà nước đảm nhận. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư
nhân và khu vực nước ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng
các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT, BTO, BT, ). Đặc điểm của đầu tư vào các
loại hàng hoá công là nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên thường do nhà nước đảm
trách. Tuy nhiên, đầu tư vào kết cấu hạ tầng có tác động thúc đẩy đầu tư của các
thành phần kinh tế khác phát triển.
1.2) Các lý thuyết về đầu tư công:
Ba loại đầu tư chính
Đầu tư vào tài sản cố
định
_ Đầu tư vào nhà
xưởng, máy móc, thiết
bị, phương tiện vận
tải,…  đầu tư nâng
cao năng lực sản xuất.
_ Khả năng đạt được
tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao hay thấp phụ
thuộc nhiều vào đầu tư
loại này.
Đầu tư vào tài sản lưu
động
_ Tài sản lưu động là
1.2.1) Quan điểm trường phái Tân cổ điển:
Quan điểm của trường phái này cho rằng nhà nước không nên can thiệp
vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động, … mà sự vận
động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng định là
một trong các ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự
động hay qua bàn tay vô hình của thị trường. Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn
lực trong các hình thức đó - phân bổ vốn trong nền kinh tế.
Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm
đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và
như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh
nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt
nhất cho chính doanh nghiệp. Vai trò của nhà nước trong trường hợp này chỉ dừng lại
ở mức là cung cấp các hàng hoá công cộng cần thiết cho nền kinh tế như kết cấu hạ
tầng kỹ thuật và kết cấu hạ tầng xã hội mà nếu để thị trường tự vận động thì không
thể đáp ứng được. Giả định của trường phái Tân cổ điển là thị trường cạnh tranh
hoàn hảo. Đây là thị trường mà người bán và người mua không có khả năng kiểm
soát giá và họ có đầy đủ thông tin về thị trường không những trong hiện tại mà cả
ở tương lai.
1.2.2) Quan điểm ủng hộ sự can thiệp của nhà nước:
Các lý thuyết về
đầu tư công
Quan điểm trường
phái Tân cổ điển
Quan điểm ủng hộ sự
can thiệp của nhà
nước
Quan điểm về sự phát
triển cân đối hay

Hirchman (1958) đưa ra một mô hình trái ngược với thuyết tăng trưởng cân đối,
ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu tạo ra động lực cho nhiều dự án mới.
Theo đó, cách tiếp cận này yêu cầu phần lớn vốn đầu tư được phân phối bởi nhà
nước cho những ngành công nghiệp trọng điểm, nhằm tạo ra những cơ hội ở
những ngành khác trong nền kinh tế, từ đó khuyến khích làn sóng đầu tư thứ hai.
Những ngành được chọn ra để đầu tư nên được đánh giá theo mối liên hệ giữa ngành
10

đó với các ngành liên quan theo “chuỗi giá trị”, điều này nói đến khả năng tạo ra
những ngành mới làm đầu ra hay cung cấp đầu vào cho những ngành được chọn để đầu
tư.
Hirchman chấp nhận có sự can thiệp của nhà nước nhưng ông cho rằng ý tưởng
“cú huých” là không khả thi mà thay vào đó, sự phát triển tốt nhất là được tạo ra từ
những mất cân đối như thế. Do nguồn vốn có hạn, chính phủ không thể bảo đảm đầu
tư một cách rải đều cho tất cả các ngành khác để đảm bảo phát triển ngành này cũng là
tạo điều kiện để ngành khác phát triển.
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế chuyển đổi, nhiều
định chế của cơ chế thị trường chưa hình thành hoàn chỉnh nên các điều kiện của thị
trường cạnh tranh hoàn hảo chưa thể đáp ứng được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta
đang ở trình độ rất thấp, chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trình độ cư dân thấp,
… đòi hỏi phải có vai trò chủ động của nhà nước trong việc định hướng phát triển
các ngành kinh tế, nhà nước phải tạo những tiền đề nhất định như hạ tầng kỹ thuật,
nguồn nhân lực, … để thúc đẩy phát triển kinh tế.
2) Lý thuyết cơ bản về tăng trưởng kinh tế
2.1) Các khái niệm:
 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ
cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
 Tăng trưởng kinh tế

Theo Adam Smith: lao động là nguồn gốc tạo ra của cải cho đất nước chứ
không phải đất đai và tiền bạc. Ông cho rằng: “mọi cá nhân không có ý định thúc đẩy
lợi ích công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích của riêng mình, và ở đây cũng như trong
nhiều trường hợp khác, người đó được một bàn tay vô hình dẫn dắt để phục vụ một
mục đích không nằm trong ý định của mình”.
 Lý thuyết tăng trưởng của David Ricardo (1772-1823)
Theo Ricardo: Nông nghiệp là ngành quan trọng nhất, do đó các yếu tố cơ bản
của tăng trưởng là đất đai, lao động và vốn. Đất đai là giới hạn của tăng trưởng:
Tăng trưởng là kết quả của tích lũy, tích lũy là hàm của lợi nhuận, lợi nhuận phụ
Các lý thuyết về
tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết tăng
trưởng truyền
thống (cổ điển)
Lý thuyết tăng
trưởng của Adam
Smith (1723-1790)
Lý thuyết tăng
trưởng của David
Ricardo (1772-1823)
Lý thuyết tăng
trưởng của Karl
Marx (1818-1883)
Mô hình tăng
trưởng Tân cổ điển
Mô hình J. Maynard
Keynes (1883-1946)
Mô hình Harrod –
Domar
Lý thuyết tăng

Muốn thoát khủng hoảng và thất nghiệp thì nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng
các chính sách kinh tế, bằng cách tăng cầu tiêu dùng. Sử dụng ngân sách nhà nước để
kích thích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn cho các
14

doanh nghiệp. Nhà nước cần tăng khối lượng tiền tệ để giảm lãi suất, phát triển hệ
thống thuế để bổ sung ngân sách, xem đầu tư công cộng của chính phủ là lực đẩy.
 Mô hình Harrod - Domar
Hàm sản xuất đơn giản nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng trong phân tích về
phát triển kinh tế của Roy Harrod (Anh) và Evsay Domar (Mỹ) cùng đưa ra để giải
thích cho mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về tư bản ở các nước đang
phát triển.
Mô hình này cơ bản cho là đầu ra của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào, dù là một
công ty, một ngành công nghiệp hay toàn bộ nền kinh tế, sẽ phụ thuộc vào tổng số tư
bản đầu tư cho đơn vị đó.
Mô hình đó là :
g = s/k
Trong đó :
g : tỷ lệ tăng trưởng đầu ra
s : tỷ lệ tiết kiệm
k: tỷ số gia tăng giữa tư bản và đầu ra – ICOR

Mô hình này cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP tỷ lệ thuận với tỷ lệ tiết kiệm và
tỷ lệ nghịch với ICOR. Trở ngại của các nước đang phát triển là khả năng huy động
vốn do thu nhập thấp nên tỷ lệ tiết kiệm (s) thấp, và vấn đề tiếp theo sau đó là hiệu
quả đầu tư. Vì vậy mô hình này cũng yêu cầu chính phủ cần phải can thiệp để thúc
đẩy tiết kiệm cho đầu tư và đầu tư sao cho có hiệu quả.
Có thể thấy rằng các mô hình tăng trưởng trong giai đoạn này đều đề cao tác
động của yếu tố vốn, và vai trò của Chính phủ là vô cùng quan trọng cho tăng trưởng
bền vững.

G là chi tiêu của nhà nước;
X là xuất khẩu và M là nhập khẩu.
Từ đẳng thức (1) ta thấy rằng khi đầu tư I tăng lên thì trực tiếp làm cho thu nhập
quốc dân Y tăng lên.
Theo lý thuyết Keynes thì khi đầu tư tăng lên một đơn vị thì làm cho Y tăng hơn
một đơn vị.
Thật vậy, khi thay thế C = a + b.Y và M = u + v.Y là hàm tiêu dùng và hàm
nhập khẩu biểu diễn theo Y thì đẳng thức (1) có dạng:
Y = a + b.Y + I + G + X - u - v.Y
Chuyển vế, ta có:
Y = (a + I + G + X - u) / (1 - b + v) (2)
Vì b là hệ số thiên hướng tiêu dùng biên, bao gồm tiêu dùng trong nước và
tiêu dùng nhập khẩu, v là hệ số thiên hướng tiêu dùng nhập khẩu. Do đó (b - v) sẽ lớn
hơn 0 và (1- b + v) sẽ nhỏ hơn 1, tức là 1/ (1 – b + v) sẽ lớn hơn 1.
Từ đẳng thức (2) cho thấy: với các điều kiện khác không đổi thì khi đầu tư (I)
gia tăng một đơn vị thì thu nhập (Y) sẽ gia tăng hơn một đơn vị, ảnh hưởng này gọi
là ảnh hưởng hệ số nhân.
Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn tùy thuộc vào năng lực cung
của nền kinh tế. Nếu năng lực cung mà hạn chế thì việc gia tăng tổng cầu, dù với
bất cứ lý do nào, chủ yếu chỉ làm tăng giá cả mà thôi, còn sản lượng thực tế thì
không tăng lên bao nhiêu.
Ngược lại, nếu năng lực cung mà dồi dào thì việc gia tăng tổng cầu thật sự làm
tăng sản lượng như lý thuyết Keynes đã đưa ra ở trên. Năng lực cung của nền kinh tế
biểu hiện ở độ dốc của đường cung.
Ảnh hưởng khác của đầu tư lên tăng trưởng kinh tế thông qua tổng cung thể
hiện ở chỗ: Tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và
cung từ nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố
17

sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên, công nghệ, thể hiện qua phương trình sau:

Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng
tăng trưởng. Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố
rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp,
tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, nâng cao sức
cạnh tranh của nền kinh tế, , do đó, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế
thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR.
Hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio – Hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư) là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất
đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng GDP tăng thêm. Vì vậy, hệ số này
phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế. Hệ số
ICOR thay đổi tùy theo thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ khác nhau, phụ
thuộc vào cơ cấu đầu tư và hiệu quả sử dụng các sản phẩm vật chất và dịch vụ trong
nền kinh tế.
Hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao, hệ số ICOR thấp hơn có
nghĩa là để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng kinh tế cần một tỉ lệ vốn đầu tư so
với tổng sản phẩm trong nước thấp hơn. Tuy nhiên, theo quy luật về lợi tức biên
giảm dần thì khi nền kinh tế càng phát triển (GDP bình quân đầu người tăng lên) thì
hệ số ICOR sẽ tăng lên, tức là để duy trì cùng một tốc độ tăng trưởng cần một tỉ lệ
vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước cao hơn.
ICOR của mỗi nước

phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát
triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Ở các nước phát triển, ICOR thường
lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho
lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao. Ở các nước chậm phát triển,
ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao
động để thay thế cho vốn, do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ. Thông thường
ICOR trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp, và ICOR luôn có xu hướng tăng
lên.


Tại sao Chính phủ phải cung cấp hàng hoá công? Nguyên nhân là có sự thất bại
của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hoá công, tính không hiệu quả do khu vực
tư cung cấp hàng hoá công và làm giảm phúc lợi xã hội. Sự phát triển của xã hội
trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại đã cho thấy chi tiêu công hoàn toàn không
mất đi mà trái lại nó tạo ra sự tái phân phối giữa các khu vực trong nền kinh tế.
Chính phủ đóng vai trò là một trung tâm của quá trình tái phân phối thu nhập thông
qua các khoản chi tiêu công. Với ý nghĩa đó, đầu tư công đóng vai trò rất quan trọng
trong giai đoạn nền kinh tế đang có những bước chuyển đổi nhằm sử dụng các nguồn
vốn đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới, đầu tư công chuyển mạnh
sang đầu tư cho phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, cho sự
nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo.
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư công để
tạo những bước đột phá phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều
thành phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nước ngoài cũng tham gia
đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp (ví dụ như BOT,
BTO, BT, ).
21 Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lĩnh vực: chi xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh
nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước; chi dự trữ nhà nước. Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là
khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn
trả. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố
và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các
công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triển
văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng.
Đặc điểm của

công nghiệp hóa, quy
mô chi đầu tư công
của ngân sách nhà
nước chiếm tỷ lệ khá
lớn so với tổng đầu tư
xã hội và sẽ giảm dần
theo mức độ thành
công của chiến lược
công nghiệp hoá và
mức độ phát triển của
khu vực kinh tế tư
nhân.
Chi đầu tư công phải gắn
chặt chi thường xuyên
nhằm nâng cao hiệu quả
vốn đầu tư
Sự phối hợp không
đồng bộ giữa chi đầu
tư với chi thường
xuyên sẽ dẫn đến tình
trạng thiếu kinh phí để
duy tu, sửa chữa, bảo
dưỡng cơ sở hạ tầng.
Điều này sẽ làm giảm
hiệu quả khai thác và
sử dụng tài sản đầu tư.
Sự gắn kết giữa 2
nhóm chỉ tiêu này sẽ
khắc phục tình trạng
đầu tư tràn lan, không

đồng bộ với chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống
của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến
23

trình CNH-HĐH đất nước. Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số
ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình
thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con
người cả về thể chất lẫn tinh thần.
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai
trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia cũng
như vùng lãnh thổ. Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế mới có điều
kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững. Có rất nhiều công trình nghiên cứu
đã đi đến kết luận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát
triển kinh tế-xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển. Trình độ phát triển
của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động
tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói giảm nghèo.
Tóm lại, đầu tư công mà đặc biệt là đầu tư kết cấu hạ tầng đóng vai trò đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của một quốc gia, tạo động lực cho sự
phát triển. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả của nền kinh tế và góp phần giải quyết
các vấn đề xã hội. Ngược lại, một hệ thống kết cấu hạ tầng kém phát triển là một trở
lực lớn đối với sự phát triển.

II. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK-NÔNG GIAI ĐOẠN 2005 -2010.
1) Thực trạng đầu tư công trên địa bàn tỉnh Đăk Nông giai đoạn 2005 -2010.
1.1) Khái quát tình hình phát triển kinh tế - xã hội Tỉnh Đăk Nông giai
đoạn 2005 - 2010
1.1.1) Vị trí địa lý
Đắk Nông là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên, nằm ở phía Tây Nam của vùng Tây

triển kinh tế năng động của khu vực Tây Nguyên.
1.1.2) Tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Tốc độ tăng trưởng của tỉnh thuộc loại khá cao so với các tỉnh trong khu vực Tây
Nguyên và cả nước; bình quân 5 năm 2006-2010, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 15,19%.
Tuy không đạt mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đề ra, nhưng tốc độ
tăng bình quân cao hơn nhiều so với kế hoạch 5 năm trước (giai đoạn 2001-2005 đạt
9,3%), đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều địa phương có mức tăng
25

trưởng thấp mà kinh tế tỉnh ta duy trì được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một
thành công lớn. Năm 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế đã phục hồi, vượt qua thời kỳ suy
giảm tốc độ tăng trưởng, chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế
trong thời gian vừa qua phù hợp với tình hình thực tế, đã và đang phát huy hiệu quả.
Trong đó khu vực nông, lâm, thuỷ sản tăng 7,53% ; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng
39,21% ; khu vực dịch vụ tăng 17,57% . Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 tương
đương 15,18 triệu đồng , tăng gấp 2 lần so với năm 2005. Quy mô nền kinh tế (GDP tính
theo giá so sánh) năm 2010 tăng gấp 2 lần so với năm 2005; cơ cấu kinh tế tiếp tục
chuyển dịch theo đúng định hướng; tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
tăng; ngành nông, lâm nghiệp giảm. Tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp giảm từ 59,59%
năm 2005 xuống còn 52,67% năm 2010; tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ
17,87% năm 2005 lên 25,14% năm 2010; tỷ trọng ngành dịch vụ năm 2010 là 22,19%.
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế tỉnh Đăk Nông có sự dịch chuyển đúng định hướng, tỷ trọng
các ngành phi nông nghiệp tăng lên, bước đầu tạo ra sự thay đổi cơ cấu kinh tế, hình
thành được một số ngành quan trọng, tạo động lực cho phát triển, có ý nghĩa lớn trong
việc huy động tiềm năng của các thành phần kinh tế như chế biến nông, lâm sản, thuỷ
điện, khai khoáng và và luyện alumin.
Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế tỉnh Đăk Nông

Về cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế, đang chuyển dịch theo hướng sắp xếp
lại và đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước; phát huy tiềm năng của khu vực kinh tế ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status