nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn tinh thô đến một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của nghé giai đoạn 6-12 tháng tuổi - Pdf 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN VĂN HẢI NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG
CỦA THỨC ĂN TINH THÔ ĐẾN MỘT SỐ
CHỈ TIÊU KINH TẾ KỸ THUẬT CỦA NGHÉ
GIAI ĐOẠN 6 - 12 THÁNG TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. TRẦN VĂN THĂNG
2. TS. MAI ANH KHOA

THÁI NGUYÊN - 2014Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM Đ
O
AN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡ để
tác giả hoàn thành luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong
luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả Nguyễn Văn Hải Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM Đ
O
AN i
LỜI CẢM
Ơ
N ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT
T

T
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Tình hình chăn nuôi
trâu trên thế giới và
Việt N
a
m
3
1.1.1. Tình hình chăn nuôi trâu trên thế giới 3

u
11
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của t
r
â
u
17
1.3. Khả năng sản xuất thịt và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất thịt
của
t
r
â
u
21
1.3.1. Khả năng sản xuất t
h
ịt 21
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sản xuất thịt của t
r
â
u
22
1.4. Tình hình nghiên cứu
trong
và ngoài


c 27
1.4.1. Tình hình nghiên cứu trong


3.2.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ thức ăn tinh thô trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa
một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần 52
3.2.3. Ảnh hưởng của tỷ lệ thức ăn tinh thô trong khẩu phần đến khả năng tăng
khối lượng nghé 53
3.2.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ thức ăn tinh thô trong khẩu phần đến hiệu quả sử
dụng thức ăn của nghé 55
3.2.5. Ảnh hưởng của tỉ lệ thức ăn tinh thô đến hiệu quả kinh tế của từng
khẩu phần 56

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

v
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1. Kết luận 58
2. Tồn tại 58
3. Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 66

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT
T

T


Bảng 1.2: Số lượng đàn trâu của Việt Nam trong những năm gần đây 4
Bảng 1.3: Số lượng và sản lượng trâu của tỉnh Thái Nguyên trong những năm
gần đây 6
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31
Bảng 2.2: Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn dùng
trong thí nghiệm 32
Bảng 3.1: Sinh trưởng tích luỹ của nghé nuôi thí nghiệm 36
Bảng 3.2: Sinh trưởng tuyệt đối của nghé nuôi thí nghiệm 39
Bảng 3.3: Sinh trưởng tương đối của nghé nuôi thí nghiệm 42
Bảng 3.4: Kích thước một số chiều đo của nghé qua các giai đoạn tuổi 44
Bảng 3.5: Tăng khối lượng và kích thước một số chiều đo của nghé trong 6
tháng thí nghiệm 46
Bảng 3.6: Một số chỉ số cấu tạo thể hình của nghé qua các tháng tuổi 48
Bảng 3.7: Khả năng thu nhận thức ăn của nghé thí nghiệm/ngày 50
Bảng 3.8: Tỷ lệ tiêu hóa một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần 52
Bảng 3.9: Tăng khối lượng của nghé trong thời gian thí nghiệm 54
Bảng 3.10: Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của nghé thí nghiệm 55
Bảng 3.11: Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng 57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

viii
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ sinh trưởng tích luỹ của nghé nuôi thí nghiệm 38
Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của nghé nuôi thí nghiệm 41
Hình 3.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của nghé nuôi thí nghiệm 43


dân nông thôn Việt Nam cũng như nhiều nước khác.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Phương thức chăn nuôi trâu của dân ta là quảng canh, thức ăn cho trâu chủ
yếu là cỏ tự nhiên và các phụ phẩm nông nghiệp, các loại thức ăn trên có hàm lượng
xơ cao. Trâu được nuôi dưỡng chủ yếu là chăn thả tự do, thức ăn bổ sung ít được
chú ý đến, đặc biệt đối với nghé ở giai đoạn sau cai sữa (6 đến 12 tháng tuổi) nguồn
dinh dưỡng từ sữa mẹ đã bị cắt giảm nghé phải tự kiếm ăn, do vậy thường không
đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng, dẫn đến nghé còi cọc, chậm lớn, khả năng sản
xuất thấp. Ở giai đoạn này bộ máy tiêu hóa của nghé chưa phát triển đầy đủ, đặc
biệt dạ cỏ còn bé, bổ sung thêm thức ăn tinh cho nghé là một vấn đề cần thiết để cân
đối tỷ lệ protein/năng lượng, tạo điều kiện cho hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ,
giúp cho quá trình lên men và phân giải các chất trong dạ cỏ được tốt hơn.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
thức ăn tinh thô đến một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của nghé giai đoạn 6 - 12
tháng tuổi”.
2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được ảnh hưởng của tỷ lệ tinh thô trong khẩu phần đến tăng khối
lượng và khả năng sử dụng thức ăn của nghé giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài đã góp phần tư liệu hoá các chỉ tiêu về sinh trưởng phát dục của nghé
giai đoạn 6 đến 12 tháng tuổi.
Đưa ra được tỷ lệ thức ăn tinh thô thích hợp trong khẩu phần nuôi nghé giai
đoạn từ 6-12 tháng tuổi.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Các kết quả của đề tài luận văn có giá trị như tài liệu khoa học để tham khảo
cho giảng viên và sinh viên thuộc các ngành học liên quan và cho các nhà nghiên

Năm 2012
Năm 2013
1
Toàn thế giới
Trâu
187.062.971
190.091.064
192.702.623
195.252.570
198.091.615
199.783.549
2
Châu Phi
Trâu
4.052.674
3.838.746
3.818.261
3.983.192
4.164.953
4.200.025
3
Châu Á
Trâu
181.524.114
184.741.743
187.302.423
189.604.986
192.284.973
193.872.111
4

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp đàn trâu của nước ta đã có
nhiều biến đổi.
Bảng 1.2: Số lƣợng đàn trâu của Việt Nam trong những năm gần đây
Năm
Vật nuôi
Tổng số (con)
Tỷ lệ tăng (năm sau so
với năm trƣớc %)
2008
Trâu
2.897.700
96,7
2009
Trâu
2.886.600
99,6
2010
Trâu
2.877.000
99,6
2011
Trâu
2.712.000
94,2
2012
Trâu
2.627.813
96,8
2013
Trâu

Nông Lâm, Đại học Công nghiệp, Đại học Y dược, Đại học Sư phạm, Đại học Kinh
tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Khoa học đặc biệt còn có Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển Chăn nuôi Miền núi cũng đặt tại đây.
Chăn nuôi đại gia súc nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng đã trở thành
nghề khá phổ biến của người dân Thái Nguyên. Tuy nhiên, từ trước đến nay bà con
nông dân chủ yếu chăn nuôi trâu với mục đích để lấy sức kéo và cung cấp phân bón
cho sản xuất nông nghiệp. Phương thức chăn nuôi trâu chủ yếu là chăn thả tự nhiên.
Do chăn thả tự do, môi trường chăn nuôi không đảm bảo, không có sự cách ly giữa
các đàn gia súc nên dễ lây lan dịch bệnh, đặc biệt là diện tích đồi bãi chăn thả ngày
càng thu hẹp gây ảnh hưởng lớn đến việc chăn nuôi trâu.
Nhu cầu dùng sức kéo của trâu trong sản xuất nông nghiệp giảm mà giá trâu
hơi lại thấp; chưa có quy hoạch cụ thể cho việc trồng cỏ nên trâu thường thiếu thức
ăn vào vụ Đông Xuân, bên cạnh đó người chăn nuôi còn thiếu hiểu biết về kỹ thuật
trồng cỏ cũng như các kỹ thuật chế biến các phế phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn
cho gia súc nhai lại nên số lượng đàn trâu hiện nay có xu thế giảm.
Một số dịch bệnh truyền nhiễm như bệnh Lở mồm long móng, Tụ huyết
trùng trâu bò chưa được kiểm soát chặt chẽ nên đã ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi
trâu trên cả nước nói chung và của tỉnh miền núi nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Bảng 1.3: Số lƣợng và sản lƣợng trâu của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây
TT
Tên huyện
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012

(con)
Sản
lượng
thịt
(tấn)
Số lượng
trâu
(con)
Sản
lượng
thịt
(tấn)
1
TP Thái Nguyên
7.276
98
6.532
187
5.805
187
5.236
181
4.675
194
4.056
203
2
TX Sông Công
5.346
61

8.653
436
6.182
402
5.688
414
5.784
409
5
Phú Lương
10.976
168
7.992
496
7.059
481
6.968
453
6.102
458
6.341
445
6
Đồng Hỷ
13.017
192
12.377
151
11.659
149

12.472
178
11.883
192
9
Phổ Yên
13.547
203
13.364
318
14.137
335
13.785
331
12.508
360
12.158
383
Tổng số
106.880
1.679
96.728
3.007
93.481
2.997
73.859
2.985
70.578
3.134
69.902

2013-2020 đã xác định phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, trang trại, sản
xuất hàng hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Việc quy hoạch sẽ được tính toán
lâu dài, ổn định đất đai để phục vụ chăn nuôi đến tận huyện, xã; chuyển đổi diện
tích đất canh tác kém hiệu quả nhất là tại các vùng trung du, gò, đồi sang phát triển
chăn nuôi trang trại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
Mục tiêu cụ thể của đề án chăn nuôi xác định tổng đàn trâu của Thái Nguyên
sẽ là 70.000 con vào năm 2015. Như vậy, tổng đàn gần như không thay đổi so với
hiện nay. Ông Hoàng Văn Dũng, PGĐ Sở NN-PTNT tỉnh Thái Nguyên khẳng định,
tổng đàn có thể không tăng, thậm chí còn giảm song cốt lõi là hiệu quả sản xuất, giá
trị sản lượng, tỷ lệ cơ cấu trong nội ngành phải tăng.
Theo đó, tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục việc bình tuyển, nâng cao tầm vóc của
đàn trâu, lai cải tạo đàn giống tốt của địa phương với những giống cao sản, chất lượng
tốt như trâu Murrahi. Song song với chương trình đó là các giải pháp về thú y, môi
trường, quản lý Nhà nước cũng như giải pháp về thị trường, tiêu thụ sản phẩm.
1.1.4. Phương thức chăn nuôi
t
r
â
u

Chăn nuôi trâu hiện nay vẫn theo phương thức truyền thống, quảng canh, tận
dụng nuôi trâu để lấy sức kéo và phân bón. Chăn nuôi trâu của nước ta chủ yếu theo
các quy mô sau:
Chăn nuôi nông hộ, phân tán các vùng đồng bằng chiếm 90%. Sử dụng thức
ăn tận dụng (cỏ tự nhiên trên bờ đê, bờ ruộng, rơm rạ và một số vùng có sử dụng
thức ăn ủ xanh, ủ urê ) và lao động phụ trong gia đình.

điều tra của Viện Chăn nuôi, ở thị trường Hà Nội thịt trâu chiếm 52,4% trong tổng
số thịt trâu, bò và 26,6% ở Thái Nguyên. Hàng năm có hàng vạn con trâu to được
đưa từ vùng núi về miền xuôi để bán thịt hoặc xuất khẩu. Như vậy, nhu cầu thịt trâu
và thị trường tiêu thụ thịt trâu trong tương lai còn rất lớn và mô hình chăn nuôi trâu
thịt áp dụng những kỹ thuật thích hợp nhằm đẩy mạnh chăn nuôi trâu thịt thành một
ngành chăn nuôi đúng vị trí phát huy tiềm năng vốn có của nó.
1.1.6. Công tác giống
t
r
â
u

Các giống trâu hiện có trên thế giới được hình thành trải qua hàng ngàn năm
trong những điều kiện tự nhiên và kinh tế nhất định và gần như chúng được chọn
lọc một cách tự phát, ngẫu nhiên hơn là theo những hướng tạo giống. Xuất phát từ
quan niệm của con người về mục đích sử dụng trâu chủ yếu cho cày kéo nên ít
người quan tâm đến việc cải tiến nâng cao khả năng sản xuất của chúng. Dần dần
trong quá trình sử dụng, trâu đã góp phần vào việc cung cấp cho con người một
lượng sữa và thịt ngày càng nhiều nên người ta mới thay đổi nhận thức về vai trò
của chúng. Trong mấy thập kỷ gần đây, công tác giống trâu đã bắt đầu được tiến
hành với việc cải tiến di truyền nâng cao khả năng sản xuất của chúng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Chọn lọc nhân thuần là công việc cần thiết và thường xuyên của công tác
giống nhằm nâng cao khả năng sản xuất của vật nuôi thông qua tiến bộ di truyền
trong quần thể. Chọn lọc nhân thuần bao gồm chọn trâu đực giống, cái giống, kiểm
tra năng suất cá thể, kiểm tra qua đời sau, xây dựng đàn hạt nhân.v.v Một số quốc
gia đã tiến hành nghiên cứu thành công và áp dụng trong sản xuất các mô hình này

t
r
â
u

1.2.1. Đặc điểm sinh trưởng của
t
r
â
u

1.2.1.1. Khái niệm về sinh t
r
ưởng
Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ
phận hay của toàn cơ thể con vật (Đặng Vũ Bình, 2007) [3]. Thực chất của sinh trưởng
chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi. Sinh trưởng
là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều
dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính
di truyền có từ đời trước (Nguyễn Đức Hưng và cs., 2009) [9].
Quá trình sinh trưởng gắn liền với quá trình phát triển của cơ thể đó là sự
hình thành các tổ chức, bộ phận mới và sự hoàn thiện tính chất và chức năng của
các bộ phận và trong cơ thể cả về hình thái và chức năng trên cơ sở tính di truyền.
1.2.1.2. Các quy luật của quá trình sinh t
r
ưởng
Nghiên cứu quy luật sinh trưởng của gia súc, các tác giả Medendoocphơ
(1867), Kislopski (1930), Hammond (1937), Pơsennitxmơi (1964) (trích dẫn theo
Trần Đình Miên và cs., 1992) [12] đều cho rằng sự phát triển của cơ thể trong các
giai đoạn và các thời kì đó tuân theo thủ theo các quy luật, đó là:

trưởng, phát dục của nó. Thời gian dài ngắn của mỗi giai đoạn khác nhau tùy thuộc
loài, giống gia súc. Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là phương thức
hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể. Ta có thể chia giai đoạn này
thành các thời kỳ: thời kỳ bú sữa; thời kỳ thành thục; thời kỳ trưởng thành và thời
kỳ già cỗi, hoặc có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ bú mẹ và thời kỳ sau cai sữa.
+ Thời kỳ bú mẹ: Sự tăng trưởng của cơ thể gia súc non rất mãnh liệt, nhiều
cơ quan bộ phận trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện (cơ quan điều hòa thân
nhiệt, cơ quan tiêu hóa ), nguồn dinh dưỡng cung cấp cho gia súc non hoàn toàn
phụ thuộc vào khả năng cho sữa của mẹ. Thời kỳ này gia súc có tốc độ tăng khối
lượng cao nhất, nếu nuôi dưỡng tốt chúng có thể đạt 1.000 g/ngày.
Hệ số di truyền về sinh trưởng của gia súc trong giai đoạn này thường thấp (ở
bò sữa h
2
= 0,12), Hệ số di truyền thay đổi theo từng giống. Tuổi đẻ lần đầu, khối

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
lượng sơ sinh, khả năng cho sữa và nuôi con của con mẹ, sự đồng huyết, giới tính
có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự tăng trưởng của vật non (Trần Đình Miên và cs.,
1994) [13].
+ Thời kỳ sau cai sữa: Sự tăng trưởng của con vật biểu hiện rõ nét qua kiểu
hình, hệ số di truyền tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt khá cao.
Tính giai đoạn trong sự phát triển không chỉ biểu hiện ở những đặc tính
chung như tăng sinh, tăng khối ở những đặc điểm riêng của từng thời kỳ mà còn
biểu hiện tăng tiến hoàn chỉnh dần, thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia, không
đi ngược lại.
* Quy luật sinh trưởng không đồng đều:
Quy luật này thể hiện cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng của con vật
thay đổi theo độ tuổi. Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh và chậm dần

Vì vậy, có thể nói sự phát triển của cơ thể gia súc không những chỉ tuân theo
hai quy luật: Quy luật phát triển theo giai đoạn và quy luật phát triển không đồng
đều mà còn tuân theo quy luật tính chu kỳ.
Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý của cơ thể: hoạt động của thần kinh đi
theo một nhịp độ và cường độ nhất định. Tính chu kỳ trong hoạt động của hệ thần
kinh biểu hiện ở trạng thái khi thì hưng phấn khi thì ức chế. Sự hưng phấn và ức chế
đó cũng liên quan đến quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể. Trong chăn nuôi,
việc hiểu rõ chu kỳ tính rất quan trọng, từ đó lên kế hoạch thụ tinh cho gia súc, điều
khiển được thời gian đẻ, tránh hiện tượng vô sinh cho gia súc.
1.2.1.3. Đường cong sinh t
r
ưởng
Đường cong sinh trưởng của trâu cũng như hầu hết các loại gia súc khác đều
thể hiện 2 pha rõ rệt:
- Pha tăng khối lượng cao, xảy ra từ sơ sinh đến khi trâu thành thục về tính
(khoảng 30 tháng tuổi).
- Pha tăng khối lượng thấp, xảy ra từ 30 tháng tuổi: Tỷ lệ sinh trưởng giảm
dần cho đến lúc trâu trưởng thành (khoảng 6-7 tuổi), khối lượng bắt đầu ổn định.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Le Đang Đanh và cs. (1995) [44] nghiên cứu trên 1.019 số liệu sinh trưởng
của trâu nội Việt Nam ở các lứa tuổi đã nhận xét: Trâu sau khi sinh có tốc độ tăng
trưởng khởi đầu rất cao (650 g/ngày), tăng khối lượng giảm dần xuống 300 g/ngày
khi trâu đạt 1 năm tuổi, 200 g/ngày lúc trâu đạt 2 năm tuổi và tốc độ sinh trưởng
giảm nhiều, chỉ ở mức dưới 100 g/ngày khi đạt 3 năm tuổi.
1.2.1.4. Khối lượng sơ sinh
Trâu nội Việt Nam tuy nhỏ con, song vẫn có khối lượng sơ sinh tương đối
lớn, biến động từ 16 kg đến 25 kg, tuỳ thuộc vào loại hình của giống và điều kiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status