ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG ĐỘNG VẬT RỪNG (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP) - Pdf 25

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
ĐỘNG VẬT RỪNG
(TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP)
Số tín chỉ: 02
Lý thuyết: 20 tiết
Bài tập, thảo luận: 5 tiết
Thực hành: 5 tiết
1
CHƯƠNG 1
Lớp ếch nhái và ếch nhài rừng Việt Nam
Số tiết: 3 tiết (Lý thuyết: 2 tiết; BT, TL: tiết; Thực hành: 1 tiết)
A) MỤC TIÊU:
- Kiến thức:
+ Hiểu được đặc điểm chung của lớp ếch nhái và tài nguyên ếch nhái rừng Việt Nam
+ Biết được đặc điểm, giá trị và tình trạng của một số loài ếch nhái điển hình ở Việt Nam
- Kỹ năng:
Nhận dạng và phân biệt được một số loài ếch nhái rừng điển hình ở Việt Nam
- Thái độ:
Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực tìm hiểu tài liệu, quan sát thực tế
B) NỘI DUNG:
1.1. Đặc điểm chung
- Lớp ếch nhái hay Lưỡng thê gồm các động vật có xương sống ở cạn đầu tiên nhưng còn
giữ nhiều nét tổ tiên ở nước.
- Trong sự phát triển cá thể ếch nhái đã có sự thay đổi môi trường sống. Trứng và nòng
nọc sống trong nước, sau biến thái thành con non và sống ở cạn.
- Thích nghi với đời sống cạn, ếch nhái có một số nét cấu tạo tiến bộ
- Ngoài những đặc điểm tiến bộ, ếch nhái còn giữ một số nét nguyên thủy của tổ tiên
sống dưới nước như: da trần, dễ thấm nước, trứng không có vỏ, thiếu màng dai,…
1.2. Đặc điểm giải phẫu
1.2.1. Hình dạng cơ thể ếch nhái
Ếch nhái có ba hình dạng cơ bản

1.2.6. Hệ tuần hoàn
- Tim ếch nhái có 3 ngăn (2 tâm nhĩ, 1 tâm thất) hai vòng tuần hoàn (một vòng nhỏ, một
vòng lớn).
- Máu động mạch và tĩnh mạch còn pha trộn.
- Hệ bạch huyết rất phát triển với nhiều túi huyết lớn ở dưới da, sự phát triển này liên
quan đến hô hấp qua da.
1.2.7. Hệ bài tiết: Thận là trung thận, màu đỏ nâu, nằm sát cột sống. Có hai liệu quản dẫn nước
tiểu sống huyệt, cạnh huyệt có bóng đái.
1.2.8. Hệ sinh dục
- Lưỡng thê đực có hai tinh hoàn. Trên tinh hoàn có thể mỡ vàng có chức năng nuôi tinh
hoàn, có ống dẫn tinh (chung với niệu quản).
- Lưỡng thê cái có hai buồng trứng, ống dẫn trứng riêng (không chung với ống dẫn nước
tiểu), dài, cuộn khúc, đi tới huyệt.
1.2.9. Hệ thần kinh và giác quan:
- Não ếch nhái bắt đầu có tính chất thần kinh làm thành vòm não cổ.
- Thùy khứu giác không phân biệt rõ với bán cầu não.
- Não trung gian có đỉnh và mấu não dưới.
- Não giữa có hai thùy thị giác lớn.
- Tiểu não kém phát triển. Có 10 đôi dây não.
- Cơ quan cảm giác nhìn chung kém phát triển so với chim, thú. Ếch nhái chỉ có tai giữa
và tai trong. Lưỡng thê có đuôi chỉ có tai trong. Mắt ở nong nọc không có mí và không có tuyến
mắt. Mắt trưởng thành có mí và thủy tinh thể. Điều tiết mắt bằng cách di chuyển vị trí thủy tinh
thể về phía trước do các cơ đặc biệt co lại.
1.3. Sinh thái học ếch nhái
1.3.1. Sự thích nghi với môi trường sống
- Ếch nhái là động vật biến nhiệt nên đời sống lệ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm môi trường.
- Ếch nhái không sống ở sa mạc và vùng cực nhưng rất phong phú ở vừng nhiệt đới nóng ẩm.
- Ếch nhái có môi trường sống khác nhau và gồm nhóm: Sống ở cây, đất và ở nước.
1.3.2. Thức ăn của ếch nhái
- Thức ăn là động vật như: giun, thân mềm, kiến, mối, giáp xác,…

nhái con (Đào Văn Tiến, 1964).
- Sinh sản vào mùa xuân từ tháng 2 đến tháng 4, mỗi lần đẻ 2-36 trứng
Phân bố Chỉ có ở các khe suối Tam Đảo – Vĩnh Phúc – Việt Nam
Giá trị sử dụng
Là loài đặc hữu của Việt Nam, có giá trị khoa học và thương mại, người
Dao dùng làm thuốc. Trước đây bị săn bắt mạnh, buôn bán để làm cảnh
Tình trạng
- CITES (2000): Không
- Nghị định 48 (2002): Nhóm IB – Cấm săn bắt
- IUCN (2003): Bậc UV – Sẽ nguy cấp
- Sách đỏ Việt Nam (2007): Bậc EN – Nguy cấp
1.4.2. Bộ không đuôi (Anura)
- Là bộ có đông loài nhất, gồm các loài có thân ngắn, rộng, cổ không rõ ràng.
- Chi phát triển, chi sau dài và lớn hơn chi trước.
- Không có đuôi. Trứng và nòng nọc sống trong nước, cá thể trưởng thành sống ở cạn.
Nước ta có 78 loài.
- Đại diện: Ếch vạch (Rana microlineta Bourret, 1937), Ếch đồng (Hoplobatrachus
rugulosus Wiegmann, 1835)
* Ếch vạch (Rana microlineta Bourret, 1937)
Tên khác: Ếch ang, ếch núi (Việt), Đồi (Mường)
Đặc điểm nhận
biết
- Là loài ếch lớn nhất, có cá thể dài tới 160mm
- Cơ thể to mập.
- Mắt lồi rõ, sau mí trên mắt có một số mấu nhỏ. Một nếp gấp da đi từ mắt
tới vai.
- Đùi có nhiều nếp da dọc, cẳng chân có nhiều lớn da xiên.
- Lưng có nhiều vạch xám đen pha những vệt màu vàng nhạt. Mặt dưới
đùi trắng đục.
Sinh thái và tập

suối nhỏ trên núi.
- Nòng nọc mới nở ăn tảo và vi sinh vật, lớn lên ăn các loài động vật không
xương sống. Trong điều kiện nuôi, con trưởng thành chỉ ăn giun đất
- Đẻ trứng vào mùa hè, mỗi lứa 20-30 quả, được nối với nhau bởi chất
nhày, nòng nọc phát triển ngay trong trứng. Khi nở vào trong nước mang
tiêu biến và thở bằng phổi
Phân bố
Cao Bằng, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ
Giá trị sử dụng
Là loài hiếm, đôi khi săn bắt nuôi làm cảnh.
Tình trạng
- CITES (2000): Không
- Nghị định 48 (2002): Không
- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): VU
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
1. Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy (1998), Động vật rừng, NXB Nông nghiệp
2. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996). Danh lục Bò sát và ếch nhái Việt Nam. NXB. Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội.
3. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sách đỏ Việt Nam, Tập 1 Phần Động vật. NXB Khoa
học Kỹ thuật, Hà Nội.
D. CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CỦA CHƯƠNG
*) Câu hỏi ôn tập:
1. Anh chị hãy nêu những đặc điểm thể hiện sự tiến hóa của ếch nhái so với các lớp động vật
trước đó?
2. Đặc điểm chung và đặc điểm giải phẫu của ếch nhái và cho biết những đặc điểm tiến hóa?
3. Sự phong phú của ếch nhái rừng Việt Nam? Sắp xếp một số loài ếch nhái thường gặp vào vị
trí phân loại?
4. Đặc điểm chung của bộ không đuôi và mô tả một số loài đặc trưng?
5. Đặc điểm chung của bộ có đuôi và mô tả một số loài đặc trưng?

- Kỹ năng:
Nhận dạng và phân biệt được một số bò sát rừng điển hình ở Việt Nam.
- Thái độ:
Có thái độ học tập nghiêm túc, tích cực tìm hiểu tài liệu, quan sát thực tế
B) NỘI DUNG:
2.1. Đặc điểm chung
- Thân nhiệt không ổn định, thay đổi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường
- Vách ngăn tâm thất chưa hoàn chỉnh, cường độ trao đổi chất thấp
- Thụ tinh trong, đẻ trứng, trứng có vỏ cứng, ngàng dai và nhiều noãn hoàng. Đa số các
loài trứng thiếu lòng trắng (trừ rùa và cá sấu)
2.2. Cấu tạo giải phẫu bò sát
2.2.1. Hình dạng và kích thước cơ thể
Bò sát hiện đại có ba dạng chính:
- Dạng thằn lằn cá sấu có sự phân biệt rõ các phần đầu, cổ, thân, đuôi và bốn chi. Chi
ngắn, khớp nằm ngang với cơ thể.
- Dạng rắn khó phân biệt phần cổ, phần thân dài, không có chân
- Dạng rùa có cổ dài, thân ngắn, lớn nằm giữa mai và yếm. Chân và đuôi ngắn. Cổ và
chân có thể rụt vào.
- Kích thước bò sát biến đổi từ ba bốn centimét đến bảy tám mét. Trọng lượng từ năm sáu
gam đến hàng trăm kilogam.
2.2.2. Da bò sát
- Da bò sát khô vì ít tuyến da
- Ngoài da phủ một lớp vẩy sừng khô có tác dụng bảo vệ và chống thoát hơi nước
- Da có nhiều sắc tố, sắc tố làm cho da thay đổi màu sắc để trốn tránh kẻ thù.
2.2.3. Bộ xương
- Các xương sọ gắn chặt với nhau (như sọ chim)
- Số lượng xương đốt sống thay đổi từ 300-400 đốt. Giữa các đốt sống phần đuôi có đĩa
sụn mỏng không hóa sườn. các đốt sống còn lại mang có thể mang xương sườn. Trừ rùa và rắn,
các loài bò sát khác đều có xương ức.
- Chi cấu tạo kiểu 5 ngón nhưng xương cổ chân và xương bàn chân ngắn. Chi khớp nằm

- Bán cầu não bò sát đã bắt đầu hình thành phản xạ có điều kiện
- Não trung gian có mắt đỉnh là cơ quan cảm giác về ánh sáng và nhiệt độ
- Tiểu não là một tấm mỏng
- Dây thần kinh có 11 đôi
- Cơ quan cảm giác kém phát triển, thiếu vành tai ngoài, thu nhận âm thanh kém
2.3. Sinh thái học bò sát
2.3.1. Sự thích nghi với môi trường sống
- Khả năng thích nghi của bò sát với môi trường sống kém vì thân nhiệt không ổn định,
rất nhạy cảm với nhiệt độ môi trường. Khi nhiệt độ xuống dưới 18
0
C, bò sát ngừng hoạt động,
dưới 3
0
C, bò sát ngủ đông.
- Bò sát phân bố gần như khắp bề mặt trái đất trừ vùng cực, nhờ có lớp da dày và phủ lớp
vẩy sừng để hạn chế mất nước, mặt khác bò sát đẻ trứng trên cạn, có nhiều noãn hoàng, vỏ cứng
bao bọc nên có môi trường sống đa dạng hơn ếch nhái.
- Sự thích nghi của bò sát với môi trường sống rất khác nhau.
2.3.2. Thức ăn của bò sát
- Hầu hết ăn động vật, trừ một số loài rùa ăn thực vật. Chủng loại thức ăn phụ thuộc vào
môi trường sống, các loài sống ở nước ăn cá, tôm, các loài sống trên cây, vách đá ăn côn trùng.
Trăn ăn các loài động vật có xương sống
- Bò sát có khả năng nhịn đói trong một thời gian dài, ví dụ: Trăn nhịn ăn một năm.
- Nhu cầu thức ăn của bò sát tăng và giảm theo nhiệt độ môi trường.
2.3.3. Chu kỳ hoạt động của bò sát
- Chu kỳ hoạt động của bò sát phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thường hoạt động
trong giới hạn 18-40
0
C.
- Chu kỳ hoạt động của bò sát không những phụ thuộc vào mùa mà còn phụ thuộc vào

nhiều chấm màu cam hoặc đỏ
- Chân có 5 ngón, có giác bám, trừ ngón thứ nhất, các ngón còn lại có vuốt
- Con đực kêu “Tắc kè”, con cái không kêu
Sinh thái và tập tính
- Sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau: rừng cây gỗ, bụi dậm, vách đá, Ngủ
theo đàn, kiếm ăn đơn lẻ
- Kiếm ăn từ xẩm tối tới nửa đêm quanh khu vực chúng sống
- Thức ăn là côn trùng nhỏ
- Đẻ trứng tháng 5-8 ngay trong hang hốc chúng sống, mỗi năm đẻ từ 1-2
lứa, mỗi lứa 2 trứng. Có hiện tượng đẻ trứng tập thể và sau 90-120 ngày
thì nở.
Phân bố
Đông Bắc Ấn độ, Miến Điện, Nam Trung Quốc, Thái Lan, Đông Dương.
Việt Nam phân bố khắp cả nước
Giá trị sử dụng Dược phẩm, thực phẩm, thương mại, thiên địch
Tình trạng
- CITES (2000): Không
- Nghị định 48 (2002): Không
- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): VU – Sẽ nguy cấp
2.4.1.2. Họ Kỳ đà (Varadinae)
Gồm những loài cỡ lớn nhất trong bộ phụ Thằn lằn. Sống trên cạn, kiếm ăn dưới nước, ở
nước ta gặp 2 loài là kỳ đà hoa (Varanus salvator) và kỳ đà vân (Varanus nebulosue)
* Kỳ đà hoa (Varanus salvator Laurenti, 1786)
Tên khác: Kỳ đà nước (Việt), Tua Khẻ, Tu cà làn (Tày), Bù đầm (Mường), thàn xề (Hoa)
9
Đặc điểm nhận
biết
- Kích thước cơ thể lớn, có con dài tới 2,5m, nặng 15kg
- Đầu, lưng đuôi màu xám vàng.

Đặc điểm nhận
biết
- Dài trên 1m, có thể bạnh cổ to phun phì phì
- Lưng màu nâu sẫm hay vàng lục.
- Bụng trắng đục, đôi lúc phớt vàng.
- Có một vòng tròn trắng khi cổ bạnh ra
- Vẩy môi trên 7 tấm, tấm thứ 3 và thứ 4 chạm hố mắt, môi dưới 8 tấm, 2
tấm giữa mũi, 1 tấm trước mắt, 2-3 tấm sau mắt
- Vẩy thân 21 hàng, cổ 25 hàng, trước hậu môn 15 hàng
Sinh thái và tập tính
- Sống ở các sinh cảnh khác nhau: nương rẫy, đồng ruộng, thảm cây bụi,
rừng. Thường ở hang song không phải chúng đào, trong hang chuột, hang tê
Sống đơn, hoạt động mạnh từ tháng 3 đến tháng 11. Kiếm ăn cả ngày
lẫn đêm, chủ yếu từ chập tối đến nữa đêm
- Thức ăn là các động vật có xương sống nhỏ (chuột, cóc, ếch nhái,…)
- Mùa sinh sản từ tháng 5 đến tháng 8, mỗi lứa đẻ 8-20 quả, sau 2-3 tháng
thì nở.
Phân bố
Nam Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Mianma và Đông Dương. Việt Nam
rắn hổ mang gặp khắp cả nước
Giá trị sử dụng Thực phẩm, dược phẩm, thương mại
10
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục III
- Nghị định 48 (2002): Nhóm IIB
- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): EN – Nguy cấp
2.4.1.4. Họ Trăn (Boidae)
Là những loài rắn cỡ lớn, đầu có kích thước ngang nhỏ hơn thân. Trong bộ xương còn có
di tích của đai hông và xương đùi và một phần lộ ra ngoài gọ là móng. Phổi đủ hai lá, lá phải lớn

2.4.2. Bộ rùa (Testudinata)
- Gồm những loài bò sát cổ nhất và đặc trưng bởi cơ thể hình đĩa, thân ẩn trong một giáp
xương là mai và yếm.
- Mai rùa được cấu tạo từ những tấm xương bì dính liền với xương mỏ ác và xương đòn.
- Đầu, cổ và bốn chi có khả năng thu vào trong hộp.
- Rùa không có răng
2.4.2.1. Họ Baba (Trionychidae)
- Gồm các loài rùa, mai được phủ da mềm. Mõm dài thành vòi thịt cử động được. Chân
có màng da nối các ngón.
- Đại diện: Ba ba trơn(Trionyx sinensis Wiegmann, 1835), Ba ba gai (Palea
steindachneri Siebenrock, 1906), Giải (Pelochelis bibronii Owen, 1853)
* Ba ba trơn (Trionyx sinensis Wiegmann, 1835)
Tên khác: Ba ba sông (Việt), Tu pha (Tày), Cóc sông (Mường)
11
Đặc điểm nhận
biết
- Da trơn màu xám xanh, với những chấm đen to,
- Đầu có nhiều vạch và chấm đen nhỏ, đầu có mỏ mềm
- Bụng màu trắng đục có nhiều chấm màu xám lớn
- Chân 3 ngón, có màng bơi
Sinh thái và tập tính
- Sống ở khe, hồ nước trong rừng hay các ruộng lúa.
Hoạt động vào mùa ấm, chủ yếu là ban đêm. Thường bơi ngược dòng
nước để kiếm ăn
- Thức ăn là cá, tôm, cua, rêu.
- Mùa sinh sản từ tháng 5 đến tháng 7, mỗi lứa đẻ 20-30 trứng. Sau 45-60
ngày thì trứng nở.
Phân bố
Trung Quốc, Đông Xibêri. Việt Nam phân bố từ đồng bằng đến miền núi
Giá trị sử dụng Thực phẩm, thương mại, làm cảnh

Giá trị sử dụng Làm cảnh, dược liệu (mai, yếm rùa để nấu cao)
Tình trạng
- CITES (2000): Không
- Nghị định 48 (2002): Không
- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): VU – Sẽ nguy cấp
2.4.2.3. Họ rùa vàng (Testudinidae)
Gồm các loài chủ yếu sống ở cạn, mai cao, chân hình trụ, ngón tự do, đầu và ngón phủ
vảy lớn.
* Rùa vàng (Indotestudo elongata Blyth, 1853)
Tên khác: Rùa núi vàng (Việt)
12
Đặc điểm nhận
biết
- Là loài nhỏ, trên đầu có nhiều tấm sừng
- Mai cao, phủ các tấm sừng màu vàng, giữa các tấm mai có đốm đen
- Tấm sống thứ nhất hình năm cạnh, gần đều, có một tấm trên đuôi
- Chân hình trụ, các ngón chân tự do
Sinh thái và tập tính
- Sống ở trong rừng ở độ cao 800m trở xuống.
Hoạt động chậm chạp, kiếm ăn ban đêm.
- Thức ăn là các loại quả thực vật.
- Đẻ trứng trong các hố đất.
Phân bố
Bắc Ấn độ, Mianma, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Đông
Dương. Việt Nam rùa vàng đã phát hiện ở Hà bắc, Quảng Ninh, Lạng
Sơn, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,…
Giá trị sử dụng Dược liệu, thương mại
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục II

các sông khu vực phía Nam và Tây Nguyên
Giá trị sử dụng Thực phẩm, kỹ nghệ da, làm cảnh
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục I
- Nghị định 48 (2002): Nhóm IB
- IUCN (2003): CR
- Sách đỏ Việt Nam (2007): CR – Rất nguy cấp
C. TÀI LIỆU HỌC TẬP
1. Phạm Nhật, Đỗ Quang Huy (1998), Động vật rừng, NXB Nông nghiệp
13
2. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996). Danh lục Bò sát và ếch nhái Việt Nam. NXB Khoa học Kỹ
thuật, Hà Nội.
3. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Sách đỏ Việt Nam, Tập 1 Phần Động vật. NXB Khoa
học Kỹ thuật, Hà Nội.
D. CÂU HỎI, BÀI TẬP, NỘI DUNG ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CỦA CHƯƠNG
*) Câu hỏi ôn tập:
1. Anh chị hãy cho biết đặc điểm chung của lớp bò sát?
2. Những đặc điểm giải phẫu thể hiện sự tiến hóa của lớp bò sát so với ếch nhái
3. Sự phong phú của phong phú của bò sát rừng Việt Nam?
4. Đặc điểm chung của các bộ có vẩy và mô tả một số loài đặc trưng?
5. Đặc điểm của bộ rùa và mô tả một số loài đặc trưng?
6. Đặc điểm của bộ cá sâu và phân biệt cá sấu nước ngọt và cá sấu nước lợ
*) Nội dung thảo luận: Đặc điểm thích nghi của lớp bò sát
- Thường chạy trốn, tìm nơi ẩn náu trước kẻ thù
- Có màu sắc ngụy trang giống với môi trường
- Có hình dạng giống với vật xung quanh
- Có hiện tượng giả chết
- Phản ứng tự vệ, đối địch một cách chủ động
- Hành động đứt đuôi, bong da để trốn chạy
*) Thực hành:

B) NỘI DUNG:
3.1. Đặc điểm chung
- Lớp chim (Aves) là những động vật có xương sống thích nghi với điều kiện bay lượn.
Đặc điểm nổi bật là:
- Các giác quan, nhất là mắt và tai phát triển
- Thân nhiệt cao và ổn định (37-42
0
C).
- Da phủ lông vũ, có hai chi trước biến thành cánh.
- Đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con.
3.2. Đặc điểm giải phẫu của chim
3.2.1. Hình dạng và kích thước
Thân chim hình trứng, đầu nhỏ và tròn. Cổ nhỏ, ngắn ở đa số loài; dài ở các loài chim
kiếm ăn dưới nước.
Hai chi trước biến thành cánh để phục vụ hoạt động bay lượn và số lượng ngón tiêu giảm.
Hai chi sau khỏe, thường có 4 ngón, một số ít loài có 2-3 ngón.
- Kích thước cơ thể biến đổi từ vài centimet đến hàng trăm centimet. Trọng lượng từ vài
gam đến vài chục kilogam.
3.2.2. Da và lông vũ
- Da chim mỏng và khô vì thiếu tuyến da. Đa số loài chỉ có một tuyến phao câu phát triển.
- Da chim được phủ một lớp lông vũ, lông vũ ngoài chức năng bay còn có chức năng giữ
thân nhiệt cho chim. Lông vũ chim có hai loại: Lông bao và lông tơ
- Lông bao (lông cánh, lông đuôi và lông mã) có hai phiến lông gắn vào một trụ lông.
Phiến lông được cấu tạo từ nhiều sợi lông mảnh. Hai bên sợi lông có nhiều tơ lông, trên tơ lông
có nhiều móc lông. Móc lông có chức năng móc các lông tơ lại với nhau.
- Lông tơ gồm một ống ngắn với nhiều sợi lông dài. Lông tơ rất phát triển ở các loài chim nước.
3.2.3. Bộ xương
- Đặc điểm nổi bật của bộ xương chim là xương xốp, nhẹ và chắc, trong có các khoang khí.
- Hộp sọ nhỏ, các xương sọ gắn chặt với nhau. Xương cột sống ở các phần ngực và hông
gắn với nhau tạo thành bộ khung vững chắc và là nơi bám trụ cho hệ cơ. Phần cổ có số lượng đốt

- Dạ dày chim có hai phần. Phần trước là dạ dày tuyến, nhiệm vụ chủ yếu là tiết dịch tiêu
hóa, phần sau là dạ dày cơ có nhiệm vụ nghiền nhỏ thức ăn.
- Ruột chim có: ruột tá tràng hình chức U bao lấy tuyến tụy, ruột non có nhiệm vụ hấp
thụ chất dinh dưỡng và ruột già. Chim có hai ruột tịt. Tuyến tiêu hóa của chim gồm gan, tụy,
tuyến diều và các dạ dày tuyến.
3.2.6. Hệ tuần hoàn
- Tim chim rất lớn (chiếm từ 0,4 - 1,5% trọng lượng cơ thể) và có 4 ngăn (hai tâm thất và
hai tâm nhĩ).
- Máu động mạch và máu tĩnh mạch riêng biệt
- Điểm khác biệt với hệ tuần hoàn của thú là cung chủ động mạch cũng xuất phát từ tâm
thất trái song sau quay sang tâm thất phải.
- Sự phát triển hoàn thiện của hệ thống tuần hoàn là một trong những yếu tố quan trọng
đảm bảo cường độ trao đổi chất cao và giữ thân nhiệt ổn định cho chim.
3.2.7. Hệ hô hấp
- Chim có hệ hô hấp đặc biệt, thể hiện sự thích nghi với đời sống bay. Ngoài hai lá phổi
chim còn có đôi túi khí nằm dưới da, giữa các kẽ xương và giữa các nội quan.
- Các túi khí vừa thực hiện nhiệm vụ hô hấp vừa có tác dụng làm giảm trọng lượng cơ thể
lúc bay.
- Khi chim nghỉ bay, trao đổi không khí với môi trường được thực hiện nhờ sự thay đổi
thể tích lồng ngực.
3.2.8. Hệ thần kinh và giác quan
- Não của chim lớn và có 5 phần: não trước, não trung gian, não giữa tiểu não và hành tủy.
- Não trước là phần lớn nhất nhưng không phải do sự phát triển của vỏ não mà là do sự
phát triển của thể vân. Thể vân là trung tâm thần kinh điều hành các bản năng sinh sản của chim
như làm tổ, giao cấu, đẻ trứng, ấp trứng và nuôi con
16
- Thùy khứu giác của chim rất bé. Thùy thị giác của chim rất lớn. Sự phát triển của thùy
thị giác liên quan sự phát triển cơ quan cảm giác ánh sáng của chim.
- Dây thần kinh não chim có 12 đôi
* Mắt chim

- Hoạt động kiếm ăn của chim diễn ra trong nhiều môi trường khác nhau, khả năng này là
do chim có khả năng bay
- Chim có hai kiểu bay: bay chèo và bay lướt
Bay chèo: là kiểu đập cánh nhiều lần và gặp ở hầu hết các loài chim rừng, kiểu bay này
tiêu tốn một lượng năng lượng lớn.
Bay lướt: là kiểu bay lợi dụng năng lượng sinh ra do sự chuyển động của không khí trong
không gian. Bay lướt phổ biến ở các loài sống ở đại dương và một số loài chim ăn thịt.
- Leo trèo, nhảy chuyền, đi lại trên mặt đất là hình thức vận động khác của chim lúc kiếm ăn.
Chim leo trèo có vuốt sắc khỏe, sắc, ngón chân xắp xếp hai trước và hai sau. Mỏ vẹt dùng để leo cây.
3.3.2. Thức ăn và sự thích nghi với chế độ ăn của chim
- Chim có cường độ trao đổi chất rất mạnh nên nhu cầu thức ăn của chim rất lớn.
- Dựa vào nguồn gốc, tỷ lệ thành phần thức ăn, người ta chia thành các nhóm chim – thức ăn
và mỗi nhóm biểu hiện những đặc điểm thích nghi, đặc biệt là hình thái mỏ và hình thức kiếm ăn.
17
+ Mỏ chim ăn tạp thường to, ngắn và khỏe (Gà, Quạ). Chim ăn thịt có mỏ khỏe, nửa trên
dài, cong trùm nửa mỏ dưới, mép mỏ sắc và dưới mỏ nhọn. Ngoài mỏ, chim ăn thịt còn có ngón
chân to, khỏe, vuốt lớn, dài cong và sắc để giữ mồi, mắt tinh (Diều, Cắt, Ưng, Cú mèo, Cú vọ, ).
Chim ăn xác chết ngoài những đặc điểm chung của chim ăn thịt, chúng còn có mỏ lớn, đầu cổ
trụi lông thuận tiện cho việc chiu rúc trong xác chết.
+ Chim ăn côn trùng gồm nhiều loài. Hình dạng mỏ rất khác nhau và phụ thuộc vào
phương thức bắt mồi. Mỏ khỏe và chắc như: Gõ kiến, Cú muỗi, ngắn như: chim chích, chim
khuyên, chim sâu.
+ Chim ăn quả mềm thường có mỏ to khỏe, mép mỏ có răng cưa lớn (Niệc, Cao cát, chùa
thầy, Cu rốc). Chim ăn hạt mỏ ngắn, hình nón khỏe.
+ Một số loài thích nghi và chuyên hóa với chế độ thức ăn phấn, mật hoa như hút mật.
Bắp chuối có mỏ dài, mảnh và hơi cong.
+ Thức ăn của chim còn thay đổi theo tuổi, theo mùa và phụ thuộc vào sự giàu nghèo của
môi trường sống.
3.3.3. Chu kỳ hoạt động của chim
- Hoạt động của chim không bị lệ thuộc vào độ ẩm, nhiệt độ mà chủ yếu phụ thuộc vào

3.4.1.1. Họ Diệc (Ardeidae)
- Gồm các loài chim cỡ lớn và trung bình.
18
- Chân cao, giò dài, phía trước giò phủ vảy ngang.
- Chân bốn ngón, giữa ba ngón có màng bơi nhưng chỉ có ngón giữa với ngón ngoài lớn.
- Vuốt dài, nhọn, mép trong của vuốt có răng cưa.
- Da trước và quanh mắt trần. Đuôi ngắn, thường đẻ 5 trứng.
- Đại diện: Cò trắng (Agretta garzetta Linnaeus, 1766),
* Cò trắng (Agretta garzetta Linnaeus, 1766)
Tên khác: Nộc cò (Tày)
Đặc điểm nhận biết
- Chim lớn, cánh dài 230-290mm, bộ lông trắng ngà
- Gáy có hai lông seo dài, mảnh.
- Cổ và ngực có nhiều lông dài, nhọn.
- Đuôi ngắn, mỏ và chân đen.
- Ngón chân xanh lục, mắt vàng, da quanh mắt vàng lục nhạt.
Sinh thái và tập tính
- Sống ở vùng đầm lầy, ruộng nước
- Làm tổ ở rừng cây, bụi rậm, rừng tre
- Sống đàn 5-50 con,.Kiếm ăn ban ngày
- Thức ăn là cá nhỏ, tôm tép và một số động vật xương sống nhỏ
- Đẻ trứng tháng 4-9 mỗi năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa 3-5 trứng. Trứng ấp 23 ngày
Phân bố Châu Âu, Châu Á, Bắc Phi. Ở Việt Nam gặp từ Bắc đến Nam
Giá trị sử dụng
Là nguồn thực phẩm cho thịt, trứng
Tình trạng
- CITES (2000): Không
- Nghị định 48 (2002): Không
- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): Không

- IUCN (2003): Không
- Sách đỏ Việt Nam (2007): VU – Sẽ nguy cấp
3.4.2. Bộ Ngỗng (Anseriformes)
- Gồm các loài chim nước hoặc sống gần nước, cỡ lớn hay trung bình
- Cổ dài, chân ngắn, có bốn ngón, ba ngón phía trước nối với nhau bằng màng bơi rộng
- Mỏ rộng và dẹt theo chiều trên dưới. Bờ mỏ có nhiều gờ hay nếp sừng mỏng nằm ngang.
- Bộ lông dày, nhiều lông không thấm nước và phủ đều khắp cơ thể
- Chim trống và chim mái một số loài khác nhau. Con đực có cơ quan giao cấu dài, xoắn
và nằm trong huyệt.
- Thế giới có khoảng 145 loài ngỗng, nước ta có 24 loài.
3.4.2.1. Họ Vịt (Anatidae)
Chim nhỏ, trung bình và lớn. Chân ngắn, dáng nặng nề nhưng bay bơi tốt
* Vịt trời (Anas poecilorhyncha Oates, 1907)
Đặc điểm nhận biết
- Đầu nâu thẫm, hai bên đầu nhạt hơn, có dải nâu đậm chạy qua mắt
- Vai và ít lông lưng viền nâu. Hông và trên đuôi nâu thẫm
- Đuôi nâu đen có viền nâu nhạt, lông cánh nâu với lông bao cánh xám chì
- Ngực hung nhạt có điểm nâu, gốc mỏ đen, chóp mỏ vàng, chân đỏ.
Sinh thái và tập tính
- Sống ở các bãi lầy, trong các rừng sú vẹt ven biển, trên các đầm ruộng
nước. Kiếm ăn ngày, sống đàn 5-7 con
- Thức ăn là nhuyễn thể, giáp xác, quả hạt thực vật
- Vịt trời sinh sản vào tháng 5, làm tổ bụi cây, mỗi lứa đẻ 10-15 trứng.
Phân bố
Miến Điện, Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam. Nước ta vịt trời gặp ở
các vùng từ Bắc đến Trung Bộ. Vịt trời di cư vào mùa đông.
Giá trị sử dụng
Là nguồn thực phẩm
Tình trạng
- CITES (2000): Không

- Sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau từ đồng bằng đến rừng núi
- Kiếm ăn ngày, thường bay lượn để tìm mồi
- Là loài chim di cư về mùa đông
- Thức ăn là chuột, chim, gà con và cá
Phân bố
Nhật Bản, Bắc Trung Quốc, Mông Cổ, Miến Điện. Nước ta Diều hâu
phân bố từ Bắc đến Thừa Thiên Huế
Giá trị sử dụng
Thực phẩm
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục II
- Nghị định 48 (2002): Không
- IUCN (2003): LR – Ít nguy cấp
- Sách đỏ Việt Nam (2007): Không
3.4.4. Bộ Gà (Galliformes)
- Gồm các loài chim có kích thước khác nhau từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn
- Đầu nhỏ, cánh ngắn và tròn, bay nhanh nhưng không bay xa được
- Chân to, khỏe có bốn ngón, ngón có vuốt to thích nghi bới đất tìm mồi
- Mỏ kiểu ăn tạp, ngắn, khoe, hơi cong, mở rộng trên trùm lên phần mỏ dưới.
- Màu lông thay đổi, con trống thường có màu sặc sỡ.
- Gà là chim đa thê, kiếm ăn trên mặt đất, ăn tạp
- Tổ đẻ có thể làm trên cây, hay trên đất, đa số đẻ 5-10 trứng, chim mái ấp trứng, chim
non nở ra khỏe mạnh
- Bộ gà có 250 loài, nước ta có 22 loài thuộc họ Trĩ (Phasianidae)
- Đại diện: Gà rừng (Gallus gallus Linnaeus, 1758), Công (Pavo munticus Delacour,
1949), Gà mặt tiền vàng (Polyplectron bicalcaratum Delacour et Jabouille), Gà tiền mặt đỏ
(Polyplectron germaini Elliot, 1866), Gà lôi trắng (Lophura nycthemera Linnaeus, 1758), Gà lôi
lam mào trắng (Lophura edwaris Oustalet, 1896), Gà lôi làm mào đen (Lophura imperalis
Delacour et Jabouille , 1924), Gà lôi hông tía (Lophura diardi Bonaparte, 1856), Trĩ đỏ
(Phasianus colchicus Delacour, 1927), Trĩ sao (Rheinartia ocellata Elliot, 1871), Gà gô

- Là loài lớn nhất trong bộ gà, dài cánh tới 445-500mm
- Con đực có mào lông đen ánh xanh. Vùng ngực, cổ màu lục óng ánh.
Lông bao đuôi dài ra thành lông trang hoàng màu lục ánh đồng, trên
mỗi lông đuôi có một sao tròn xanh thẫm, bao quanh là bốn vòng lục
xanh, đỏ đồng vàng và nâu
- Chim mái không có mào và không có lông đuôi trang hoàng
- Chim đực và chim mái đều có cựa
Sinh thái và tập tính
- Sống ở rừng, thích hợp với rừng thưa xen vạt cỏ, không sống trong
rừng rậm. Định cư ở độ cao dưới 1000m
- Kiếm ăn ngày, trưa bay lên cây nghỉ
- Thức ăn là cỏ dại, côn trùng, ếch nhái
- Mùa sinh sản của công bắt đầu từ tháng 4, mỗi lứa đẻ 5-6 trứng, ấp
27-30 ngày, Công con sau một năm mới sống độc lập, sau 3 năm tuổi
mới đủ lông trưởng thành
Phân bố
Nam Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Campuchia, Thái Lan. Nước ta
trước kia phân bố rộng, nay còn chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ
Giá trị sử dụng
Làm cảnh, thương mại
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục IIB
- Nghị định 48 (2002): nhóm IB
- IUCN (2003): VU – Sẽ nguy cấp
- Sách đỏ Việt Nam (2007): EN – Nguy cấp
3.4.5. Bộ Sếu (Gruiformes)
- Gồm các loài chim có kích thước khác nhau.
- Chân cao, có 4 ngón hoặc 3 ngón, ngón cái thường nhỏ và nằm trên cao.
- Cánh tròn, ngắn, bay kém (trừ Sếu).

- CITES (2000): Phụ lục II
- Nghị định 48 (2002): nhóm IB
- IUCN (2003): VU – Sẽ bị đe dọa
- Sách đỏ Việt Nam (2007): VU – Sẽ nguy cấp
3.4.6. Bộ Bồ câu (Columiformes)
- Gồm các loài có kích thước trung bình, thân bầu dục và chắc, cổ ngắn. Cánh dài và nhọn
- Chân ngắn, có bốn ngón dài với vuốt nhắn và khỏe. Mỏ thẳng, gốc mỏ có da mềm
- Bộ lông dày và dễ rụng. Chim đực và chim cái có màu giống nhau.
- Hoạt động ban ngày, ăn thực vật, sống đơn thê, sống đôi, mỗi lứa đẻ 2 trứng, ấp 18-30 ngày
- Chim mẹ có tuyến sữa nuôi con
- Bộ Bồ câu có 300 loài, giá trị kinh tế lớn. Việt Nam có 22 loài thuộc họ Bồ Câu
(Columbidae).
- Đại diện: Cu xanh (Treron curvirostra Hodgson, 1836), Cu gáy (Streptopelia chinensis
Temminck, 1810), Cu ngói (Streptoprlia trangquebarica Temminck, 1824)
* Cu gáy (Streptopelia chinensis Temminck, 1810)
Tên khác: Nộc cu (Tày), Con cù (Mường)
Đặc điểm nhận biết
- Chim lớn, cánh dài 140-166 mm.
- Đầu, gáy, ngực và bụng nâu nhạt phớt tím hồng
- Có nửa vòng tròn đen chấm trắng (cườm) ở cổ.
- Mắt nâu đỏ, mỏ đen, chân tía
Sinh thái và tập tính
- Chim định cư và sống ở nhiều sinh cảnh khác nhau, thích nhất là xác
dải rừng còn lại giữa nương rẫy, không sống trong rừng rậm
- Kiếm ăn ngày, trưa nghỉ, đêm ngủ trong bụi rậm, cành cây, tán rậm
- Thức ăn hạt cây cỏ dại và ít côn trùng
- Sinh sản cuối tháng 2 đến tháng 5, mỗi lứa đẻ 2-5 trứng, ấp 12-14 ngày.
Phân bố
Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaisia.
Nước ta cu gáy gặp khắp các vùng từ trung miền núi.

Sinh thái và tập tính
- Sống định cư ở rừng gần nương rẫy, thích nhất là vùng ven rừng
- Từ tháng 7 đến tháng 10 Vẹt sống thành đàn 40-50 con, các tháng còn
lại sống thành đôi hoặc đàn nhỏ
- Kiếm ăn ban ngày trên các nương ngô, đậu của bản
- Thức ăn là quả mềm, hạt cây lương thực và mầm non các loài cây
- Mùa sinh sản từ tháng 4 đến giữa tháng 7, làm tổ trong hốc cây, mỗi
lứa đẻ 3-4 trứng
Phân bố
Himalaya, Đông Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt
Nam, Nam Trung Quốc. Nước ta vẹt ngực đỏ phân bố khắp các vùng
rừng.
Giá trị sử dụng
Làm cảnh, thương mại
Tình trạng
- CITES (2000): Phụ lục II
- Nghị định 48 (2002): Nhóm IIB
- IUCN (2003): LC – Ít lo ngại
- Sách đỏ Việt Nam (2007): Không
3.4.8. Bộ Cú (Strigformes)
- Gồm các loài chim ăn thịt đêm, kích thước thay đổi.
- Mỏ ngắn, mỏ trên cong, mép mỏ sắc, chóp mỏ nhọn, gốc phủ da mềm
- Mắt lớn, hướng về phía trước. Lỗ tai rộng và thường có nếp da tai
- Lông mặt nhỏ và xếp tỏa ra xung quanh thành “đĩa mặt”. Lông thân dày, mềm và nhẹ
- Chân ngắn và phần lớn giò phủ lông
- Kiếm ăn đêm, ngủ ngày, làm tổ trong hang, đẻ 3-5 trứng, chim đực và chim mái cùng ấp
trứng, chim non yếu.
- Bộ Cú có 134 loài, nước ta có 18 loài.
- Đại diện: Cú lợn lưng xám (Tyto alba Hartert, 1929), Dù dì phương đông (Ketupa
zeylonensis Delacour, 1826), Cú vọ sườn hung (Glaucidum cuculoides Ripplay), Cú lợn lưng nâu

- Cánh dài, nhọn, bay tốt, đuôi ngắn, chân ngắn, giò phủ lông
- Chân bốn ngón xếp kiểu leo trèo (2 ngón trước, 2 ngón sau)
- Hoạt động ban ngày, ăn động vật nhỏ, chủ yếu là côn trùng
- Nhiều loài là chim đơn thê, vào mùa sinh sản ghép đôi, làm tổ. Nhiều loài đa thê, không biết
làm tổ
- Bộ Cu cu có 150 loài. Việt Nam có 18 loài thuộc một họ cu cu (Cuculidae)
- Đại diện: Bắt côi trói cột (Cuculus micropterus Gould, 1837), Chèo chẹo lớn (Cuculus
spraverioides Vigors, 1831), Khát nước (Clamator coromandus Linnaeus, 1766), Phướn
(Phoenicophaeus tristis Mayr, 1938), Bìm bịp (Centropus sinensis Hume, 1873)
* Bắt côi trói cột (Cuculus micropterus Gould, 1837)
Đặc điểm nhận biết
- Chim trung bình, dài cánh 169-209mm.
- Đầu, cổ xám tro, cằm ngực xám tro
- Lưng nâu, lông cánh sơ cấp có vằn trắng ở phiến lông trong
- Lông đuôi có mút trắng và một dải đen gần mút, bụng trắng đục có
vằn đen
- Mắt nâu, mỏ đen nâu, chân vàng
Sinh thái và tập tính
- Sống ở trong rừng, trong các rừng cây gỗ cao
- Sống đơn
- Kiếm ăn ngày
- Thức ăn chủ yếu là côn trùng
- Mùa sinh sản từ giữa tháng 3 đến tháng 4, con đực kêu “Bắt côi, trói
cột” trong cả ngày và đêm, không biết làm tổ.
Phân bố Miến Điện, Ấn Độ, Triều Tiên, Thái Lan, Lào, Nam Trung Quốc Việt
Nam. Nước ta dù dì phương đông gặp ở khắp các vùng trung du, miền
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status