Đề cương ôn thi tốt nghiệp môn triết học Mac Lenin - Pdf 25

Câu 1: Phân tích những điều kiện ra đời của Triết học Mác - Lênin
và nêu những giai đoạn chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của
triết học Mác-Lênin.
2.1. Điều kiện và tiền đề ra đời của triết học M -L
- Nghiên cứu tại sao triết học M lại ra đời được và tại sao lại ra đời vào
những năm 40 của thế kỷ 19.
2.1.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
* Nền đại công nghiệp cơ khí ra đời và phát triển nhờ cuộc cách mạng
công nghiệp cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19:
+ Nước Anh đã trở thành cường quốc tư bản chủ nghĩa lớn nhất với lực
lượng công nghiệp hùng mạnh. Cuộc cách mạng công nghiệp ở Pháp đang
được hoàn thành.
+ Ở Đức và một số nước Tây Âu khác, cuộc cách mạng công nghiệp
cũng làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa lớn lên nhanh chóng
trong lòng xã hội phong kiến.
Nhờ vậy, tính hơn hẳn của chế độ tư bản chủ nghĩa so với chế độ phong
kiến được thể hiện một cách rõ rệt.
* Cùng với nền đại công nghiệp cơ khí là CNTB được xác lập và giữ địa
vị thống trị. Phương thức sản xuất này gắn liền với sự ra đời của 2 giai cấp
vô sản và tư sản. giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh. Giai cấp tư sản nắm
quyền sở hữu về tư liệu sản xuất còn giai cấp vô sản mặc dù không nắm giữ
tư liệu sản xuất nhưng là một lực lượng sản xuất chính, đông đảo, là lực
lượng lao động chính.
- Do đó 2 giai cấp này có địa vị khác với phương thức sản xuất
+ Tư sản: có quyền sở hữu, quản lý, giữ địa vị thống trị
+ Vô sản: không có quyền sở hữu, chỉ là lực lượng sử dụng tư liệu sản
xuất để tạo ra của cải vật chất cho giai cấp tư sản.
Do đó họ là người làm thuê, bán sức lao động cho giai cấp tư sản.
- 2 giai cấp này mâu thuẫn về lợi ích kinh tế.
* Mặt khác, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản làm cho những mâu
thuẫn xã hội vốn có của nó bộc lộ ngày càng gay gắt. Nhiều cuộc đấu tranh

+ Những học thuyết kinh tế - chính trị cổ điển Anh
- Anh là nước có sự phát triển kinh tế tư bản sớm do đó các nhà tư bản
đã có thể khái quát thành các quy luật.
VD: quy luật cung cầu, quy luật lượng đổi, chất đổi,…
Đại biểu: Adam Smit, Ricado: các nhà nghiên cứ kinh tế đã có công tìm
ra các quy luật kinh tế.
- Đó là lý luận kinh tế học làm cơ sở để M tìm ra nguồn gốc của tư bản,
của giá trị thặng dư đó chính là giá trị sức lao động của người công nhân đã
bị người chủ lấy mất và tiếp tục phát triển để làm ra giá trị thặng dư.
Việc nghiên cứu kt chính trị học là điều kiện, là nguyên nhân quyết định
đưa M & A chuyển từ CNDT sang CNDV mới.
+ Những học thuyết lý luận về chính trị - xã hội của các nhà xã hội
không tưởng của Anh và Pháp.
Đại biểu: Xanhximong, Phurie (pháp) và owen (anh)
- Nó đưa ra mâu thuẫn của xã hội tư bản là một xã hội bất công, giàu có
đối lập với bần cùng.
Nguyên nhân là do chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và do tích lũy tư
sản vào giai cấp tư bản.
- Họ thí điểm các công xã: giai cấp công nhân làm chủ tư liệu sản xuất
(quy mô nhỏ) nên thất bại.
- Xã hội tư bản được chỉ ra là không tồn tại mãi được nên tiến tới một xã
hội công bằng thay thế cho xã hội tư bản hiện có.
- Giai cấp vô sản là giai cấp bị bần cùng Nhưng lại không thấy giai cấp
vô sản là 1 lực lượng chính trị có thể giải quyết mâu thuẫn.
- Song cũng đã đưa ra xã hội tư bản cần bị xóa bỏ và thay thế vào đó là
một xã hội công bằng. Mà sau này M đã chỉ ra rằng CNXH không phải là
mô hình mà người ta tưởng tượng mà là một hiện thực từ các điều kiện có
thực.
Các nhà CNXH M có thể kế thừa tư tưởng giải phóng con ng, gp nhân
loại, tổ chức một XH mới đồng thời phải phê phán và thay thế quan điểm

- Động vật có quá trình tiến hóa từ bậc thấp đến bậc cao, con người là
kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài, từ đó nó giải thích nguồn gốc tự nhiên
1
của con người. Nó chống lại thế giới quan tôn giáo, quan điểm duy tâm về
nguồn gốc loài người.
Các phát minh này đã đặt ra tư duy của con người về thế giới không thể
là siêu hình nữa mà là duy vật. Thế giới không độc lập mà có mối liên hệ,
vận động, phụ thuộc, và biến đổi không ngừng thành 1 hệ thống. Song nó
khác thời cổ đại là có các bằng chứng khoa học.
Đb là những phát minh KH thâm nhập vào nhau khiến các nhà KH tự
nhiên không thể tự mình khái quát, tổng kết thành các quan điểm TH như
hồi TK18→ đặt ra nhiệm vụ cho các nhà KH tự nhiên là khái quát tổng kết.
TH cổ điển Đức mà khởi sướng là Cantơ đã mở đầu cho việc thực hiện
mệnh lệnh này của KH tự nhiên.
+ Sự phát triển của KH tự nhiên thời kỳ này cho phép TH tách ra thành
một lĩnh vực độc lập
2.2 Vai trò của M & A với tư cách là chủ thể của một nền TH mới.
- Tự do theo M là không chấp nhận tất cả những khuôn khổ, những định
chế hiện có, vượt khỏi tất cả, vươn tới chân trời mới của tư duy, của hành
động.
- Thái độ đối với sự thật và chân lý là thái độcủa nhà KH, phẩm chất của
nhà KH, nhà KH phải coi trọng chân lý.
- Tinh thần dân chủ cách mạng: chống lại sự chuyên chế, áp đặt; đứng
về phía lẽ phải
→ Mác là một nhà dân chủ cách mạng. Ông muốn thay đổi một cách
hiện thực chế độ hiện có. Những yếu tố và phẩm chất tâm lý trên cho phép
M tiếp thu trọn vẹn nền học vấn và văn hóa đương thời; làm chủ những
thành tựu đb là của TH Đức. Với tinh thần dân chủ, ông hướng lý luận vào
thực tiễn, cuối cùng ông bắt gặp tư tưởng cộng sản (trong đó có tư tưởng về
cuộc CM cộng sản). Nhiệm vụ đặt ra cho M là đi tìm lí luận thực hiện cuộc

trào tự giác và phát triển ngày càng mạnh mẽ; và chính trong quá trình đó,
học thuyết của các ông cũng không ngừng được phát triển.
Các tác phẩm chủ yếu:
- Marx: “Đấu tranh giai cấp ở Pháp”, “Ngày 18 tháng Sương mù của
Loui Bonaparte”, “Nội chiến ở Pháp”, “Phê phán cương lĩnh Gotha”, “Tư
bản luận”(tập I)
- Engels: “Chống Duhring”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước”, “Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của nền triết học cổ
điển Đức”. Xuất bản tiếp “Tư bản luận tập II và III”.
Giai đoạn 2: Giai đoạn Lê Nin (từ những năm 90 của TK19 -1942)
- Lê Nin đã phát triển quan điểm của Mác - Ănghen trong thời điểm mới đó
là giai đoạn:
* CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền
* CMVS do giai cấp công nhân thực hiện đã giành được thắng lợi ở Nga.
* CNXH đã thực sự hình thành và phát triển lớn mạnh
* Giai cấp công nhân Nga đã giành và sử dụng chính quyền về mặt chính
trị và bắt đầu bắt tay xây dựng đất nước mới.
Cùng thời điểm ở giai đoạn này chủ tịch Hồ Chí Minh đã bắt gặp con
đường giải phóng dân tộc.
- Lê Nin đã có rất nhiều công lao trong quá trình phát triển triết học Mác -
Ănghen.
Trong giai đoạn của Lê Nin cũng được chia thành 3 giai đoạn nhỏ:
+ Giai đoạn1: 1893-1907 là thời kỳ truyền bá chủ nghĩa Mác - Ănghen vào
Nga. Bảo vệ thành quả của chủ nghĩa Mác. Tác phẩm tiêu biểu “Những
người bạn dân”.
+ Giai đoạn 2: 1907-1917 là thời kỳ chuẩn bị lực lượng cho cuộc CM
XHCN tháng 10 Nga. Vấn đề nhận thức luận, tác phẩm “CNDV và CN kinh
nghiệm phê phán” – phát triển hướng thiện, vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức. Phép biện chứng, tác phẩm “Vũ khí triết học”. Nhà nước và cách
mạng, tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”.

để giải đáp, lý giải những vấn đề, những nhu cầu của con người về mục
đích, ý nghĩa của con người.
- TGQ được hình thành và phát triển trong quá trình nhận thức và hoạt
động thực tiễn cải tạo TG của con người.
- TGQ có vai trò quan trọng trong cuộc sống, qua đó con người xem xét,
nhìn nhận thế giới. Từ đó, nó định hướng cuộc sống, chi phối nhận thức và
hoạt động thực tiễn của con người.
2. Các hình thái thế giới quan
- Trong lịch sử hình thành và phát triển thế giới quan, thế giới quan
được biểu hiện ra thành những hình thức khác
- Khái quát có 3 hình thái thế giới quan chủ yếu đó là:
* Thế giới quan thần thoại
* Thế giới quan tôn giáo
* Thế giới quan triết học
Thế giới quan thần thoại:
- Là hình thái thế giới quan đầu tiên trong lịch sử loài người dặc trưng
cho loài người ở giai đoạn nguyên thủy (trạng thái sơ khai của loài người).
- Nó phản ánh những khái quát trong quá trình con người cảm nhận ban đầu
về thế giới trong đó những yếu tố hiện thực và tưởng tượng, cái có thật và
hoang đường, cái lý trí và tín ngưỡng, tư duy và cảm xúc hòa quyện vào
nhau.
VD: điều này được thể hiện qua truyện thần thoại (Sơn Tinh, Thủy Tinh, )
Sự việc có thật: lao động sản xuất, chống lũ lụt, cái thiện luôn thắng cái ác
Sự việc hoang đường: Có các vị thần biểu trưng cho các hiện tượng thiên
nhiên
VD: Chử Đồng Tử
Phản ánh khát vọng hạnh phúc của người Việt Nam; phản ánh tinh thần bình
đẳng; nhưng hoang đường ở chỗ: có khả năng xây dựng nhà trong 1 đêm
VD Thánh Gióng
Hoang đường: Sinh Thánh Gióng, lớn lên như thổi

ra mà lại cho rằng đó là do 1 lực lượng siêu nhiên áp đặt (tiêu cực).
- Đối tượng cơ bản của thế giới quan tôn giáo là niềm tin vào sự tồn tại
và sức mạnh của các đấng siêu nhiên của thần thánh. Nhưng đồng thời thế
giới quan tôn giáo cũng phản ánh nguyện vọng của con người là giải thoát
mình khỏi những đau khổ và vươn tới hạnh phúc. Mặt tích cực và tiêu cực
của tôn giáo luôn luôn tác động ảnh hưởng đến con người, đến đời sống của
con người
Thế giới quan triết học
- Thế giới quan triết học là lý luận về thế giới quan.
- Thế giới quan triết học biểu đạt những hiểu biết, quan niệm xã hội
không bằng các câu chuyện thần thoại, niềm tin tôn giáo mà bằng các hệ
thống lý luận, các nguyên lý và phạm trù triết học.
- Nó khẳng định những nguyên lý ấy bằng cách chứng minh cho phương
thức tư duy, lý tính.
- Nó là hệ thống quan niệm chung nhất, toàn diện nhất của con người về
thế giới và vai trò của con người trong thế giới ấy. So với các ngành khoa
học khác, triết học có vai trò cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận
cho hoạt động thực tiễn của con người mà các khoa học khác không có vai
trò này.
- Vị trí của triết học của thế giới quan là hạt nhân của thế giới quan bởi
vì triết học ngoài các quan điểm, quan niệm triết học thì thế giới quan còn
có các quan điểm khác như đạo đức, chính trị, kinh tế,…. Các quan điểm
này đều được xây dựng trên những quan điểm của triết học.
3. Nội dung, bản chất của TGQ duy vật biện chứng.
a. Nội dung: Bao gồm quan điểm duy vật về thế giới và về xã hội
+ Về thế giới: Khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, không có
hiện tượng nào khác ngoài vật chất (linh hồn, ma tà cũng là 1 dạng vật chất
mà thôi).
Khẳng định thế giới tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý
thức của con người, vận động và phát triển theo các quy luật khách quan.

hiện tượng trong thế giới vật chất.
Với việc kế thừa những tư tưởng hợp lý của các học thuyết trước đó, với
việc tổng kết thành tựu các khoa học của xã hội đương thời, C. Mac và
Ăngghen đã giải thoát thế giới quan duy vật khỏi hạn chế siêu hình và cứu
phép biện chứng khỏi tính chất duy tâm thần bí để hình thành nên chủ nghĩa
duy vật biện chứng với sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với
phép biện chứng.
- Thể hiện quan niệm CNDV triệt để trong việc lý giải những vấn đề xã
hội mà các hệ thống triết học khác không làm được.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật không triệt để. Khẳng
định sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức sản xuất
quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung, tồn
tại xã hội quyết định ý thức xã hội và coi sự phát triển của xã hội loài người
là một quá trình lịch sử - tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc
phục được tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ.
- Tính thực tiễn – cách mạng: đây chính là vũ khí lý luận của giai cấp vô
sản để cải tạo thế giới.
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng là vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
+ Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ giải thích thế giới mà còn
đóng vai trò cải tạo thế giới
4. Nguyên tắc phương pháp luận của CNDVBC
Nguyên tắc luận được rút ra để định hướng cho hoạt động của con người
là: Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức, con người phải tôn trọng khách
quan đồng thời phải phát huy tính năng động chủ quan của mình.
4.1. Tôn trọng khách quan: Tôn trọng khách quan là tôn trọng vai trò
quyết định của vật chất. Điều này đòi hỏi trong nhận thức và hành động con
người phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy khách quan làm cơ sở,
phương tiện cho hành động của mình.
- Một số biểu hiện của việc tôn trọng khách quan:
+ Mục đích, đường lối, chủ trương con người đặt ra không được xuất

hội” cũng chính là tạo lực lượng vật chất để thực hiện nhiệm vụ cách mạng
trong giai đoạn mới.
- Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của khoa học trong bối cảnh
phức tạp của thế giới hiện nay, đối với cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà
nước ta khẳng định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu”. Việc đầu tư có trọng điểm trong hệ thống giáo dục và
nghiên cứu khoa học, việc chủ trương xã hội hoá giáo dục để “cả nước trở
thành một xã hội học tập”
4
Câu 3: Trình bày lịch sử phát triển của phép biện chứng, những nội
dung cơ bản của phép biện chứng và sự vận dụng những nguyên tắc
phương pháp luận được rút ra từ nó đối với sự nghiệp đổi mới nước ta
hiện nay?.
3.1. Lịch sử phát triển của phép biện chứng
a) Khái niệm phép biện chứng
+ Biện chứng:
- Bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ có nghĩa là “nghệ thuật tranh luận”
(dialecktika) là nghệ thuật vạch ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương
buộc đối phương phải phục tùng lập luận của mình.
- Về sau, dialecktika không chỉ dừng lại ở việc tranh luận. Nó mở rộng
ra thành “nghệ thuật phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn đó” và
sau đó nó lại mở rộng ra “Mối quan hệ giữa các sự vật – hiện tượng trong
thế giới”.
Như vậy, biện chứng là cách xem xét về thế giới là có sự liên hệ với
nhau, luôn luôn vận động và biến đổi.
- Quan điểm biện chứng: Các sự vật – hiện tượng không phải chỉ khác
nhau mà còn phụ thuộc nhau, có một số điểm chung nhau.
+ Phép biện chứng:
Khái niệm phép biện chứng là 1 lý thuyết, 1 hệ quan điểm đã được xắp
đặt, hệ thống hóa thành một hệ thống lý luận.

mới chỉ là những quan điểm biện chứng mộc mạc, mang tính suy luận,
phỏng đoán trên cơ sở những kinh nghiệm trực giác mà chưa được minh
chứng bằng những tri thức khoa học.
Tích cực: phép biện chứng cổ đại đã coi thế giới là một chỉnh thể thống
nhất; giữa các bộ phận của thế giới có mối liên hệ qua lại, thâm nhập, tác
động và quy định lẫn nhau; thế giới không ngừng vận động, biến đổi và là
cơ sở để phép biện chứng phát triển lên hình thức cao hơn.
Phép biện chứng này tuy còn ở mức độ đơn giản những cũng có giá trị
trong việc chống lại quan điểm siêu hình, duy tâm tôn giáo. Hoạt động của
con người tiến triển đi lên. Càng về sau, quan điểm biện chứng sơ khai này
càng không đóng vai trò quan trọng do nó chỉ nói tới thê giới vạn vật có mối
liên hệ mà chưa giải thích được mối liên hệ đó. Do đó đã bị quan điểm khác
thay thế (Tk 17-18).
2. Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức (cuối TK 18
đầu 19)
Phép biện chứng này được khởi đầu từ Cantơ, qua Phichtơ, Sêlinh và
phát triển đến đỉnh cao trong phép biện chứng duy tâm của Heghen.
Trong TH Cantơ: tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về sự thống
nhất giữa các mặt đối lập
Trong TH Phichtơ: tư tưởng về mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát
triển.
Sêlinh: tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, sự thống nhất và sự phát triển,
tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, về sự đấu tranh giữa các
mặt đối lập trong tự nhiên.
Hêghen: phép biện chứng duy tâm phát triển đến đỉnh cao với nội dung
và hình thức phong phú.
Các nhà biện chứng cổ điển Đức, mà Heghen là điển hình đã áp dụng
phép biện chứng vào nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội. Qua đó đã xây dựng được hệ thống phạm trù, quy luật chung, thống
nhất, có logic chặt chẽ của nhận thức tinh thần và một phần nào đó của hiện

- Nguyên lý về sự phát triển: phản ánh đặc trưng biện chứng phổ quát
nhất của thế giới. Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.
PBCDV khẳng định rằng mọi lĩnh vực trong thế giới (vô cơ và hữu cơ;
tự nhiên, xã hội và tư duy) đều nằm trong quá trình phát triển không ngừng
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn
thiện.
Phát triển được coi là khuynh hướng chung, là khuynh hướng chủ đạo
của thế giới.
* Hệ thống các cặp phạm trù: có 6 cặp phạm trù cơ bản
- Cái chung và cái riêng: Là cặp phạm trù quan trọng nhất, cái chung
bao giờ cũng nằm trong cái riêng, cái chung sâu sắc hơn, cái riêng bao quát
cái chung.
5
- Nguyên nhân và kết quả
- Bản chất và hiện tượng
- Nội dung và hình thức
- Tất nhiên và ngẫu nhiên
- Khả năng và hiện thực
* Những quy luật cơ bản: có 3 quy luật cơ bản
- Quy luật lượng chất
+ Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến
đổi về chất và ngược lại (quy luật lượng - chất). Quy luật này phản ánh cách
thức, cơ chế của quá trình phát triển, là cơ sở phương pháp luận chung để
nhận thức và thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật với 3 yêu cầu cơ bản
là:
> Thường xuyên và tăng cường tích luỹ về lượng để tạo điều kiện cho
sự thay đổi về chất. Chống chủ nghĩa duy ý chí muốn đốt cháy giai đoạn.
> Khi lượng được tích luỹ đến giới hạn độ, phải mạnh dạn thực hiện
bước nhảy vọt cách mạng, chống thái độ bảo thủ, trì trệ.

b) Nguyên tắc lịch sử-cụ thể trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc lịch sử-cụ thể đòi hỏi phải xem xét sự vật hiện tượng trong
quá trình vận động phát triển: nó ra đời trong điều kiện như thế nào? trải qua
những giai đoạn phát triển như thế nào? mỗi giai đoạn có tính tất yếu và đặc
điểm ra sao?
c) Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn
Nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, hiện tượng phải nhìn
thấy khuynh hướng biến đổi trong tương lai của chúng: cái cũ, cái lạc hậu sẽ
mất đi; cái mới, cái tiến bộ sẻ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.
Câu 4: Phân tích cơ sở lý luận quan điểm toàn diện và quan điểm phát
triển? Vận dụng quan điểm toàn diện và phát triển như thế nào trong
quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay?.
1. Phân tích cơ sở lý luận quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển
1.1 Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện dựa trên nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến.
- Mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ, sự tác động qua
lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các
giai đoạn phát triển của một sự vật, hiện tượng.
- Các mối liên hệ có tính khách quan, phổ biến và đa dạng, chúng giữ
vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
- Trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn không nên tuyệt đối
hóa mối liên hệ nào và cũng không nên tách rời mối liên hệ này khỏi các
mối liên hệ khác vì trên thực tế, các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu
cụ thể trong sự biến đổi và phát triển của chúng.
- Vì thế, nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta muốn nhận thức được
bản chất của sự vật, hiện tượng cần xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên
hệ qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh
thể của sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa các sự vật,
hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác; tránh cách xem xét phiến diện,

- Phát triển là tự thân, động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các
mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng
- Phát triển là trường hợp đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát
triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn
làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật
ngày càng hoàn thiện hơn.
- Phát triển có tính khách quan, phổ biến, đa dạng.
Vì thế, để nhận thức được sự tự vận động, phát triển của sự vật, hiện
tượng chúng ta cần thấy được sự thống nhất giữa sự biến đổi về lượng với
sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển; phải chỉ ra được nguồn gốc và
động lực bên trong, tìm ra và biết cách giải quyết mâu thuẫn; phải xác định
6
được xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng do sự phủ định biện chứng
quy định; coi sự phủ định là tiền đề cho sự ra đời của sự vật, hiện tượng
mới; sự vật, hiện tượng mới; sự vật, hiện tượng mới ra đời phù hợp với quy
luật vận động và phát triển, vì thế phải ủng hộ cái mới, cái tiến bộ.
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu: khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải
đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi, chuyển hóa để không chỉ nhận
thức sự vật, hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn thấy được khuynh
hướng phát triển của nó trong tương lai.
- Nguyên tắc phát triển yêu cầu phải nhận thức sự phát triển là quá trình
trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn phát triển lại có những đặc điểm,
tính chất, hình thức khác nhau. Vì thế, cần có sự phân tích cụ thể để tìm ra
những hình thức tác động phù hợp hoặc để thúc đẩy hoặc để hạn chế sự phát
triển đó.
- Nguyên tắc phát triển đòi hỏi trong hoạt động nhận thức và hoạt động
thực tiễn phải nhạy cảm với cái mới, sớm phát hiện ra cái mới, ủng hộ cái
mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho cái mới đó phát triển thay thế cái cũ.
Sự thay thế cái cũ bằng cái mới diễn ra rất phức tạp bởi cái mới phải đấu
tranh chống cái cũ, chiến thắng cái cũ. Trong quá trình đó, nhiều khi cái mới

quan điểm đó.
Trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới của cách mạng
Việt Nam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ tác
động, sẽ không đánh giá đúng tình hình và nhiệm vụ cụ thể của đất nước
trong từng giai đoạn cụ thể và do vậy không đánh giá hết những khó khăn,
những thuận lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng đất nước theo mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Vận dụng quan điểm phát triển trong quá trình thực hiện CNH, HĐH ở
nước ta hiện nay
Vận dụng nguyên tắc phát triển vào việc nhận thức về con đường tiến
lên XHCN ở nước ta có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trên cơ sở phân tích xu hướng phát triển của thời đại và điều kiện cụ thể
của nước ta, Đảng luôn kiên định con đường tiến lên CNXH với mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Nước ta tiến lên CNXH từ một nền kinh tế phổ biến là sản xuất nhỏ, tụt
hậu quá xa so với các nước trên thế giới, vì vậy phải đẩy nhanh tốc độ phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế Đảng luôn chú ý
đến vấn đề xã hội, từng bước giải quyết vấn đề công bằng xã hội, đồng thời
phải bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo phát triển cách bền vững.
Trong suốt thời kỳ quá độ cũng như từng giai đoạn phát triển của đất
nước, Đảng luôn chú ý phát hiện ra các mâu thuẫn và tìm ra phương hướng
giải quyêt các mâu thuẫn để phát triển đất nước.
Trong thời kì quá độ là thời kỳ đấu tranh phức tạp của dân tộc ta với các
thế lực thù địch, là thời kỳ đấu tranh giữa cái mới với cái cũ và cái mới sẽ
từng bước chiến thắng cái cũ.
Đảng ta cũng xác định động lực phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH.
Về nội lực là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công
nhân, nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng ta lãnh đạo; là kết hợp hài hòa
các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; phát huy mọi tiềm năng và các nguồn

phát triển của sự vật và hiện tượng.
Sự tác động của mâu thuẫn bên ngoài phải thông qua mâu thuẫn bên
trong. Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài lại vận động trong sự
tác động lẫn nhau. Vì thế, mỗi bước giải quyết mâu thuẫn này lại tạo điều
kiện để giải quyết mâu thuẫn kia.
- Mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn không cơ bản (Căn cứ vào ý nghĩa đối
với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật)
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định
sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình
tồn tại của của sự vật. Khi mâu thuẫn cơ bản thay đổi thì bản chất của sự vật
cũng thay đổi.
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặc trưng cho một phương diện
nào đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào
đó của sự vật.
- Mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn thứ yếu (Căn cứ vào vai trò của mâu
thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật trong một giai đoạn nhất
định)
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát
triển nhất định của một sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết
mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn (những mâu thuẫn thứ yếu).
Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không giữ vai trò quyết định trong giai
đoạn đó.
Sự phân biệt giữa mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu chỉ có tính
tương đối vì trong giai đoạn này mâu thuẫn này là chủ yếu, nhưng sang giai
đoạn sau nó lại có thể là thứ yếu.
Mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ hữu cơ với mâu thuẫn cơ bản, nó thường
là hình thức biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản ở một giai đoạn nhất
định; việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước
mâu thuẫn cơ bản.
- Mâu thuẫn đối kháng, mâu thuẫn không đối kháng (Căn cứ vào tính

nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận
động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới.
2. Ý nghĩa
* Là quy luật cơ bản của phép biện chứng. Vì vậy, nó có ý nghĩa to lớn
đối với việc nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người.
- Quy luật cho ta phương pháp để phân tích mâu thuẫn. Trên cơ sở đó
xác định được mâu thuẫn đặc biệt là mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu.
Từ đó, định ra đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của nước ta.
- Cho ta cơ sở lý luận để nhìn nhận sâu sắc các vấn đề trong nước và
quốc tế.
- Ngày nay, trên thế giới và trong nước ta tồn tại rất nhiều mâu thuẫn. Vì
vậy, cầnphải nhận thức rõ ràng từng mâu thuẫn, tìm các hình thức giải quyết
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, tránh tư tưởng cứng nhắc, máy móc, giáo
điều.
* Nhiệm vụ chiến lược của nước ta hiện nay là xây dựng vào bảo vệ Tổ
quốc XHCN để thực hiện 2 nhiệm vụ đó chính là giải quyết 2 mâut huẫn cơ
bản của XH nước ta là:
1. Con đường XHCN mâu thuẫn với trình độ kinh tế còn thấp kém
2. Nhân dân ta mâu thuẫn với mọi lực lượng thù địch muốn nước ta vào
con đường từ bỏ XHCN.
- Trước đây, trong cuộc CMDTDC, Đảng đã phân tích mâu thuẫn giữa
lực lượng XH trong nước và CNĐQ, chỉ ra mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn
chủ yếu từng thời kỳ, nhờ đó đề ra chiến lược CM đúng đắn, đã đưa CM đến
thắng lợi hoàn toàn (Mâu thuẫn giữa CNĐQ với nhân dân ta, giữa ĐC, PK
và nông dân).
- Trước đổi mới, do không nhận thức đúng mâu thuẫn cơ bản trong lĩnh
vực kinh tế (cho đó là mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX) nên áp dụng quá
lâu nền KT nhà nước và tập thể, với cơ chể quản lý quan liêu, bao cấp, kế
hoạch hóa tập trung. Sau đổi mới, đã nhận thức lại đúng đắn hơn mâu thuẫn
cơ bản từ đó thực hiện KT nhiều thành phần, áp dụng cơ chế thị trường có

bên trong mà còn có những nhân tố bên ngoài.
Mâu thuẫn cơ bản làm nảy sinh những mâu thuẫn trong tất cả các lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội, những mâu thuẫn trong đối nội cũng
như đối ngoại. Chừng nào chủ nghĩa xã hội chưa thực sự được xác lập,
nghĩa là chưa hết thời kỳ quá độ, mâu thuẫn cơ bản đó vẫn tồn tại. Khi kinh
tế xã hội chủ nghĩa đã giữ ưu thế tuyệt đối (theo đúng nghĩa của nó), mâu
thuẫn trên sẽ mất đi hoặc nếu còn nó cũng không phải là mâu thuẫn cơ bản
của sự vật mới nữa.
9
Câu 6: Phân tích nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn
đến thay đổi về chất và ngược lại. Ý nghĩa phương pháp luận, liên hệ?
1. Nội dung quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về
chất và ngược lại.
1.1 Phạm trù chất và lượng:
- Chất là 1 phạm trù TH dùng để chỉ tính qui định vốn có của các sự vật
hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, những yếu tố cấu
thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật hiện tượng
khác.
Vd: Kim loại: dẫn điện, dẫn nhiệt, dát mỏng: thuộc tính vốn có của kim
loại.
- Lượng là khái niệm chỉ tính qui định vốn có của sự vật, hiện tượng về
mặt qui mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các
yếu tố cấu thành nó, không phụ thuộc vào ý thức con người → khách quan.
1.2 MQH biện chứng giữa lượng và chất
Đặc điểm: Chất có tính gián đoạn, có xu hướng đứng yên. Lượng có tính
liên tục, có xu hướng vận động.
* Lượng đổi, chất đổi:
- Sự biến đổi trong TGKQ bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi về lượng
(so với chất, lượng thay đổi trước). Sự biến đổi này diễn ra từ từ, đi từ thấp
đến cao và đến 1 giới hạn nào đó sẽ tạo nên sự biến đổi về chất.

Ở nước ta hiện nay khi LLSX pt phải từng bước điều chỉnh, củng cố,
hình thành QHSX. Điều đó tạo điều kiện cho LLSX phát triển nhanh chóng,
đáp ứng nhu cầu phát triển KT XH.
Chúng ta XD XH XHCN, đòi hỏi phải có 1 LLSX to lớn và có 1 QHSX
XHCN phù hợp. Để đạt được mục tiêu này không thể nôn nóng, phải có tích
lũy dần dần về lượng trong LLSX tương ứng với việc nâng dần trình độ của
QHSX. Hiện nay đang tồn tại nhiều QHSX phi XHCN, nhưng QHSX
XHCN giữ vai trò chủ đạo. Do đó thời kỳ quá độ phải lâu dài và có nhiều
chặng đường để tích lũy về lượng nhằm tạo ra sự chuyển biến về chất, đưa
nước ta trở thành 1 nước XHCN giàu mạnh.
Việc nắm vững nội dung của quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa
thay đổi vể lượng và thay đổi về chất cũng như ý nghĩa phương pháp luận
của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do
công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta đặt ra. Việc
thực hiện thành công quá trình đổi mới trên từng lĩnh vực của đời sống xã
hội sẽ tạo ra bước nhảy về chất trong lĩnh vực đó và điều kiện để thực hiện
thành công quá trình đổi mới toàn diện tất cả các mặt của đời sống nhằm tạo
bước nhảy về chất của toàn xã hội nói chung. Như bất kỳ sự thay đổi về
chất nào khác, những bước nhảy trong quá trình xây dựng CNXH ở VN
cũng chỉ có thể là kết quả của quá trình thay đổi về lượng thích hợp. Ở đây,
bất kỳ sự nông nóng, chủ quan, ảo tưởng nào cũng có thể gây ra tổn thất cho
cách mạng, cản trở cho sự nghiệp xây dựng CNXH.
10
Câu 7: Phân tích nội dung quy luật phủ định của phủ định. Ý nghĩa
phương pháp luận trong việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay?
1. Nội dung quy luật:
QL phủ định của phủ định vạch rõ khuynh hướng của sự vận động và
phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới diễn ra theo đường xoáy trôn
ốc.

XH loài người: CS nguyên thủy, CHNL, XHPK, TBCN, CNCS
II. Ý nghĩa và phương pháp luận
- Phát triển là 1 quá trình phủ định liên tiếp thông qua các vòng khâu
phủ định, là khuynh hướng chung, là tất yếu của sự vận động của sự vật (cần
phát hiện cái mới và tạo điều kiện cho nó phát triển)
- Phủ định của PĐ đòi hỏi trong thực tiễn và nhận thức khoa học ko
được chủ quan, đơn giản, mà phải có cái nhìn biện chứng, phù hợp với xu
thế của thời đại, phải biết kế thừa những yếu tố tích cực. Phải tuyệt đối tránh
hai khuynh hướng:
+ Khuynh hướng phủ định sạch trơn, tức là tư tưởng loại bỏ hoàn toàn
quá khứ, xem thường thậm chí bôi nhọ lịch sử.
+ Khuynh hướng kế thừa nguyên xi, không đổi mới
* Ý nghĩa trong việc xd một nền văn hóa mới
Ngày nay yếu tố tích cực nhiều nhưng yếu tố tiêu cực cũng lắm (tham
nhũng, suy thoái đạo đức ) nhưng đó là biểu hiện sự đấu tránh giữa cái cũ
và cái mới trong quá trình đi lên, nên có lúc những bước thụt lùi, dẫm chân
tại chỗ, tiến lên rồi lại đi xuống nhưng qui luật phủ định của phủ định cho
rằng tất cả đó là những bước trung gian, cuối cùng xã hội sẽ được khắc phục
để phát triển lên 1 trình độ cao hơn, tốt hơn.
Từ chỗ đang xd CNXH với QHSX XHCN với hai hình thức sở hữu:
Nhà nước và tập thể, ĐH Đảng VI đã đề ra đường lối đổi mới, thực hiện
nhiều hình thức sở hữu, áp dụng cơ chế thị trường định hướng XHCN là 1
bước phát triển phù hợp với quy luật.
Câu 8: Quan điểm TH Mác Lê nin về thực tiễn, nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Ý nghĩa và phương pháp luận trong việc
nhận thức con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay?
1. Quan điểm TH Mac – Lenin về thực tiễn
- Khái niệm: Thực tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động vật
chất có tính chất lịch sử – xã hội của con người làm biến đổi tự nhiên và xã
hội.

- Thực tiễn là cơ sở của lý luận: phần lớn những tri thức được khái quát
thành lý luận là kết quả của hoạt động thực tiễn của con người. Mọi tri thức
dù trực tiếp hay gián tiếp đối vơi người này hay người kia, thế hệ này hay
thế hệ khác, ở trình độ kinh nghiệm hay lý luận xét đến cùng đều bắt nguồn
từ thực tiễn
- Thực tiễn là động lực của lý luận: Trong quá trình hoạt động thực tiễn
biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển
năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình. Nhờ đó, con người ngày càng
đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm
phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới. Thực tiễn còn đề ra nhu
cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức. Nhu cầu thực tiễn
đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó
thúc đẩy sự ra đời và phát triển của ngành khoa học mới- khoa học lý luận.
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Nhận thức phải quay về phục vụ
thực tiễn. Kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn. Lý luận,
khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải
tạo thực tiễn.
- Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý: Cần phải hiểu thực tiễn là tiêu
chuẩn của chân lý một cách biện chứng; tiêu chuẩn này vừa có tính tuyệt đối
vừa có tính tương đối.
3. Áp dụng vào thực tiễn VN
Trong quá trình lãnh đạo CM, Đảng ta luôn giải quyết tốt mối quan hệ
giữa lý luận và thực tiễn. Các đường lối, chính sách được xây dựng từ sự
nghiên cứu và tổng kết thực tiễn của xã hội, do đó đã phản ánh đúng qui
luật, đúng tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Các đường lối chính sách
11
đúng đã trở thành kim chỉ nam hướng dẫn hành động cách mạng của quần
chúng.
Các nghị quyết của đại hội VI là biểu hiện rất cụ thể của sự vận dụng
mqh này (trước ĐH VI, nước ta rơi vào khủng hoảng, Đảng tổng kết và rút

B. Vận dụng
Công cuộc đổi mới Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đem lại nhiều
thành tựu về mọi mặt của đnứoc. Đó là kquả của sự vận dụng sáng tạo
những quan điểm đúng đắn của CN MLê và TT HCM, trong đó có quan
niệm về mqh giữa thực tiễn và lý luận. Từ thực tiễn tổng kết thành lý luận –
lý luận hướng dẫn thực tiễn - thực tiễn lại tổng kết nâng cao trình độ lý luận.
Cụ thể: trước ĐH VI, từ cuối những năm 70, khi nước ta lâm vào cuộc
khủng hoảng KT-XH, Đảng ta trên cơ sở tổng kết thực tiễn đã đề ra nhiều
chủ trương có tính chất đổi mới từng phần. Việc thực hiện những chủ
trương ấy đã góp phần tăng đáng kể tốc độ ptriển ktế trong 5 năm (81-85).
Nhưng những nhược điểm của mô hình XD CNXH trước đó chưa được
khắc phục về căn bản nên vẫn cản trở sự ptriển. Nhưng những thử nghiệm
đổi mới từng phần đã cung cấp kinh nghiệm qúi báu và từ sự tổng kết thực
tiễn đến ĐH Đảng VI đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện mở ra bước
ngoặt trong công cuộc XD CNXH ở nước ta. Mỗi lần ĐH, Đảng lại tổng kết
thực tiễn, nâng cao trình độ lý luận, chỉ rõ những thiếu sót, yếu kém để khắc
phục, từng bước đưa sự nghiệp CM tiến lên đạt những thành tựu ngày càng
to lớn.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn
quán triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải
xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi
trọng công tác tổng kết thực tiễn.
Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành.
Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo
điều, máy móc, quan liêu.
Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa
thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa: là sự tuyệt đối hoá những kinh nghiệm
thực tiễn trước đây và áp dụng một cách máy móc vào hiện tại khi điều kiện
đã thay đổi. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức, tri thức thấp, thành công
tự phát. Bệnh kinh nghiệm (cùng với bệnh giáo điều) rất nguy hại. Để khắc

* MQH biện chứng giữa LLSX và QHSX.
+ Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX: Trong quá trình hoạt
động sản xuất, LLSX không ngừng được hoàn thiện và phát triển mà trước
hết là phát triển công cụ sản xuất. Đến một trình độ nhất định, tính chất của
LLSX thay đổi về cơ bản khi đó QHSX cũ lỗi thời trở thành vật cản đối với
sự phát triển của LLSX. Đến một mức độ nhất định QHSX ấy bị phá vỡ để
xác lập một kiểu QHSX mới cao hơn từ đó một PTSX mới ra đời, một hình
thái kinh tế xã hội mới xuất hiện.
+ Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX:
> Khi QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì nó góp
phần thúc đẩy LLSX phát triển.
> Khi không phù hợp nó sẽ kìm hãm LLSX: QHSX đã lỗi thời trước
trình độ phát triển của LLSX, QHSX xác lập một cách duy ý chí đi quá xa
so với LLSX
2. Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX
- Khi một PTSX mới ra đời, khi đó QHSX phù hợp với trình độ phát
triển của LLSX. Sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là
trạng thái mà trong đó, QHSX là “hình thức phát triển” của LLSX.
- Song, sự phát triển của LLSX đến một trình độ nhất định lại làm cho
quan hệ từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của
LLSX. Khi đó QHSX trở thành trở thành “xiềng xích” của LLSX, kìm hãm
LLSX phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển của LLSX tất yếu sẽ
dẫn đến thay thế QHSX, thúc đẩy LLSX tiếp tục phát triển. Thay thế QHSX
cũ bằng QHSX mới cũng có nghĩa là PTSX cũ mất đi, PTSX mới ra đời
thay thế.
+ LLSX quyết định QHSX, vì:
- LLSX là yếu tố hoạt động nhất, cách mạng nhất, là nội dung của quá
trình sản xuất, còn QHSX là yếu tố phụ thuộc vào LLSX, nó là hình thức xã
hội của sản xuất nên có tính chất tương đối ổn định, có xu hướng lạc hậu
hơn so với sự phát triển của LLSX.

14
Câu 11: Qniệm Mác Lê nin về vai trò của khoa học kỹ thuật và
nhân tố con người trong LLSX? Sự vận dụng quan điểm đó ở nước ta?
1. Quan niệm về vai trò của khoa học kỹ thuật và nhân tố con người
trong LLSX
1.1 Vai trò KHKT
- Mác dự đoán rằng KH sẽ trở thành LLSX trực tiếp , trở thành LLSX
độc lập
- KH ngày nay có vai trò quan trọng trong SX, sự PT của KH đã đạt đến
mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của những biến đổi to lớn trong sx và
trong đời sống.
- Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy sản xuất phát triển.
- Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những
ngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, nguyên vật liệu mới, năng
lực mới.
- Đội ngũ các nhà khoa học trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất lao
động ngày càng đông, tri thức khoa học trở thành một yếu tố không thể
thiếu được của người lao động.
- Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất đã làm cho lực
lượng sản xuất có bước nhảy vọt, tạo thành cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại.
- Có thể nói khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng
sản xuất hiện đại.
1.2 Vai trò của con người
LLSX bao gồm: TLSX, người lao động và kỹ năng lao động của họ.
Quan trọng nhất là người lao động.
- Lao động của con người là hoạt động lao động sáng tạo và ngày càng
sáng tạo, con người ngày càng trở thành nguồn lực đặc biệt của sản xuất,

động lực đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri
thức.
- Tích cực đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và
công nghệ vào sản xuất.
- Quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, các nhà
khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành
nghề và công nhân kỹ thuật… có tay nghề cao.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ với nước ngoài, thu
hút nguồn lực bên ngoài phát triển khoa học và công nghệ. Khuyến khích tổ
chức, cá nhân nước ngoài đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tại Việt
Nam. Thu hút chuyên gia nước ngoài, đặc biệt là chuyên gia giỏi người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, tham gia giảng dạy, phát triển khoa học và kỹ
thuật tại Việt Nam.
2.2 Nhân tố con người
- Khi nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta đã nhận ra vai
trò rất quan trọng của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất vì vậy
luôn:
- Đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động: tăng lương,
thưởng tết….
- Chăm lo đến sức khoẻ của người lao động: thực hiện mua bảo
hiểm sức khoẻ, kiểm tra sức khoẻ định kỳ, động viên người lao động tham
gia tập thể dục
- Nâng cao năng lực của người lao động: thường xuyên mở các
lớp bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn, dài hạn, cấp học bổng cho các cán bộ đi
học ở nước ngoài, mở các cuộc thi cho người lao động như “bàn tay
vàng”….
15
Câu 12: Phân tích nội dung qui luật QHSX phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của LLSX? Vận dụng QL này luận chứg tình tất yếu
của sự tồn tại và ptriển của nền KT thị trường định hướng XHCN ở nc

yếu có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, hiện đại phân
công lao động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa.
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được thể hiện
ở hai nội dung cơ bản.
1.1 LLSX quyết định và làm thay đổi QHSX cho phù hợp với nó
Một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà
trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển tất yếu” của lực lượng sản
xuất. Nghĩa là trạng thái mà các yếu tố của quan hệ sản xuất “tạo địa bàn
đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển. Như vậy, ở trạng thái phù hợp cả
ba mặt của quan hệ sản xuất đạt tới thích ứng với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao
động và tư liệu sản xuất, do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết
khả năng của nó. Trong phương thức sản xuất, thì lực lượng sản xuất là nội
dung kinh tế kỹ thuật, quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của quá trình sản
xuất. Nội dung bao giờ cũng quyết định hình thức. Do vậy, lực lượng sản
xuất quyết định quan hệ sản xuất.
Điều này có thể thấy rõ: trong quá trình sản xuất con người luôn có xu
hướng muốn tăng năng suất lao động nhưng lại giảm nhẹ sức lao động, từ
đó họ tìm cách cải tạo công cụ sản xuất hiện có, chế tạo công cụ sản xuất
mới, áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất… Điều đó làm cho lực lượng sản
xuất thường xuyên thay đổi, nó có tính cách mạng…
Khi lực lượng sản xuất thường xuyên biến đổi, tới một giai đoạn nào đó,
lực lượng sản xuất chuyển sang trình độ mới, với tính chất xã hội hóa ở mức
cao hơn. Khi đó quan hệ sản xuất lại tương đối ổn định. Lúc đó, quan hệ
sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt và đến một lúc nào đó quan
hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất”.
Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc

Tuy nhiên việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất phải thông qua việc nhận thức và hoạt động cải tạo xã
hội của con người. Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai
cấp, thông qua cách mạng xã hội.
Tóm lại, qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất là qui luật phổ biến tác động toàn bộ tiến trình lịch sử
nhân loại. Sự thay thế, phát triển đi lên của lịch sử xã hội loài người từ chế
độ công xã nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ chế độ phong kiến, chế
độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản chủ nghĩa tương lai là sự tác
động của các qui luật xã hội, trong đó qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là qui luật cơ bản nhất, nó chi phối
các qui luật khác.
3. Ý nghĩa
- Qui luật về sự phù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX
là qui luật chung, phổ biến của sự phát triển xh loài người →xh loài người
ptriển lần lượt qua các PTSX từ thấp đến cao.
- Quy luật này là cơ sở lý luận chống lại và thoát khỏi quan điểm
CNDT, tôn giáo về ptriển lịch sử
- QL này cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, phê phán các chủ
trương, việc làm sai lầm trong việc XD PTSX mới XHCN ở VN trong thời
kỳ quá độ tiến lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
4. Vận dụng
Vận dụng quy luật sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của
LLSX. "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài
chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; đó
chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Theo quan điểm của Đảng ta, "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày

1. Khái niệm
- LLSX là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên , là trình độ chinh
phục tự nhiên của con người, là mặt tự nhiên của PTSX.
LLSX bao gồm: người lao động với kỹ năng lao động; tư liệu sản xuất
bao gồm tư liệu lao động và đối tượg lao động.
- QHSX là quan hệ giữa người với người trong qtrình sản xuất.
QHSX bao gồm 3 mặt: qhệ về sở hữu với TLSX; qhệ trong tổ chức và
qlý sx; qhệ trong phân phối sản phẩm SX.
2. Mối quan hệ biện chưng giữa LLSX và QHSX
2.1 LLSX quyết định đối với việc hình thành, biến đổi và ptriển QHSX
- Tính chất và trình độ của LLSX như thế nào thì QHSX phải như thế
đó:
+ Tính chất của LLSX là tính chất của TLSX và của LĐ. Nếu t/c TLSX
là công cụ thủ công và t/c LĐ là lđ riêng lẻ →LLSX có tính chất cá nhân.
NGược lại TLSX là máy móc hiện đại và LĐ tạo ra sản phẩm là LĐ hợp tác,
tập thể →LLSX có tính chất xã hội.
+ Trình độ của LLSX: là trình độ phát triển của công cụ lao động, của
kỹ thuật, ở tri thức KH, ở kinh nghiệm và kỹ năng của người lao động; ở
qui mô sx, ở phân công lao động… Trình độ của LLSX càng cao thì sự phan
công lao động càng tỉ mỉ.
+ LLSX thay đổi → QHSX thay đổi, LLSX qui định sự biến đổi của
QHSX.
+ LLSX biến đổi thường xuyên và phát triển đến một mức độ nhất định,
QHSX cũ không còn phù hợp với LLSX →kìm hãm sự phtriển LLSX
→QHSX đó sẽ thay đổi bằng QHSX mới phù hợp với tính chất và trìh độ
của LLSX.
+ Sự thay thế QHSX cũ, lỗi thời = QHSX mới, tiến bộ →PTSX lỗi thời
= PTSX mới tiến bộ, kéo theo sự thay đổi KTTT →→ HT KT-XH cũ = HT
KT-XH mới. Vì vậy trong XH có đối kháng giai cấp thì việc LLSX mới
mâu thuẫn với QHSX lỗi thời sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp, tiền đề tất yếu

độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Tuy Liên Xô và các
nước XHCN Đông âu đã sụp đổ, hệ thống các nước XHCN tuy có bị thu
hẹp nhưng vẫn tồn tại và lý tưởng XHCN tiếp tục được duy trì và phát triển
trong tương lai của loài người. Vận dụng nguyên lý về sự phát triển, sự sụp
đổ của LXo và một số nước XHCN chỉ là sự đi quanh co, thụt lùi trong sự
phát triển đi lên của lịch sử, có nghĩa con đường tiến lên XHCN là con
đường tất yếu của mọi hình thái KT – XH trên trái đất. Mặt khác, lý luận về
HT KT-XH của CN Mác cũng chỉ ra rằng: trong lịch sử XH loài người đã
có 5 HT KT-XH diễn ra tuần tự, nhưng trong những điều kiện cụ thể ở một
số quốc gia có thể có sự vượt qua 1 HT KT-XH nào đó. Nước là là 1 nước ở
trong tình hình đó: bỏ qua HT KT-XH TBCN lên CNXH.
Sau khi giải phóng dân tộc và giành độc lập, Đảng và nhân dân ta đã
chọn con đường tiến thẳng lên CNXH, bỏ qua giai đoạn CNTB. Đây được
xem là một lựa chọn chưa có tiền lệ, nhưng được xem như là tất yếu.
CNTB ra đời đã thực sự cách mạng hóa những QHSX và do đó, đã cách
mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội, đã tạo ra những LLSX nhiều hơn
và đồ sộ hơn LLSX của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại. LLSX mà CNTB
tạo ra chính là nền đại công nghiệp và gắn liền với nó là giai cấp vô sản. Đó
là LLSX có tính xã hội. C.Mác đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội
tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của LLSX với chế độ chiếm
hữu tư nhân TBCN về TLSX.
Nhận thấy được thực tế người bóc lột người vẫn tồn tại trong xã hội
TBCN, chúng ta muốn đi tắt một bước đi lịch sử chưa từng chứng kiến, vì
lợi ích của nhân dân. Thực tế những năm 1976 đến 1986 đã cho thấy sự vi
phạm quy luật QHSX phải phù hợp với LLSX đã dẫn đến hậu quả như thế
nào. Việc áp đặt chế độ công hữu để thay đổi QHSX trong xã hội đã khiến
nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Từ 1986, nền kinh tế thị trường tìm lại chỗ
đứng của nó và quy luật phù hợp giữa QHSX với LLSX tiếp tục đúng.
Như vậy con đường phát triển xã hội VN hiện nay theo hướng XHCN
dù sao đi chăng nữa luôn phải tuân theo quy luật này. Vấn đề lớn nhất trên

(là QHSX của XH tương lai này sinh trong lòng XH cũ, mới hình thành).
Trong đó QHSX thống trị giữ vai trò quyết định.
- KTTT là toàn bộ những quan điểm tư tưởng, chính trị, pháp luật, triết
học, đạo đức, nghệ thuật và các thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng
phái, giáo hội được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định.
KTTT bao gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố có đặc điểm, có qui luật phát
triển riêng nhưng giữa chúng có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau và đều
nảy sinh trên CSHT. Nhà nước chính là bộ phận có quyền lực mạnh nhất
của KTTT.
II. Quan hệ biến chứng giữa CSHT và KTTT
1. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng:
- CSHT nào thì KTTT đó
CSHT quyết định nội dung, cấu trúc, sự vận động phát triển của KTTT.
- Những thay đổi của CSHT sớm hay muộn cũng dẫn đến biến đổi
KTTT.
CSHT cũ mất đi, CSHT mới hình thành thì sớm hay muộn KTTT cũ sẽ
mất đi, KTTT mới ra đời.
Mâu thuẫn trong CSHT làm nảy sinh mâu thuẫn tương ứng trong KTTT
do vậy để giải quyết triệt để mâu thuẫn trong KTTT phải lấy việc giải quyết
mâu thuẫn trong CSHT làm nhân tố quyết định.
2. Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT
- KTTT bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển CSHT sinh ra nó
- KTTT thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của CSHT, tuy nhiên sự
kìm hãm chỉ là nhất thời, sớm hay muộn nó cũng bị thay thế bằng KTTT
mới tiến bộ.
- Trong thời đại ngày nay, vai trò của KTTT càng tăng lên rõ rệt, càng
thể hiện là yếu tố có tác động mạnh mẽ đến tiền trình lịch sử. Tuy vậy, nếu
quá nhấn mạnh hoặc thổi phồng vai trò của KTTT phủ nhận tính tất yếu của
KT của đời sống XH sẽ rơi vào CNDT, chủ quan, duy ý chí. Nểu chỉ tuyệt
đối hóa vai trò quyết định của KT sẽ ko thấy được tác động tích cực của

dung: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính công; xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
- Tuy nhiên, tốc độ CCHC còn chậm, chưa nhất quán, hiệu quả còn
thấp. Nền hành chính có chuyển biến song vẫn tụt hậu so với tốc độ và yêu
cầu cải cách của nền hành chính hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình
trạng chung là nhiều cán bộ lãnh đạo và cán bộ công chức ngại thực hiện cơ
chế một cửa, do ngại bị bó buộc, ngại bị rút bớt quân số và lợi ích cục bộ…
Mặt khác, trình độ công chức, cán bộ ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn
nhiều bất cập, tỷ lệ đạt chuẩn thấp, nhiều nơi chỉ đạt 20-30%. Trên thực tế,
tuy là “một cửa” nhưng vẫn còn nhiều “ổ khóa” do không ít cán bộ, công
chức tiêu cực, nhũng nhiễu tạo ra nên người dân chưa hết phiền hà. Trong
khi đó, sự chỉ đạo thực hiện cải cách lại thiếu kiên quyết và nhất quán ở các
cấp, các ngành; tiền lương mới chỉ đáp ứng được 1/3 nhu cầu đời sống của
cán bộ, công chức. Hội nghị đã tập trung thảo luận các giải pháp đẩy mạnh
CCHC giai đoạn 2, từ 2006-2010.
- Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ
năm 1986, tính đến nay đã gần 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng
thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũng được tiến
hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã
thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện
rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước.
19
Câu 15: Vận dụng MQH biện chứng giữa CSHT và KTTT xã hội để
phân tích vai trò lãnh đao của ĐCSVN đối với sự phát triển xã hội
nước ta?
I. Định nghĩa
- CSHT là toàn bộ những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của 1 HT KT-
XH nhất định trên đó XD lên KTTT.
CSHT bao gồm: QHSX thống trị (đại diện cho XH có giai cấp thống
trị), QHSX là tàn dư của XH trước để lại, QHSX là mầm mống của XH sau

vai trò lãnh đạo đối với sự phát triển của xã hội nước ta. Mặc dù giữ vai trò
lãnh đạo, chỉ huy mọi hoạt động của xã hội nhưng không thể nào làm thay
đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội.
- Thực tế, sự phát triển của xã hội nước ta đã chứng minh một cách rõ
rệt mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT mà cụ thể ở đây là vai trò
lãnh đạo của đảng cộng sản với tư cách là một yếu tố của KTTT. Chúng ta
hãy lấy tình hình xã hội Việt Nam trước và sau đổi mới năm 1986 để phân
tích làm sáng tỏ.
+ Trước đổi mới: ta thấy rằng KTTT không phù hợp với CSHT. Cụ thể
CSHT còn ở một trình độ thấp, như ở trên đã nói CSHT là toàn bộ các
QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội cụ thể. Trước đổi mới, học
tập theo mô hình kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, tiêu
biểu là Liên Xô, đảng cộng sản Việt Nam chủ trương đưa nước ta đi lên chủ
nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn TBCN. Do vậy, trong nền kinh tế, chúng ta
thực hiện chế độ kinh tế bao cấp với QHSX là quan hệ sở hữu tập thể về tư
liệu sản xuất. Nền kinh tế tồn tại các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể,
các hợp tác xã làm ăn theo mô hình tập thể ra đời.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài áp dụng nền kinh tế bao cấp, nước ta
rơi vào sự khủng hoảng trầm trọng về kinh tế. Nhưng Hợp tác xã làm ăn tập
thể làm ăn không có lãi, nhà nước lại bao cấp mọi mặt, nên không phát huy
được sức sáng tạo của cá nhân. Điều này cho thấy rằng, KTTT của chúng ta
đã phát triển không phù hợp với CSHT. Để thoát khỏi cuộc khủng hoảng về
kinh tế, đòi hỏi Đảng cộng sản phải có những điều chỉnh hợp lý.
+ Cuối những năm 1980, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu rơi vào
cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và phải tiến hành các cuộc cải cách, cải tổ.
Đứng trước tình hình ấy, Đảng cộng sản Việt Nam đã xem xét lại đường lối
của mình. Chúng ta vẫn kiên định đi theo con đường CNXH mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Tuy nhiên, để có thể đi tới Xã hội cộng sản,
chúng ta chỉ bỏ qua Chế độ Tư bản chủ nghĩa chứ không bỏ qua giai đoạn
Tư bản chủ nghĩa. Vì đây là giai đoạn để chúng ta phát triển tiềm lực kinh

nguyên thủy, CHNL, Phong kiến, TBCN, XHCN.
- Sự vận động, phát triển và thay thế nhau của các HTKTXH ko tách rời
nhau mà có quan hệ biện chứng với nhau hình thành nên những quy luật
khách quan, phổ biến của XH, trong đó quy luật về sự phù hợp QHSX với
trình độ của LLSX giữ vai trò quyết định. Những QHSX lỗi thời được thay
thế bằng QHSX mới cao hơn kéo theo sự thay đổi của KTTT, do đó HT
KTXH cũ = HTKTXH mới cao hơn, tiến bộ hơn. Các quá trình diễn ra theo
qui luật khách quan, không theo ý muốn chủ quan của con người, chính do
sự tác động của các qui luật này mà các HTKTXH vận động và phát triển
thay thế nhau từ thấp đến cao như 1 quá trình lịch sử tự nhiên.
- Theo qui luật chung thì sự phát triển theo tuần tự từ thấp đến cao
nhưng thực tế thì diễn ra ko hoàn toàn như vậy vì mỗi dân tộc có quá trình
lịch sử cụ thể, vô cùng phong phú, có hàng loạt những yếu tố tác động làm
cho quá trình lịch sử đa dạng và thường xuyên biến đổi.
Một quốc gia trong tiến trình phát triển của mình có thể bỏ qua một chế
độ này để lên một chế độ xã hội khác cao hơn (lấy ví dụ đối với lịch sử thế
giới và Việt Nam).
VD: Nước Mỹ đi lên CNTB không trải qua chế độ PK, chính vì những
điều đó khi có những tiền đề lịch sử nhất định trong thời đại ngày nay, một
nước có thể bỏ qua chế độ TBCN, phát triển theo định hướng XHCN
3. Ý nghĩa
- Học thuyết M-L về hình thái KTXH vạch ra nguồn gốc, động lực bên
trong của sự phát triển xh, chỉ ra nguyên nhân và cơ sở cho sự xuất hiện và
biến đổi của các hiện tượng xh, đặt cơ sở cho các khoa học xh, biến khoa
học xh thành 1 KH thực sự, khắc phục mọi quan điểm duy tâm, tôn giáo về
lịch sử.
- Học thuyết HTKTXH trang bị cho con người phương pháp khoa học
để nghiên cứu sự phát triển của XH qua các chế độ xh khác nhau, hiểu rõ cơ
cấu chung của 1 HT KTXH và những qui luật chi phối sự vận động và phát
triển của XH.

kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.
Từ 1 xh vốn là thuộc địa nửa phong kiến, LLSX yếu kém, lại trải qua
hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại rất nặng nề. Các thế lực thù địch
lại tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp XD CNXH và nền độc lập dân tộc của
nhân dân ta. Theo lý luận này, các HT KTXH vận động theo qui luật cơ bản
về sự phù hợp giữa QHSX và LLSX, đưa đến sự phát triển tuần tự của các
HTKTXH TBCN đó là qui luật phổ biến, nhưng dựa trên phép biện chứng
của cái phổ biến và cái đặc thù, dựa vào kinh nghiệm lịch sử, đường lối nói
trên vẫn là phù hợp qui luật, vì nước ta đã có những điều kiện nhát định cho
phép:
• Điều kiện bên ngoài: Cuộc CM KH-CN đã đem lại những thành tựu
to lớn làm cho LLSX trên thế giới tăng lên gấp bội; xu hướng toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế cho phép chúng ta có thể khai thác thành tựu của các
nước để sử dụng các thành tựu đó như những bước trung gian về kinh tế.
• Điều kiện trong nước:
+ ĐCSVN lãnh đạo từ hơn 70 năm nay dựa trên nền tảng của CN Mác
Lê và tư tưởng HCM có đủ bản lĩnh để lãnh đạo đất nước bỏ qua thời kỳ
quá độ.
+ Chúng ta có 1 nhà nước kiểu mới (nhà nước của dân, do dân, vì dân)
và 1 hệ thống chính trị đủ mạng để đưa nền kinh tế đất nước theo định
hướng XHCN.
21
Câu 18: Phân tích nội dung những nhận thức về CNXH và con
đường đi lên CNXH ở VN
1. Nội dung những nhận thức về CNXH
- Dự báo của C.Mac và Lênin về CNXH
C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận dụng lý luận HTKTXH để phân tích xã
hội hiện thực là xã hội tư bản. Hai ông tìm ra quy luật phát sinh, phát triển
và diệt vong của nó, đồng thời dự báo về sự ra đời HTKTXH mới cao hơn –
hình thái cộng sản chủ nghĩa – mà giai đoạn đầu là CNXH.

- CNXH theo mô hình kế hoạch hóa tập trung và vai trò lịch sử của
mô hình đó
Năm 1924, Lênin mất. Từ đó Liên Xô chuyển dần sang xây dựng
CNXH theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Mô hình đó có những đặc
trưng sau:
+ Dựa trên chế độ công hữu về TLSX chủ yếu dưới hai hình thức: toàn
dân và tập thể.
+ Việc sản xuất cái gì, như thế nào, phân phối cho ai, giá cả như thế nào
được quyết định từ nhà nước và mang tính pháp lệnh.
+ Phân phối mang tính chất bình quân và trực tiếp bằng hiện vật là chủ
yếu, xem nhẹ các quan hệ hàng hóa – tiền tệ.
+ Nhà nước quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, xem nhẹ các
biện pháp kinh tế.
Trong điều kiện Liên Xô bị các nước Tư bản bao vây, mô hình đó đã có
vai trò to lớn trong việc huy động sức người, sức của vào sự nghiệp xây
dựng đất nước.
Chỉ trong một thời gian ngắn Liên Xô đã thực hiện thắng lợi sự nghiệp
công nghiệp hóa.
Đến CTTG 2 nổ ra, Liên Xô phải tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại. Trong điều kiện đó, mô hình kế hoạch hóa tập trung lần nữa phát huy
vai trò tích cực trong việc huy động sức người, sức của cho chiến tranh.
Từ những thành tựu mà Liên Xô đạt được, có quan điểm cho rằng, mô
hình kế hoạch hóa tập trung là mô hình kinh tế của CNXH, còn kinh tế thị
trường là mô hình của CNTB.
Nhưng sau đó, mô hình kế hoạch hóa tập trung đã bộc lộ những hạn chế
như: không khai thác được các năng lực sản xuất trong nước, không phát
huy được nhiệt tình và tính chủ động sáng tạo của con người trong quá trình
lao động sản xuất, không đẩy nhanh được tiến bộ khoa học công nghệ,
không mở rộng được quan hệ kinh tế quốc tế
Từ đó, năng suất lao động xã hội thấp, hàng hóa nghèo nàn và chất

tạo ra. Vì thế, vấn đề quá độ lên CNXH vẫn là xu hướng của thời đại. Vấn
đề đó được đặt ra ở các nước khác nhau với những mức độ khác nhau và sẽ
được giải quyết phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước.
2. Con đường đi lên CNXH ở VN
a. Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở VN
Việc Đảng ta luôn kiên định con đường tiến lên CNXH là phù hợp với
xu hướng của thời đại và điều kiện cụ thể của nước ta. Điều đó thể hiện ở
chỗ:
Thứ nhất, mặc dù CNXH bị khủng hoảng và sụp đổ, nhưng đó là sự sụp
đổ của mô hình CNXH tập trung, quan liêu, bao cấp chứ không phải CNXH
với tính cách là 1 xã hội cao hơn CNTB.
CNTB mặc dù chưa hết vai trò lịch sử và đang đạt được nhiều thành tựu
to lớn nhưng chính những thành tựu đó lại trở thành cái phủ định CNTB và
bị thay thế bằng xã hội khác cao hơn – CNXH, CNCS.
Vì vậy, lựa chọn con đường tiến lên CNXH là phù hợp với xu hướng
của thời đại
Thứ hai, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là con đường mà Đảng,
Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn từ năm 1930. Qua thời gian dài thử
thách, mặc dù còn vấp phải nhiều sai lầm nhưng con đường đó đã mang lại
nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội và nó vẫn được đại đa số quần
chúng nhân dân vẫn tin tưởng.
Đảng ta đã xác định: “xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tạo ra sự
biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn,
phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng
đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong
22
các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái
mới và cái cũ”.
b. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ
quá độ tiến lên CNXH ở VN

Xuất phát từ mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị và các mặt khác của
đời sống xã hội mà lý luận hình thái kinh tế xã hội đã chỉ ra, trong quá trình
xây dựng CNXH ở nước ta, gắn liền với phát triển kinh tế, xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước phải
không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân; nâng cao vai trò của các tổ chức quần chúng trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Đồng thời với phát triển kinh tế phải phát triển văn hóa, xây dựng nền
văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc nhằm không ngừng nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân; phát triển giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, và theo quan điểm của Đảng ta,
đó là “quốc sách hàng đầu”; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, thực hiện công
bằng và dân chủ trong đời sống xã hội.
Câu 19: Quan điểm của CN Mác Lê về mqh giữa vấn đề giai cấp,
dân tộc, nhân loại và sự vận dụng của ĐCSVN trong giai đoạn cách
mạng hiện nay?
1. Khái niệm
1.1. Giai cấp
- Giai cấp là những tập đoàn người to lớn khác nhau về địa vị của họ
trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về
quan hệ của họ. Những quan hệ này thường được pháp luật quy định và thừa
nhận đối với tư liệu sản xuất, về vai trò trong tổ chức lao động xã hội. Dẫn
đến khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải của xã hội mà họ
được hưởng.
- Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt
lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong
một chế độ kinh tế xã hội nhất định.
- Nguồn gốc chủ yếu dẫn đến sự hình thành giai cấp là do sự xuất hiện
chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.

- Vai trò dân tộc đối với g/c:
+ Dân tộc là địa bàn trực tiếp của các quá trình kinh tế- xã hội, các cuộc
đấu tranh giai cấp, các biến cố chính trị, các cuộc cách mạng xã hội.
+ Vấn đề dân tộc là vấn đề hàng đầu của cmvs.
+ Áp bức dân tộc tác động mạnh mẽ tới áp bứcg/c, nuôi dưỡng áp bức
g/c, làm sâu sắc thên áp bức g/c.
+ Nếu áp bức giai cấp là nguyên nhân sâu xa cua áp bức dân tộc thì áp
bức dân tộc tác động mạnh mẽ trở lại áp bức giai cấp. Nó nuôi dưỡng áp
bức giai cấp và làm sâu sắc thêm áp bức giai cấp.
+ Dân tộc là cơ sở của g/c, nuôi dưỡng đấu tranh g/c, tạo cơ sở sức
mạnh g/c.
- Giai cấp tồn tại trong lòng dân tộc, tác động trở lại theo hai hướng tích
cực và tiêu cực
- Đấu tranh giai cấp diễn ra trên địa bàn dân tộc, thúc đẩy dân tộc phát
triển. Mặt khác, nội dung, tính chất của cuộc đấu tranh giai cấp mang đậm
dấu ấn dân tộc.
23
- Phong trào dân tộc tiến bộ góp phần thúc đẩy đấu tranh giai cấp.
Ngược lại, phong trào dân tộc lạc hậu sẽ kìm hãm đấu tranh giai cấp.
* MQH dân tộc và nhân loại:
- Cộng đồng dân tộc thuộc về cộng đồng nhân loại
- Nhu cầu, lợi ích nhân loại được thể hiện qua từng dân tộc
- Việc thực hiện lợi ích dân tộc tác động đến thực hiện lợi ích chung
toàn nhân loại
- Trình độ phát triển của văn minh nhân loại thúc đẩy dân tộc phát triển
* MQH giữa giai cấp và nhân loại:
- Sự phát triển của các giai cấp, cá nhân gắn liền với sự phát triển của
toàn nhân loại.
+ Con người là một thực thể sinh vật, xã hội do đó, nhân loại là cộng
đồng của những thực thể sinh vật- xã hội.

địa vị của mỗi cá nhân, phải bình đẳng hoàn toàn nghĩa là bình đẳng cả ở
lĩnh vực kinh tế và xã hội. Do đó, giai cấp công nhân chỉ được giải phóng
khi mà tiêu diệt mọi điều kiện sinh hoạt phi nhân tính của xã hội hiện đại,
nghĩa là xóa bỏ mọi hình thức áp bức bọc lột.
- Đấu tranh giai cấp thắng lợi thúc đẩy nhân loại tiến lên
- Trình độ phát triển của nhân loại, hoàn cảnh thời đại sẽ ảnh hưởng tới
quá trình đấu tranh giai cấp ở từng nước theo cả hai hướng tích cực và tiêu
cực.
- Việc giải quyết vấn đề toàn nhân loại luôn bị chi phối bởi lợi ích các
giai cấp.
- Nhân loại phát triển tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề dân tộc và
giai cấp.
2. Sự vận dụng của Đảng ta
- Nhân tố quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi vẻ vang đó
là ĐCSVN đứng đầu là HCM đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa giai
cấp, dân tộc và nhân loại trong từng điều kiện lịch sử cụ thể. Nét đặc biệt
nhất của việc giải quyết mối quan hệ đó là gắn liền độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội. Mối liên hệ này xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, chi
phối các mặt khác của cuộc cách mạng.
- Để tận dụng thời cơ, đẩy lùi thách thức, đưa sự nghiệp cách mạng Việt
Nam tiến lên, vấn đế quan hệ giai cấp, dân tộc, nhân loại ở Việt Nam cần
đảm bảo những nội dung sau:
+ Giải quyết tốt mối quan hệ giai cấp với đoàn kết dân tộc.
+ Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường với đoàn kết dân tộc
+ Giải quyết mối quan hệ giữa giữ vững độc lập tự chủ với mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế, phát huy sức mạnh nội lực của dân tộc với tranh
thủ sức mạnh của thời đại.
+ Đảng ta luôn kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng
CN Mác Lê tư tưởng HCM

bảo vệ trật tự hiện hành phù hợp với lợ ích của mình và đàn áp sự phản
kháng của các g/c khác.
+ Trong xã hội có g/c đối kháng, g/c nào thống trị về kinh tế sẽ nắm
chính quyền nhà nước trong tay vì chỉ có g/c ấy mới có khả năng vật chất,
để tổ chức, duy trì bộ máy nhà nước. G/c bị trị xét về bản chất không có nhà
nước.
+ Xét về bản chất, nhà nước chỉ là công cụ chuyên chính của một g/c,
không có nhà nước đứng trên g/c, đứng ngoài g/c, là công cụ bảo vệ lợi ích
của g/c thống trị về kinh tế nhằm trấn áp các g/c khác và toàn xã hội.
2. Quá trình hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch
sử tư tưởng
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở
đó có sự ngự trị cao nhất của pháp luật với nội dung thực hiện quyền lực
thuộc về nhân dân.
* Từ thời cổ đại, mầm mống về tư tưởng NNPQ đã xuất hiện cả ở
phương Đông và ở phương Tây.
- Ở phương Đông, đó được xem là tư tưởng pháp trị của các nhà pháp
gia như: Quản Trọng, Thương Ưởng, Hàn Phi Quản Trọng chủ trương đề
cao "Luật, lệnh, hình, chính", vua phải giữ pháp, "không vì vua muốn mà
thay đổi lệnh, lệnh đáng tôn hơn vua".
- Ở phương Tây, mầm mống tư tưởng pháp quyền lúc bấy giờ là chống
lại "thuyết đặc miễn trách nhiệm của nhà vua", tư tưởng về NNPQ ra đời
chống lại sự chuyên quyền, độc đóan, gắn liền với việc xác lập và phát triển
nền dân chủ; bạo lực, lộng quyền và hỗn lọan là cái tương phản với công
bằng, pháp luật, cần phải xóa bỏ. Các nhà tư tửơng pháp quyền thời kì này
tiêu biểu là Solon, Heraclite, Socrate, Platon, Aristote, Ceceron
* Thời trung cổ, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng thời kì này không có
mầm mống tư tưởng về NNPQ vì sự ngự trị của bóng đêm thần học. Tuy
nhiên,cũng có người cho rằng vẫn có những mầm mống về NNPQ trong
chính các nhà tư tưởng thần học. Các nhà thần học thời kì này tiếp thu tư

độc đóan; Nhà nước phải tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do của con người
và quyền công dân; quyền lực Nhà nước được chia thành ba quyền: quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp giao cho ba cơ quan Nhà nước tương ứng theo
nguyên tắc quyền lực giám sát kiềm chế quyền lực
Học thuyết NNPQ không chỉ có những tư tưởng của các triết gia tư sản
mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển CNXH. Marx, Engels
và Lenin dù không chính thức nói đến NNPQ như là một trong những nội
dung chính yếu trong học thuyết của mình nhưng các ông luôn quan tâm đến
Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật. Trong các bài viết,bài nói
ít nhiều họ đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền. Đó là những tư tưởng đầu
tiên về NNPQ XHCN. Quan điểm của Marx và Engels được thể hiện trong
các tác phẩm như: "Sự khốn cùng của triết học", "Phê phán triết học pháp
quyền Hegel".
Marx và Engels đặt vấn đề xây dựng một xã hội mới, trong đó "tự do
của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của tất cả mọi người", là "sự phát
triển tòan diện của con người". Có thể nói,"vì con người" và "giải phóng
con người" là mục tiêu của một NNPQ kiểu mới.
Về mặt Nhà nước, Marx và Engels chủ trương xác lập một chế độ dân
chủ triệt để, "do nhân dân tự quy định". Trong xã hội mới sẽ tạo ra nhiều
điều kiện để giải phóng cá nhân, rằng "xã hội sẽ không giải phóng cho mình
được nếu không giải phóng mỗi một cá nhân riêng biệt" (Engels) và xã hội
đó phải được xây dựng trên cơ sờ pháp luật.
Lenin tiếp thu và phát triển tư tưởng của Marx và Engels và đã đưa học
thuyết của các ông đến mức độ hoàn bị hơn. Về NNPQ, trong tư tưởng về
Nhà nước và cách mạng, về xây dựng xã hội mới của Lenin cũng có chứa
yếu tố pháp quyền.Lenin hướng đến một xã hội dân chủ rộng rãi, giải phóng
con người và phát triển tòan diện con người.
Như vậy, NNPQ là một Nhà nước thượng tôn pháp luật và phải bảo đảm
dân chủ. Lịch sử NNPQ đã có từ xa xưa và ngày càng hoàn thiện qua các
giai đọan lịch sử khác nhau và trở thành học thuyết vào thế kỷ XVII- XVIII,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status