Chơng 2
kinh tế ô nhiễm
Trong chơng này, chúng ta sẽ tiếp cận nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trờng và
tìm các biện pháp giảm thiểu phát thải chất ô nhiễm, giảm thiểu tác hại do ô nhiễm
gây ra dới góc độ nghiên cứu kinh tế qua ba vấn đề :
- Ô nhiễm môi trờng dới góc độ kinh tế ;
- Các công cụ kinh tế giải quyết vấn đề môi trờng ;
- Tính toán chi phí thiệt hại do ô nhiễm trong hạch toán kinh tế.
Ô nhiễm môi trờng đã đợc nghiên cứu dới nhiều góc độ, đáng chú ý là khả
năng gây hại của chất ô nhiễm khi hàm lợng vợt qua giới hạn nào đấy. Suy giảm sức
khoẻ cộng đồng, ảnh hởng xấu tới các hệ sinh thái, giảm sản lợng cây trồng, vật
nuôi, suy thoái tài nguyên là những biểu hiện thiệt hại do ô nhiễm gây nên ở nhiều
nơi. Dới góc độ kinh tế, ngời ta đã cố gắng lợng hoá mức thiệt hại này bằng đơn vị
tiền tệ theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt trong đánh giá hiệu quả kinh tế các dự
án, giúp xem xét dự án toàn diện hơn. Một số phần trong chơng này đợc trích trong
[1, 4], có hiệu chỉnh cần thiết.
2.1. Mức ô nhiễm tối u
2.1.1. Khái niệm về biến đổi môi trờng
Trong quá trình hoạt động của con ngời nh : khai thác tài nguyên, sản xuất,
tiêu thụ các sản phẩm, và hoạt động của thiên nhiên nh : động đất, núi lửa, bão, lũ,
môi trờng đã bị biến đổi. Có 3 dạng biến đổi cơ bản :
- Ô nhiễm môi trờng là sự thay đổi tính chất của môi trờng, vi phạm tiêu chuẩn
môi trờng. Ví dụ, không khí bị ô nhiễm khi thành phần bị thay đổi, có mùi lạ, có khí
độc, vợt quá tiêu chuẩn cho phép, làm giảm tầm nhìn.
- Suy thoái môi trờng là sự thay đổi chất lợng và số lợng của thành phần môi
trờng, gây ảnh hởng xấu cho đời sống con ngời và thiên nhiên.
- Sự cố môi trờng là các tai biến hoặc rủi ro trong quá trình hoạt động của con
ngời, hoặc biến đổi bất thờng của thiên nhiên gây suy thoái môi trờng nghiêm trọng.
Sự cố môi trờng có thể xảy ra do : bão lụt, hạn hán, động đất, sụt lở, cháy rừng ; sự
cố kỹ thuật, tìm kiếm, thăm dò hay sự cố trong các lò phản ứng hạt nhân.
2.1.2. Ô nhiễm nh là một ngoại ứng
hoạt động sản xuất) và lợi nhuận biên cá nhân của hoạt động sản xuất. Cá nhân đợc
hiểu là nhà máy hay ngành sản xuất, thậm chí hệ sản xuất nào đó (sau này gọi
chung là hệ sản xuất), vì vậy, lợi nhuận cá nhân chính là lợi nhuận riêng của hệ đó.
Trên đồ thị (hình 2.1), trục hoành Ox là mức sản xuất Q, trục tung Oy biểu thị chi
phí hoặc lợi nhuận, đờng MNPB biểu thị lợi nhuận ròng biên cá nhân - lợi nhuận thu
đợc khi hoạt động thêm một đơn vị sản phẩm, MEC là chi phí ngoại ứng biên - chi
phí xã hội phải chịu hoặc phải trả để khắc phục các ngoại ứng.
Đờng MNPB trên hình 2.1 đợc xây dựng xuất phát từ công thức :
MNPB = P - MC. (2.1)
ở đây : MC là chi phí biên cho việc sản xuất ra sản phẩm gây ô nhiễm, MC
gồm có chi phí bất biến (cố định) và chi phí khả biến (biến đổi), P là giá sản phẩm.
Trong trờng hợp này, MC đợc coi là tỷ lệ thuận với Q và đợc biểu diễn bằng đờng
thẳng. Trong nền kinh tế thị trờng với cạnh tranh là hoàn hảo thì P đợc coi là không
đổi khi thay đổi mức sản xuất. Để có cạnh tranh hoàn hảo, ít nhất phải có các điều
kiện sau :
46
- Có nhiều ngời sản xuất cùng sản phẩm và không có ngời sản xuất nào có thể
quyết định giá cả.
- Thông tin về sản xuất và các thông tin khác phải đầy đủ, công khai (thông tin
hoàn hảo).
- Mọi chi phí phải đợc phản ánh trong giá thị trờng.
- Hàng hoá trao đổi trên nguyên tắc có thể sở hữu cá nhân.
Với giả thiết về P và MC nh vậy, đờng MNPB cũng là đờng thẳng nhng tỷ lệ
nghịch với Q (hình 2.1).
Từ hình 2.1 cho thấy, mức sản xuất Q
p
là mức mà tại đó lợi nhuận cá nhân đạt
tối đa (diện tích OXQ
p
). Nhng cũng tại mức hoạt động Q
).
Tại mức hoạt động Q
*
, ta có :
MNPB = MEC (2.2)
Ta sẽ chứng minh rằng, với mức hoạt động này, lợi nhuận toàn xã hội do hoạt
động sản xuất đa lại là lớn nhất (diện tích tam giác OXY). Lợi nhuận toàn xã hội đ-
ợc hiểu là hiệu giữa lợi nhuận mà hệ kinh tế thu đợc và chi phí ngoại ứng (chi phí
bên ngoài).
Tại mức hoạt động Q
*
, lợi nhuận do hệ kinh tế thu đợc chính là diện tích hình
thang OQ
*
YX, còn chi phí ngoại ứng là diện tích hình tam giác OQ
*
Y. Vì vậy, lợi
nhuận toàn xã hội là diện tích tam giác OYX (hình 2.1) là lợi nhuận lớn nhất có thể
thu đợc.
Thật vậy, nếu hoạt động ở mức thấp hơn Q
*
, giả sử ở Q
1
, khi đó lợi nhuận toàn
xã hội thu đợc chỉ là diện tích hình thang OCRX nhỏ hơn so với diện tích hình A. Nếu
hoạt động ở mức sản lợng cao hơn, giả sử ở Q
2
, liệu sản xuất thêm lợng từ Q
*
đến Q
.
Xuất phát từ (2.1) và (2.2), tại Q
*
ta có :
P - MC = MEC (2.3)
hay : P = MC + MEC (2.4)
Trong đó : P là giá sản phẩm, MC + MEC là tổng chi phí biên do hoạt động
gây ra ngoại ứng. Tổng chi phí này gọi là chi phí xã hội biên (MSC).
Vậy, tại mức hoạt động tối u Q
*
ta có :
MNPB = MEC
P = (MC + MEC) = MSC (2.5)
Kinh tế học vi mô gọi đây là điều kiện tối u Pareto. Tại
mức hoạt động Q
*
sẽ gây nên ngoại ứng tối u và ô nhiễm tại mức hoạt động
này đợc gọi là ô nhiễm tối u.
2.1.4. Sự thay đổi của ô nhiễm
48
Sản xuất là tất yếu trong quá trình phát triển. Theo quy luật nhiệt động học,
không tồn tại sản phẩm mà không kèm theo phát thải chất ô nhiễm. Nh vậy, muốn
đạt đợc mức ô nhiễm bằng 0, có nghĩa là không có hoạt động kinh tế là không phù
hợp với xu thế phát triển.
Cơ sở khoa học môi trờng đã chỉ ra rằng, môi trờng có ba chức năng cơ bản, đó
là :
- Môi trờng là không gian sống của con ngời.
- Môi trờng là nguồn tài nguyên.
- Môi trờng là nơi chứa đựng phế thải sản xuất và sinh hoạt.
Nhờ có chức năng thứ ba mà môi trờng có khả năng hấp thụ, đồng hoá chất
hiện ngoại ứng và khi đó mới có chi phí bên ngoài. Song, vì Q
a
thờng nhỏ nên khi
chọn đơn vị sản lợng Q đủ lớn thì W
a
rất gần 0 nên chúng ta có thể vẽ đờng MEC
xuất phát từ gốc toạ độ.
Hình 2.2 cũng cho chúng ta thấy rằng, ô nhiễm bằng 0 cha phải là tối u và ô
nhiễm bằng 0 không đồng nghĩa với hoạt động kinh tế bằng 0.
Mức hoạt động Q
*
là mức hoạt động kinh tế tối u nên mức thải W
*
tơng ứng
cũng là mức thải tối u. Để đơn giản trong quá trình nghiên cứu, đờng chi phí MEC
đợc coi là xuất phát từ gốc toạ độ (O).
2.1.5. Ai là ngời gây ô nhiễm
Xét một cách khách quan, ngời gây ô nhiễm là các công ty sản xuất, song cũng
có thể là các cá nhân nh ngời lái xe gây tiếng động, ngời dùng radio gây tiếng ồn,
Tổng hợp các đối tợng gây ô nhiễm và chịu tác động của ô nhiễm nh trong bảng 2.1.
Bảng 2.1. Ngời gây ô nhiễm và ngời chịu ô nhiễm
Ngời gây ngoại ứng Ngời chịu ngoại ứng
Công ty Công ty
Công ty Các cá nhân
Các cá nhân Công ty
Các cá nhân Các cá nhân
Chính phủ Công ty
Chính phủ Các cá nhân
Nguồn [10]
Chính phủ cũng đợc coi nh một nhân tố gây ngoại ứng, bởi lẽ, chính phủ có thể
động sản xuất. Hay nói cách khác, ngời sản xuất không đợc quyền gây ô nhiễm
(không có ngoại ứng).
Nếu nhà sản xuất hoạt động với sản lợng Q nào đó, ví dụ tại điểm Q
d
trên trục
hoành (hình 2.3). Tại mức hoạt động này đã gây ra một ngoại ứng (chi phí bên
ngoài) có diện tích OcQ
d
. Điều này trái với mục đích của ngời bị ô nhiễm, vì vậy, sẽ
xảy ra sự mặc cả (thông qua thị trờng) giữa ngời gây ô nhiễm và ngời chịu ô nhiễm.
Nếu ngời gây ô nhiễm đền bù cho ngời chịu ô nhiễm một khoản chi phí tối thiểu lớn
hơn chi phí bên ngoài do ngoại ứng gây ra (lớn hơn diện tích OcQ
d
), thì ngời gây ô
nhiễm vẫn thu đợc lợi nhuận ròng cá nhân (diện tích Oabc) lớn hơn nhiều so với chi
phí phải bỏ ra để đền bù cho ngời chịu ô nhiễm.
51
O
Q
d
Q
*
Sản l ợng
MEC
Chi phí
Lợi nhuận
Hình 2.3. Cơ sở thoả thuận để đạt mức Q
*
Q
f
Với mức hoạt động Q
p
, ngời chịu ô nhiễm gánh chịu chi phí bên ngoài lớn, vì
vậy, họ muốn nhà sản xuất giảm mức hoạt động (nhỏ hơn Q
p
). Giả sử, giảm hoạt
động về mức sản lợng Q
f
(Q
p
> Q
f
), lợi nhuận sẽ bị giảm một lợng bằng diện tích
Q
p
gQ
f
. Nh vậy, sẽ xảy ra mặc cả giữa ngời gây ô nhiễm và ngời chịu ô nhiễm. Nếu
ngời chịu ô nhiễm bỏ ra một khoản chi phí tối thiểu lớn hơn lợi nhuận nhà sản xuất
bị thiệt hại do giảm mức sản xuất từ Q
p
đến Q
f
thì ngời sản xuất (ngời gây ô nhiễm)
sẵn sàng chấp nhận. Điều đó lợi cho ngời chịu ô nhiễm, mặc dù họ bỏ ra một khoản
chi phí đền bù (bằng diện tích Q
f
gQ
p
) nhng lại giảm đợc (tránh đợc) chi phí bên
,
nghĩa là, tại đó P = MSC (chi phí xã hội).
Khi mặc cả trên thị trờng, MNPB là đờng mặc cả của bên gây ô nhiễm, cũng là
đờng giới hạn để quyết định đền bù cho ngời chịu ô nhiễm. Nhng trong hoàn cảnh
cạnh tranh không hoàn hảo, đờng mặc cả không còn là P - MC (không bằng MNPB)
nữa. Bởi vì, trong cạnh tranh không hoàn hảo, đờng lợi nhuận biên cá nhân MNPB =
MR - MC (MR là doanh thu biên). Lúc này, MR P, vì vậy, đờng cong MNPB =
MR - MC không còn đúng để thoả thuận nữa. Khi đó, MNPB = P - MC trong cạnh
tranh hoàn hảo khác MNPB = MR - MC trong cạnh tranh không hoàn hảo.
52
- - Trờng hợp thứ hai : Tài sản trong trờng hợp thoả thuận thờng là tài sản
chung, tức là thoả thuận chung giữa các nớc, hoặc giữa dân chúng và nhà máy điện
nguyên tử. Khi đó, rất khó tìm đợc đại diện đứng ra để thoả thuận.
Trong một số trờng hợp, tuy có thoả thuận nhng chi phí để thoả thuận lớn hơn
chi phí đợc đền bù nên trong trờng hợp này, tối u nhất là không thoả thuận.
- Trờng hợp thứ ba : Ngay cả khi chi phí giao dịch nhỏ hơn chi phí đợc đền bù,
nhng ngời chịu ô nhiễm cha đợc xác định thì định lý Coase cũng không còn phù
hợp. Ví dụ, trong trờng hợp chôn chất thải độc hại, ngời gây ô nhiễm đợc xác định,
nhng ngời chịu ô nhiễm cha ra đời, vì việc chôn chất thải sau hàng chục năm mới
gây hậu quả.
- Trờng hợp thứ t : Tác nhân gây ô nhiễm bao gồm nhiều nguồn, phía chịu ô
nhiễm cũng không xác định rõ ; lúc này, cần có sự can thiệp của Chính phủ.
- Trờng hợp thứ năm : Đe doạ để đợc đền bù. Khi quyền tài sản thuộc ngời gây
ô nhiễm, họ nhận đợc sự đền bù từ phía ngời chịu ô nhiễm ; lợi dụng sự đền bù này,
một số ngời khác có quyền tài sản đòi hỏi đợc đền bù, nếu không sẽ sản xuất và gây
ô nhiễm, mặc dù trớc đây họ cha bao giờ sản xuất. Ví dụ : ở một số nớc có những
vùng đất có ý nghĩa môi trờng, nhà nớc đền bù cho ngời sở hữu vùng đất này để họ
không canh tác ; lợi dụng sự đền bù đó, một số vùng khác cũng đòi đợc đền bù, nếu
không họ sẽ canh tác, mặc dù trớc đây họ không canh tác.
2.3. Thuế ô nhiễm và ô nhiễm tối u
t
*
) là đờng lợi nhuận biên mới.
Thật vậy, với mức thuế Pigou t
*
, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh mức hoạt động về
Q
*
. Vì thuế đánh vào từng đơn vị sản xuất nên chỉ khi nào MNPB lớn hơn mức thuế
thì ngời sản xuất mới có lãi. Điều này chỉ đạt đợc khi sản xuất ở mức Q
*
. Do đó, ý t-
ởng đánh thuế để đạt mức hoạt động tối u đợc thực hiện.
Trên thực tế, xác định đợc mức thuế tối u t
*
hết sức khó khăn. Muốn xác định
đợc mức thuế này, trớc hết, phải xác định đợc mức hoạt động tối u Q
*
, sau đó, xác
định mức thải do hoạt động ở mức Q
*
gây ra, đồng thời phải tính đợc mức thiệt hại
(chi phí ngoại ứng) do ô nhiễm gây ra tại mức hoạt động Q
*
.
2.3.2. Tính thuế Pigou tối u
Về mặt toán học, có thể tính đợc thuế Pigou tối u nh sau :
Gọi NSB là lợi nhuận xã hội do hoạt động sản xuất đem lại, P là giá của sản
phẩm, Q là mức hoạt động hoặc mức sản lợng (P đợc coi là không phụ thuộc vào
54
(2.7)
Nh vậy điều kiện cần để có lợi nhuận xã hội cực đại là :
dC dEC dSC
P
dQ dQ dQ
= + =
(2.8)
Trong đó, SC bằng chi phí biên riêng (của ngời sản xuất) cộng với chi phí
ngoại ứng, gọi là chi phí xã hội.
Từ (2.8) ta có :
dC dEC
P
dQ dQ
=
(2.9)
hay :
dNPB dEC
dQ dQ
=
(2.10)
Trong đó, NPB là lợi nhuận ròng, riêng.
Từ công thức (2.8) cho thấy, giá của sản phẩm (gây ra ô nhiễm) bằng chi phí
xã hội trên đơn vị sản phẩm đó. Từ (2.10) cho thấy, để đạt đợc mức tối u, lợi nhuận
riêng (cá nhân) phải bằng chi phí bên ngoài do ngoại ứng gây ra.
Rõ ràng, nếu biến số Q tiến tới điểm Q
*
ta có :
* *
dC dEC
P
Nếu hàm thiệt hại và chi phí giảm nhẹ ô nhiễm đợc xác định thì thuế ô nhiễm trở
nên tối u. Trên thực tế, thuế là sự chấp nhận, không phải là quy tắc.
Thuế ô nhiễm không đợc sử dụng phổ biến vì :
- Thiếu sự đảm bảo công bằng của thuế Pigou :
Sự thiếu công bằng của thuế Pigou biểu thị ở chỗ có khi thuế vợt quá mức thuế
ô nhiễm Pareto thích hợp, nhng trong những trờng hợp khác thì thuế lại có thể thấp
hơn. Trạng thái Pareto là trạng thái tối u, mức thuế ô nhiễm trong trạng thái này
cũng đợc coi là tối u ; vì vậy, trong thực tế, khó xác định mức thuế gần với mức thuế
này.
- Thiếu thông tin về hàm thiệt hại :
Để tính thuế Pigou đúng, ít nhất chúng ta phải biết đợc đờng chi phí ngoại ứng
biên MEC.
Theo nhận xét của nhiều nhà kinh tế và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm, trong
thực tế rất khó ớc lợng đợc hàm thiệt hại MEC, vì vậy, nó mở ra các khả năng tranh
chấp về cơ sở pháp lý của thuế và tiền phạt ô nhiễm. Do đó, ý tởng tính đợc một mức
thuế Pigou tối u là không hiện thực.
- Trạng thái quản lý thay đổi :
Sự điều chỉnh mức ô nhiễm, nhìn chung, đã có từ rất sớm, đặc biệt ở các nớc
phát triển có cơ sở pháp lý dựa vào Luật Bảo vệ sức khoẻ. ở một số nớc, từ thế kỷ
XIX đã có cơ chế kiểm soát môi trờng thông qua thanh tra môi trờng và dựa trên tiêu
chuẩn môi trờng để phạt những trờng hợp vi phạm.
Nh vậy, thuế là một ý tởng mới trong kiểm soát ô nhiễm, cái mới đó thờng khó
đợc chấp nhận. Nhiều câu hỏi đợc đặt ra là biện pháp thuế có u việt hơn so với các
biện pháp kiểm soát trớc đây đã làm không ? Thuế liệu có điều chỉnh thích hợp với
56
hệ thống luật pháp hiện hành không ? Trong khi chuyển tiếp các hình thức kiểm soát
ô nhiễm thì chi phí đó ra sao ?
Mặc dù còn nhiều vấn đề nhng thuế ô nhiễm nói riêng, thuế môi trờng nói
chung vẫn đang đợc tiếp tục nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nớc.
2.4. Tiền phạt ô nhiễm và quyền sở hữu
thuế ô nhiễm đánh đến mức hoạt động Q
*
, hai là mức thuế do hoạt động từ Q
*
đến Q
p
là
không hợp lý.
2.5. Các biện pháp kinh tế để giảm nhẹ ô nhiễm
57
MNPB
Chi phí
Lợi nhuận
O
Q
*
Q
p
MNPB-t
*
MEC
Q
t
*
X
Hình 2.5. Mức thuế ô nhiễm liên quan tới quyền sở hữu
b
d
Mục tiêu của xã hội là làm mọi cách để giảm nhẹ mức ô nhiễm. Từ thực tế
Chi phí
Lợi nhuận
Hình 2.6. Ô nhiễm tối u và chi phí biên bên ngoài
a
c
MNPB
MAC
Ngày nay, chi phí xử lý ô nhiễm về cơ bản đã đợc tính nh chi phí sản xuất, tất
nhiên, hiệu quả của các giải pháp này còn hạn chế nên một phần chất ô nhiễm vẫn
đợc thải ra môi trờng. Vì vậy, các phơng pháp xử lý ô nhiễm hiệu quả cao hơn vẫn
cần đợc tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng.
2.6. Tiêu chuẩn môi trờng, thuế và tiền trợ cấp
2.6.1. Tiêu chuẩn môi trờng
Tiêu chuẩn môi trờng (TCMT) là một trong các biện pháp can thiệp của Nhà n-
ớc nhằm điều chỉnh mức ô nhiễm. Dựa trên các mục tiêu về bảo vệ môi trờng, Nhà
nớc đề ra các TCMT. Tiêu chuẩn môi trờng là những chuẩn mực, giới hạn cho phép
đợc quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trờng. Các hoạt động sản xuất có tác
động đến môi trờng không đợc phép vợt quá TCMT quy định.
Nh đã trình bày, ô nhiễm môi trờng là sự thay đổi tính chất môi trờng, vi phạm
tiêu chuẩn môi trờng. Nh vậy, chúng ta đã dùng tiêu chuẩn môi trờng làm chuẩn
mực để đánh giá ô nhiễm môi trờng.
Ví dụ :
Tiêu chuẩn môi trờng quy định lợng các hợp chất CO
2
, SO
2
trong một đơn vị
thể tích không khí, hay lợng bụi lơ lửng tính ra mg trên 1m
3
không khí, phải nhỏ
. Nhng, nh đã nêu ở phần trên, mức hoạt động Q
s
cha phải là tối -
59
u, vì Q
s
nhỏ hơn Q
*
- là mức hoạt động tối u về mặt xã hội và đợc dùng để xác lập
thuế Pigou tối u. Rõ ràng, giữa giải pháp thuế và tiêu chuẩn môi trờng không có sự
ăn ý nhau. Với mức phạt P, ngời gây ô nhiễm có thể điều chỉnh mức hoạt động sản
xuất tới mức Q
b
, nơi mức phạt tổng cộng vẫn nhỏ hơn lợi nhuận mà họ thu đợc.
Theo cách đó, ngời gây ô nhiễm sẽ tính toán sao cho hoạt động tới mức mà tiền
phạt không vợt quá lợi nhuận họ thu đợc do tăng mức hoạt động sản xuất. Ngay cả
việc phạt ô nhiễm cũng khó khăn, bởi vì, nếu trên một khu vực có nhiều ngời gây ô
nhiễm, mỗi ngời góp một phần thì rất khó phân biệt. Đây cũng là hạn chế của việc
phạt ô nhiễm dựa trên tiêu chuẩn môi trờng. Nh vậy, muốn có sự trùng hợp giữa
tiêu chuẩn môi trờng với thuế Pigou tối u thì phải tính toán làm thế nào để tiêu
chuẩn môi trờng trùng với mức phát thải ở mức hoạt động tối u Q
*
tơng ứng với
tiền phạt P
*
. Do đó, điều băn khoăn của các nhà kinh tế là cảnh giác với các tiêu
chuẩn môi trờng.
2.6.2. Mâu thuẫn giữa thuế và tiêu chuẩn môi trờng
Nh
trên
*
0W
b
0Mức ô nhiễm
Trên hình 2.8 là sơ đồ ô nhiễm cơ bản với giả thiết một số yếu tố cha đợc xác
định chắc chắn nh vị trí chính xác của hàm lợi ích MNPB (đờng MNPB phía trên).
Nếu xác định đờng MNPB sai thì nó phản ánh sai giá trị thực của lợi ích -MNPB (đ-
ờng MNPB phía dới).
- Xét trờng hợp xác định MNPB sai (đờng MNPB sai) mà vẫn ngộ nhận là
đúng và giả thiết đờng MNPB và đờng MEC có cùng độ dốc nhng trái dấu. Khi đó,
dù là thuế hay tiêu chuẩn môi trờng đều dẫn đến hậu quả rất lớn. Sự lựa chọn thuế
hay tiêu chuẩn lúc này không còn ý nghĩa.
Thật vậy, nguyên tắc thuế đợc thiết lập trên cơ sở cố gắng đảm bảo mức ô
nhiễm tối u, do đờng MNPB thực tế là sai mà vẫn ngộ nhận là đúng nên Nhà nớc chỉ
đặt ra mức thuế t nhỏ hơn mức thuế tối u t*. Khi nhận ra sơ hở này, ngời sản xuất sẽ
điều chỉnh cho sản lợng tới Q, ( Q > Q*) nhng vẫn chịu mức thuế t nhỏ hơn t* thực
rất nhiều (t* là giá trị thuế đúng khi xác định MNPB đúng). Kết quả là ô nhiễm rất
lớn, mức chi phí vợt trội do ô nhiễm là diện tích hình bde.
Nếu vẫn dựa vào đờng MNPB sai, chính quyền sẽ thiết lập tiêu chuẩn ở mức
hoạt động tại Q (Q < Q*), khi đó, hao tổn lợi nhuận do giảm sản lợng bằng diện tích
hình abc. Vì hai tam giác abc và bde bằng nhau nên lựa chọn thuế hay tiêu chuẩn là
nh nhau. Nghĩa là, cả hai trờng hợp này đều không đạt đợc mức tối u đúng và sẽ gây
ra mất mát lợi nhuận một lợng nh nhau.
Vậy, với giả thiết đờng chi phí MEC và đờng MNPB có độ dốc bằng nhau, ta
không có sự lựa chọn giữa giải pháp thuế và tiêu chuẩn ô nhiễm.
61
0Chi phí
Lợi nhuận
MNPB đúng
MNPB sai
thời gặp phải sự kháng cự của ngời gây ô nhiễm nếu cơ sở của thuế dựa trên việc đo
giá trị kinh tế của thiệt hại. Chi phí hành chính của việc đánh thuế cũng khác so với
chi phí liên quan tới việc đảm bảo tiêu chuẩn nh hệ thống phạt và kiểm soát.
Các nhà kinh tế cho rằng, kiểm soát công nghệ là rẻ nhất, tức là, kiểm soát về
thể thức, giấy phép cho các công nghệ đợc phép sử dụng. Nếu ngăn cấm đợc công
nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm nhiều, có thể trực tiếp giảm thiểu đợc ô nhiễm.
62
0Chi phí
Lợi nhuận
MNPB đúng
MNPB
sai
MEC
Mức hoạt động kinh tế
O
Q
Q
*
Q'
a
b
c
d
e
t
t
*
Hình 2.9. So sánh hiệu quả của việc sử dụng thuế và tiêu chuẩn
khi độ dốc đ ờng MNPB nhỏ hơn so với đ ờng MEC
So sánh này chỉ là tơng đối, trong một số trờng hợp nh đối với chất thải độc hại
a) Hoạt động của một công ty ; b) Hoạt động của toàn ngành công nghiệp.
b) Hiệu quả của tiền phụ cấp đối với công ty và ngành công nghiệp
Việc phân tích hiệu quả của tiền phụ cấp đối với công ty hay đối với ngành công
nghiệp phức tạp và khó khăn hơn đối với thuế.
Khi có tiền phụ cấp sẽ làm thay đổi chi phí biên (MC) của công ty. Nếu tiền phụ cấp
bằng thuế, đờng cong chi phí biên (MC) sẽ chuyển thành (MC + phụ cấp) giống nh (MC +
thuế). Điều đó có vẻ vô lý, vì tiền phụ cấp chắc chắn sẽ thấp hơn chi phí biên (MC). Song,
không phải nh vậy, vì khi các công ty mở rộng sản xuất, họ sẽ mất khoản tiền phụ cấp có thể
nhận đợc do giảm ô nhiễm. Mất tiền phụ cấp cũng có nghĩa là mất mát tài chính nên đờng
cong chi phí biên (MC) mới tăng (vợt) lên. Nhng đờng cong chi phí bình quân (AC) đối với
công ty sẽ giảm xuống thành đờng cong (AC - phụ cấp).
Cân bằng tạm thời là nơi mà giá P bằng chi phí biên mới, tức là tại q
2
, giống nh phản
ứng đối với thuế. Tuy nhiên, phản ứng lâu dài rất khác nhau, điều này đợc giải thích nh
sau :
- Trong thời gian ngắn, giá P sẽ vợt quá chi phí bình quân mới (AC - phụ cấp), do đó, nhiều
công ty mới sẽ ra nhập ngành công nghiệp vì sản xuất có lãi, đẩy đờng cong phụ cấp S sang
thành đờng cong S
2
. Một thế cân bằng mới xuất hiện tại (P
2
, Q
2
) đối với ngành công nghiệp và
tại (P
2
, q
2
) đối với công ty.
.
lợng côta ô nhiễm sẽ đợc quy định, một ngời muốn đợc quyền thải phải mua các
côta ô nhiễm và có quyền bán lại các côta này cho ngời khác nếu họ muốn đợc thải.
Từ đó, hình thành thị trờng côta ô nhiễm. Hình 2.11 là cơ sở phân tích thị trờng côta.
Đờng MAC thực tế trở thành đờng cầu đối với côta ô nhiễm, tức là, với mức
thải cho phép và giá côta nào đó, buộc ngời sản xuất phải mua số côta tơng ứng.
Nghĩa là, theo mục đích tối u Pareto, Nhà nớc cần phát hành OQ
*
côta.
Ví dụ :
65
Giá côta
0Chi phí
Hình 2.11. Phân tích thị tr ờng côta
0MAC
0MEC
0O
0P
0P
*
0W
*
0W
0Q
*
0Q
1
0Mức ô nhiễm
0S
*
) nên số côta họ phải mua nhiều
hơn (OQ
2
> OQ
1
). Điều đó buộc ngời gây ô nhiễm phải suy tính hiệu quả của việc
mua côta ô nhiễm. Nếu chi phí giảm ô nhiễm ít tốn kém hơn mua côta, chắc chắn họ
không lựa chọn mua côta ô nhiễm và ngợc lại.
Chúng ta biết rằng, chi phí giảm nhẹ ô nhiễm đối với các tác nhân gây ô nhiễm
khác nhau sẽ khác nhau, cho nên, sẽ hình thành một thị trờng mua bán côta ô nhiễm.
Ngời gây ô nhiễm nào có biện pháp giảm ô nhiễm rẻ hơn chi phí mua côta ô nhiễm,
họ sẽ bán lại các côta đó cho ngời gây ô nhiễm khác có mức chi phí giảm ô nhiễm
cao. Bằng cách đó, ngời gây ô nhiễm sẽ giảm chi phí và mức phát thải ô nhiễm.
Xét trờng hợp cụ thể trên hình 2.12. Coi đờng MAC là tổng hợp của các nguồn
gây ô nhiễm riêng biệt. Giả sử, chỉ có hai nhà máy (nguồn gây ô nhiễm) riêng biệt.
Theo phân phối ban đầu, mỗi nguồn đợc mua OQ= (OQ
1
+ OQ
2
)/2 côta. Do OQ
2
>
66
O
Giá côta
0Chi phí
0Số côta ô nhiễm
0MAC = MAC
1
+ MAC
ơng lợng để chuyển nhợng quyền mua côta nhằm giảm thiểu tổng chi phí do phát
thải chất ô nhiễm.
Với đờng cong nhu cầu MAC và giá côta P
*
(hình 2.12), sau khi chuyển nh-
ợng, ngời thứ nhất sẽ mua OQ
1
giấy phép, ngời thứ hai mua OQ
2
giấy phép. Khi đó,
tổng chi phí do gây ô nhiễm sẽ giảm đến mức thấp nhất.
Ví dụ :
Giả sử, có hai nhà máy A, B đều đổ nớc thải chứa hàm lợng BOD cao vào một
hồ nớc. Nhà nớc cân nhắc và quyết định phát hành 10 côta, mỗi côta cho phép thải
vào hồ 10 tấn BOD/năm với giá 1triệu đồng/1côta và dự kiến phân đều cho hai nhà
máy.
Lợng thải, chi phí bình quân để xử lý BOD của mỗi nhà máy nh sau :
Nhà máy A Nhà máy B
Lợng thải (tấn) 80 80
Chi phí xử lý trung bình (triệu/10tấn) 1,5 1,1
- Nếu mỗi nhà máy mua 5 côta (theo phân phối) thì chi phí do gây ô nhiễm của
:
+ Nhà máy A là :
5côta
ì
1triệu/côta + 0,15triệu/tấn
ì
30 tấn = 9,5 triệu
+ Nhà máy B là :
5côta
tấn/năm, ít hơn khả năng đồng hoá của hồ ; nghĩa là, chúng ta cha tận dụng hết khả
năng làm sạch của môi trờng. Vì vậy, việc định giá côta hợp lý phải đợc nghiên cứu
kỹ để vừa tận dụng đợc khả năng đồng hoá chất thải của môi trờng vừa có thể giảm
thiểu chi phí phát thải.
Trong trờng hợp có thêm ngời gây ô nhiễm mới vào hoạt động trong ngành
công nghiệp, làm cho đờng cong cầu MAC chuyển sang phải. Nếu nhà chức trách
muốn duy trì mức độ ô nhiễm nh cũ, họ sẽ vẫn giữ mức cấp côta là S
*
, nhng tăng giá
côta lên. Khi đó, ngời gây ô nhiễm mới sẽ phải mua côta ô nhiễm nếu chi phí giảm
nhẹ ô nhiễm của họ cao hơn ; ngợc lại, họ có xu hớng đầu t trang thiết bị để giảm
nhẹ ô nhiễm. Đây cũng là u điểm tối thiểu hoá chi phí ô nhiễm của côta.
Tác động của thị trờng côta đối với Nhà nớc :
Khi Nhà nớc thấy nhu cầu đối với côta ô nhiễm tăng lên, Nhà nớc sẽ phát
hành một số côta mới, đẩy đờng cong cung cấp S
*
sang phải. Điều đó dẫn tới sự nới
nhẹ mức độ kiểm soát ô nhiễm, còn gọi là hiện tợng lạm phát ô nhiễm (lạm phát
côta).
Ngợc lại, khi Nhà nớc thấy cần xiết chặt tiêu chuẩn cũ, họ có thể tham gia vào
thị trờng côta bằng cách mua lại một số côta ô nhiễm. Khi đó, đờng cung đối với
côta S
*
sẽ rời sang trái.
Tóm lại, hệ thống côta ô nhiễm mở ra khả năng thay đổi tiêu chuẩn thông qua
điều kiện hằng ngày. Nhà nớc tiến hành hoạt động thị trờng côta ô nhiễm phần nào
giống các ngân hàng chứng khoán.
b) Cơ hội không có ngời gây ô nhiễm
Nếu thừa nhận có thị trờng côta ô nhiễm thì mọi ngời đều có quyền mua bán
côta ô nhiễm do Nhà nớc phát hành. Nh vậy, có khả năng xảy ra trờng hợp : có
theo lợng tấn than khi đốt phát thải ra SO
2
, CO
2
. Nh vậy, EPS không quan tâm tới tác
động của nguồn phát thải đối với nơi tiếp nhận nên chỉ có một thị trờng côta với một
giá côta nh nhau để phát thải ở vùng đó. Hệ thống côta EPS đơn giản hơn hệ thống
APS rất nhiều. Tuy nhiên, EPS vẫn có một hạn chế là không phân biệt đợc các thiệt
hại bên ngoài khi có nhiều nguồn thải khác nhau cùng tác động nên giá côta không
xấp xỉ với chi phí bên ngoài, vì vậy, nó không hiệu quả.
2.8. Đo đạc tổn thất môi trờng
2.8.1. ý nghĩa của đánh giá môi trờng
Trong phần trớc, chúng ta đã đề cập các phơng pháp nhằm điều chỉnh mức ô
nhiễm là : giải pháp thị trờng qua ý tởng của Ronald Coase ; giải pháp can thiệp của
Nhà nớc nh thuế, tiêu chuẩn môi trờng, giấy phép đợc thải (côta ô nhiễm).
Giải pháp thị trờng có lúc không phù hợp vì ngoại ứng bộc lộ qua thị trờng rất khó
xác định. Giải pháp can thiệp thờng sử dụng trong hai hoàn cảnh sau :
1. Khi việc xác định ô nhiễm tối u gặp nhiều khó khăn.
2. Khi có sự cố gắng xác định mức tối u.
69