tiểu luận môn quản trị ngân hàng sản phẩm tài chính phái sinh - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
&
MÔN QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
Đề tài:
SẢN PHẨM TÀI CHÍNH PHÁI SINH
CỦA NGÂN HÀNG
Nhóm 9: Trần Xuân Tùng
Nguyễn Quang Trung
Nguyễn Ngân Tường
Võ Thị Ngân Vang
Lê Nhị Khánh Vân
Lê Thị Thanh Vân

1
BẢNG PHÂN CHIA CÔNG VIỆC

Stt Công việc HV phụ trách
1 Lý thuyết hợp đồng tương lai Lê Thị Thanh Vân
2 Lý thuyết hợp đồng quyền chọn Lê Nhị Khánh Vân
3 Lý thuyết hợp đồng hoán đổi Nguyễn Ngân Tường
4
Thực trạng sử dụng các công cụ tài chính phái sinh
ở Việt Nam
Trần Xuân Tùng
Nguyễn Quang Trung
5 Tổng hợp word sơ bộ, thiết kế power point
Võ Thị Ngân Vang
Lê Thị Thanh Vân
6 Tổng hợp word lần cuối
Nguyễn Ngân Tường

các sản phẩm phái sinh cũng là một công cụ hiệu quả cho hoạt động đầu cơ. Bởi
người muốn phòng ngừa rủi ro phải tìm được một người khác có nhu cầu đối lập
3
hoàn toàn với mình, tức là rủi ro của người muốn phòng ngừa rủi ro phải được hấp
thụ bởi các nhà đầu cơ. Tại sao các giao dịch này lại có thể được thực hiện, khi mà
thực tế rõ ràng là khi một bên có lợi thì tất yếu bên còn lại sẽ không thể tránh khỏi
những thiệt hại? Bởi mỗi nhà đầu tư có một “khẩu vị rủi ro” khác nhau, khả năng
chấp nhận rủi ro cũng khác nhau. Tuy nhiên, ai cũng có mong muốn là giữ cho các
khoản đầu tư của mình ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được. Và thế là họ gặp
nhau và tiến hành việc chuyển giao một phần rủi ro của mình cho đối tác.
Và cũng không giống như người ta thường nghĩ, thị trường phái sinh không
dẫn vốn trong nền kinh tế vào những âm mưu đầu cơ khủng khiếp. Những nhà đầu
cơ không phải là những tay cờ bạc. Chỉ đơn giản là thay vì giao dịch cổ phiếu, họ
giao dịch các sản phẩm phái sinh và chính việc đầu tư vào công cụ tài chính phái
sinh lại tạo điều kiện cho việc phòng ngừa các rủi ro ít tốn kém hơn và hiệu quả
hơn. Bởi cần khẳng định chắc chắn rằng, thị trường phái sinh không hề tạo ra mà
cũng chẳng thể phá huỷ được tài sản, chúng chỉ là những phương tiện chuyển giao
rủi ro trên thị trường, những rủi ro sẵn có cuả thị trường tài sản, chuyển những
khoản rủi ro đó từ những không đủ khả năng chấp nhận nó sang những người sẵn
sàng tiếp nhận nó, chính là những nhà đầu cơ. Không có thêm bất kỳ một rủi ro
nào được sinh ra trên thị trường này. Và lợi ích từ thị trường không chỉ bó hẹp
trong lợi ích của những nhà đầu cơ mà nó lan toả ra toàn xã hội.
 Thông tin hiệu quả hình thành giá
Các thị trường kỳ hạn và giao sau là nguồn thông tin quan trọng đối với giá cả.
Đặc biệt, thị trường giao sau được xem là một công cụ chủ yếu để xác định giá
giao ngay của tài sản. Điều này không hề bất bình thường, bởi có rất nhiều hàng
hoá được giao dịch trên thị trường giao sau nhưng thị trường giao ngay của nó rất
rộng lớn và phân tán nên rất khó có thể xác định được giá giao ngay của chúng. Ở
đây, thường giá giao sau của những giao dịch sớm nhất sẽ được xác định là giá
giao ngay. Thêm nữa, thị trường giao sau, trên thế giới thường nhộn nhịp hơn nên

rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không hẳn là kiếm lời.
 Công cụ phái sinh – công cụ bảo hiểm cho nhà đầu tư:
5
Một điều gây khó khăn cho các nhà đầu tư khi đầu tư vào thị trường chứng
khoán là không có chứng khoán để bán khi thị trường lên cao và không có tiền để
mua khi thị trường xuống dốc. Thị trường chứng khoán phái sinh ra đời do đó nhà
đầu tư sẽ có thêm công cụ bảo hiểm rủi ro và thêm nhiều nghiệp vụ trong giao
dịch để nhà đầu tư lựa chọn nhằm giảm thiểu rủi ro, đa dạng hoá các phương thức
đầu tư cho mình và tối đa hoá lợi nhuận. Một trong các công cụ tài chính giúp nhà
đầu tư đó là chứng khoán phái sinh. Một công cụ hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro,
đầu tư giá xuống khi thị trường tuột dốc. Điều này tạo cho nhà đầu tư một tâm lý
có được cảm giác an toàn và sự an tâm hơn khi đầu tư vào thị trường chứng khoán.
Lúc này có được sự chủ động và yên tâm nên các nhà đầu tư sẽ tham gia nhiều vào
thị trường chứng khoán khi họ còn các kênh đầu tư hấp dẫn khác như vàng, xăng
dầu, tiền tệ…Nhà đầu tư bớt đi tâm lý sợ hãi khi thị trường tuột dốc và luôn phải
đặt ra câu hỏi “Đâu là đáy của thị trường?” vì lúc này họ có thể đầu tư ở mọi trạng
thái của thị trường. Khi thị trường càng đi xuống thì nhà đầu tư nắm giữ các chứng
khoán phái sinh càng có lợi. Thêm vào đó, khi có sự đầu tư theo hai hướng ngược
nhau của các nhà đầu tư “mua lên” hoặc “bán xuống” sẽ tạo lực cản để thị trường
không giảm quá sâu hoặc tăng quá nóng.
1.2. Phân loại các sản phẩm phái sinh:
Trong các thị trường tài sản, việc mua bán hòi hỏi hàng hoá hoặc chứng khoán
phải được giao nhận hoặc là ngay lập tức hoặc là chỉ ít lâu sau đó. Việc thanh toán cũng
thường được thực hiện tức thời mặc dù thỉnh thoảng cũng có trường hợp sử dụng một số
thoả thuận tín dụng. Do đặc điểm như vậy nên chúng ta thường gọi là thị trường tiền mặt
hoặc là thị trường giao ngay (spot market). Doanh số được thực hiện, khoản thanh toán
được hoàn trả và hàng hoá, chứng khoán được giao nhận. Trong tình huống khác, hàng
hoá hay chứng khoán vẫn được giao nhận vào một ngày sau đó, nhưng có các thoả thuận
giúp cho ngưòi bán hoặc người mua được chọn là có thực hiện bán hay không các loại
thoả thuận này, và nghiệp vụ này được thực hiện trong thị trường phái sinh.

kỳ, khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng bất kỳ, theo thoả thuận chung giữa hai
bên bán, mua. Tuy nhiên, các hợp đồng tương lai niêm yết trên sở giao dịch đòi hỏi việc
7
giao nhận một khối lượng cụ thể của một hàng hoá cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn chất
lượng tối thiểu, theo một thời hạn được ấn định trước.
Điều chỉnh việc đánh giá theo mức giá thị trường: Trong các hợp đồng kỳ hạn,
các khoản lỗ, lãi chỉ được trả khi hợp đồng đến hạn. Với một hợp đồng tương lai, bất kỳ
món lợi nào cũng được giao nhận hàng ngày. Cụ thể là nếu giá của hàng hoá cơ sở biến
động khác với giá đã thoả thuận (giá thực hiện hợp đồng) thì bên bị thiệt hại do sự thay
đổi giá này phải trả tiền cho bên được lợi từ sự thay đổi giá đó. Trên thực tế, vì không
bên nào biết về đối tác của mình trong giao dịch, nên những người thua đều trả tiền cho
công ty thanh toán bù trừ, và công ty này sẽ trả tiền cho những người thắng.
1.2.2. Hợp đồng quyền chọn lãi suất:
1.2.2.1. Khái niệm:
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán –
trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài
sản nào đó (tài sản cơ sở) vào một ngày trong giao sau với giá đã đồng ý vào ngày hôm
nay. Thời điểm xác định trong giao sau gọi là ngày đáo hạn. Thời gian từ khi ký HĐQC
đến ngày thanh toán gọi là kỳ hạn của quyền chọn. Mức giá áp dụng trong ngày đáo hạn
gọi là giá thực hiện.
1.2.2.2. Phân loại quyền chọn.
Phân loại theo vị thế.
Quyền chọn mua ( Call Option): Là một quyền chọn để mua một tài sản cơ sở ở
một mức giá cố định – giá thực hiện, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời
điểm đã xác định trong giao sau.
Quyền chọn bán (Put Option): Là một quyền chọn để bán một tài sản cơ sở ở một
mức giá cố định, trong một khoản thời gian nhất định hay một thời điểm đã xác định
trong giao sau.
Phân loại theo thời gian thực hiện quyền chọn.
Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền lựa chọn mà người mua quyền chọn có quyền thực

cao giá ITM và sẽ được thực hiện.
Nếu giá cổ phiếu khi đáo hạn lớn hơn hoặc bằng giá thực hiện, quyền chọn bán là
kiệt giá OTM hoặc ngang giá ATM.
9
Mua quyền chọn mua
Mua quyền chọn mua là một chiến lược tăng giá có mức lỗ có giới hạn (phí quyền
chọn) và có mức lợi nhuận tiềm năng không giới hạn.
Bán quyền chọn mua
Bán quyền chọn mua là một chiến lược kinh doanh giá xuống và mang lại lợi
nhuận có giới hạn chính là phí quyền chọn nhưng mức lỗ thì vô hạn.
Bán quyền chọn mua với giá thực hiện thấp hơn có mức lợi nhuận tối đa cáo hơn
nhưng mức lỗ do giá tăng cũng cao hơn.
Với giá cổ phiếu cho trước, vị thế bán quyền chọn mua được duy trì càng lâu, giá
trị thời gian càng mất dần và lợi nhuận càng lớn.
Hình a: giá lên,người mua quyền chọnmua lời tối đa bằng (ST– c – X), người bán
quyền chọn mua lỗ tối đa bằng (X – c – ST).
Hình b: giá xuống,người bán quyền chọn mua lời tối đa bằng c, người mua quyền chọn
mua lỗ tối đa bằng c.
Hình c: giá xuống, người mua quyền chọn bán lời tối đa bằng (X – p – ST), người bán
quyền chọn bán lỗ tối đa bằng (ST – p – X).
Hình d: giá lên, người bán quyền chọn bán lời tối đa bằng p, người mua quyền chọn
10
bán lỗ tối đa bằng p.
Chú thích:
1. X : giá thực hiện quyền chọn.
2. ST : giá tài sản cơ sở vào thời điểm đáo hạn.
3. c : phí quyền chọn mua.
4. p : phí quyền chọn bán.
11
1.2.3. Hợp đồng hoán đổi lãi suất:

hàng như ABN, Citibank thực hiện hoán đổi lãi suất trong phạm vi đồng USD từ ngày
1/3/2005 tới 2/2006. Tuy nhiên, giao dịch hoán đổi lãi suất giữa 2 đồng tiền USD và
VND (hoán đổi lãi suất chéo) đã được thực hiện, từ trước khi có quy định chính thức của
ngân hàng nhà nước.
Cho tới lần đầu tiên, khi được NHNN cho phép, HSBC đã cung cấp gói Swaps
tiền Đồng cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD trên tại trường
Việt Nam. Theo đó, HSBC sẽ đưa VND và nhận USD từ khách hàng, tới tháng 12/2007,
HSBC sẽ đưa USD và nhận lại VND từ khách hàng. Với giao dịch này, khách đã đạt
được mức lãi suất cạnh tranh nhất trên thị trường nội địa cho việc vay vốn tiền Đồng kỳ
hạn 3 năm mà không chịu bất cứ một rủi ro nào về tỷ giá USD/VND. Sự kiện này lúc đó
được xem như là một bước đột phá mới trên thị trường tiền tệ Việt Nam đang còn sơ khai
và người chỉ đạo thực hiện nghiệp vụ này được giới báo chí tung hô là "người buôn tiền
số 1 Việt Nam".
Về nguyên tắc, cơ chế hoạt động của nghiệp vụ mới này khá đơn giản. Có thể xét
ví dụ cụ thể: một doanh nghiệp vay vốn bằng ngoại tệ của một ngân hàng để đầu tư cho
dự án mới của mình, thời hạn 5 năm, trả lãi từng năm với lãi suất được quy định là
SIBOR (lãi suất liên ngân hàng Singapore) +1,5%. Đây là mức lãi suất dao động phụ
thuộc vào biến động thị trường, có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức lãi suất vào thời
điểm vay vốn (kiểu quy định mức lãi suất không cố định hiện nay áp dụng khá phổ biến
đối với vay ngoại tệ và cả với VND ở những khoản vay trung, dài hạn). Do lãi suất biến
động, việc tính toán chi phí cho đầu tư vào dự án đó sẽ rất khó khăn cho doanh nghiệp,
ảnh hưởng lớn tới việc xác định hiệu quả đầu tư. Lãi suất vay vào thời điểm trả nợ xuống
thấp giúp giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và lợi nhuận của đầu tư sẽ cao hơn, nhưng
ngược lại cũng có thể rất rủi ro nếu lãi suất tăng quá cao, có thể làm cho doanh nghiệp bị
thua lỗ.
1.3. Điều kiện để xây dựng thị trường sản phẩm tài chính phái sinh.
1.3.1. Phải có hệ thống cơ sở pháp lý hoàn thiện.
13
Các sản phẩm tài chính phái sinh có phương thức giao dịch khá đặc biệt có sự
tham gia của nhiều bên như: người mua, người bán, CTCK, CTNY, công ty thanh toán,

năm trước, các định chế tài chính đổ xô nhau “sản xuất” ra những hợp đồng cho vay dưới
chuẩn thậm chí còn tiếp thị rồi khuyến khích cả những người không đủ khả năng về tài
chính đi vay tiền mua nhà góp phần tham gia vào thị trường béo bở này. Điều tệ hại hơn
khi các tổ chức tài chính phố Wall đã tập hợp các hợp đồng cho vay bất động sản này lại
thành tài sản đảm bảo để phát hành trái phiếu ra thị trường tài chính quốc tế. Đó là một
dạng của “phát kiến tài chính” được mang tên “Mortgage backed securities” - một sản
phẩm tài chính phái sinh được đảm bảo bằng những hợp đồng cho vay bất động sản có
thế chấp. Các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư cùng các quỹ hưu trí đã tranh
nhau mua các hợp đồng này do họ đã bị che đi bởi một bức màn vô hình do các tổ chức
giám định hệ số tín nhiệm (Credit rating agencies ) tạo ra khi các tổ chức này đã đánh giá
cao cho các loại sản phẩm phái sinh này. Họ mua mà không hề hay biết rủi ro thực sự của
các hợp đồng cho vay này - những hợp đồng cho vay bất động sản dùng để đảm bảo
không đủ tiêu chuẩn. Việc mua bán các khoản nợ trong đó có rất nhiều nợ dưới chuẩn
tiếp tục thực hiện từ tổ chức này sang tổ chức khác, từ cá nhân này sang cá nhân khác.
Các hợp đồng nợ dưới chuẩn đã được “bôi trơn và đánh bóng” bởi những nhà đầu tư lớn
ở phố Wall thông qua các “phát kiến tài chính”. Từ đây, nghiệp vụ chứng khoán hoá
được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Như một quy luật tất yếu của tự nhiên, tức khi thời tiết trở nên ngày càng nóng
bức, đến một mức độ nào đó trời bắt đầu mưa làm nhiệt độ hạ xuống. Cũng theo quy luật
đó, khi thị trường bất động sản đã phát triển quá nóng, đi đến đỉnh điểm nó bắt đầu hạ
nhiệt. Rồi khi thị trường bất động sản đóng băng, người đi vay không trả được nợ do bán
bất động sản với giá cực kỳ thấp không đủ để thanh toán các khoản nợ thậm chí là không
bán được, bất động sản rớt giá trầm trọng. Từ đó nảy sinh hậu quả là các hợp đồng cho
vay bất động sản dùng để đảm bảo cho trái phiếu MBS là nợ khó đòi, các trái phiếu MBS
cũng như bất động sản trở nên mất giá trên thị trường thứ cấp thậm chí còn không mua
bán được trên thị trường. Các ngân hàng rơi vào tình trạng khốn đốn, gánh chịu các
khoản lỗ khổng lồ dẫn tới mất khả năng thanh toán.
15
Khi cuộc khủng hoảng bùng nổ, các chuyên gia đã ước tính rằng trong 22000 tỷ
USD giá trị bất động sản tại Mỹ - tâm chấn của cuộc khủng hoảng – có tới hơn 12000 tỷ

là nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro vì nghĩ là sẽ có những sự kiện không mong muốn xảy ra
trong thị trường và điều này trở thành hành vi đầu cơ khi mà tất cả tiền của một người
đều tập trung vào thị trường cổ phiếu. Trong một giới hạn nào đó nếu các cổ đông có thể
dự báo chính xác tất cả các rủi ro có thể phòng ngừa đi chăng nữa nhưng nếu như xuất
hiện độ nhạy cảm do những bất ổn trong giá cả, nguyên vật liệu thì họ khó có khả năng
tính toán chính xác mức độ của những rủi ro này cũng như xác định được thời điểm mà
lúc các rủi ro này gây ra những tổn thất lớn nhất, hay xác định chính xác số lượng hợp
đồng giao sau để phòng ngừa rủi ro. Một điều đáng lưu tâm nữa là phòng ngừa rủi ro có
thể làm cho nhà đầu tư cảm nhận sai lệch về số lượng rủi ro giảm đi. Bởi một mặt phòng
ngừa rủi ro không thể cũng như không hoàn toàn có thể loại trừ hết rủi ro. Điều này cho
thấy phòng ngừa rủi ro chỉ mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong một khía cạnh nào đó
thôi, nếu không có sự am hiểu kỹ càng về phòng ngừa rủi ro thì sẽ làm gia tăng rủi ro
công ty.
 Một số rủi ro khi doanh nghiệp sử dụng nghiệp vụ tài chính phái sinh như:
Rủi ro tín dụng: Rủi ro mà một bên đối tác đối với một công cụ phái sinh là
nguyên nhân gây ra thất thoát tài chính cho đối tác khác do không hoàn thành nghĩa vụ
thanh toán.
Rủi ro thị trường: Rủi ro mà giá trị thị trường hay dòng tiền tương lai của một
công cụ phái sinh bị giao động do những thay đổi về giá thị trường: rủi ro lãi suất, rủi ro
tỷ giá, rủi ro giá cả khác.
Rủi ro thanh khoản: Rủi ro do gặp phải khó khăn trong việc hoàn thành các nghĩa
vụ đi kèm với trác nhiệm tài chính khi thực hiện giao dịch công cụ phái sinh.
Rủi ro hoạt động: Rủi ro thiệt hại xuất phát từ quy trình hoạt động nội bộ, con
người hay do các sự kiện bên ngoài tác động khi thực hiện nghiệp vụ tài chính phái sinh.
Một ví dụ thực tế điển hình là vụ siêu lừa đảo của Nick Leeson. Năm 1995, Nick Leeson
đã gây thiệt hại 850 triệu bảng Anh (tương đương 1,2 tỷ Euro) cho ngân hàng Barings.
Ước tính thiệt hại này lớn hơn cả tài sản của ngân hàng. Và hậu quả là vào tháng 2/1995,
Barings - một trong những ngân hàng kinh doanh lâu đời nhất ở Anh tuyên bố phá sản và
17
được bán với giá tượng trưng 1 bảng Anh cho ngân hàng bảo hiểm ING của Hà Lan.

nhập. Mặc dù có thu nhập tăng qua các năm nhưng ngân hàng lại toàn lỗ khi kinh doanh
Năm Chỉ tiêu BIDV Vietinbank Vietcombank
TriệuVNĐ % TriệuVNĐ % TriệuVNĐ %
2007
Tổng thu nhập 7.794.275 100 6.648.680 100 5.763.393 100
Trong đó:
Thu từ các công cụ phái sinh 19.110 0,24 4.256 0,06 0
Tổng lợi nhuận 2.028.246 100 1.529.085 100 3.192.119 100
Trong đó:
Dịch vụ phái sinh 8.829 0,04 -6.464 0 0 0
2008
Tổng thu nhập 7.570.430 100 8.694.253 100 10.991.219 100
Trong đó:
Thu từ các công cụ phái sinh 363.288 4,79 74.764 0,86 52.492 0,04
Tổng lợi nhuận 2.368.018 100 2.436.388 100 3.525.877 100
Trong đó:
Dịch vụ phái sinh 237.930 10,04 -120.042 0 52.492 1,4
2009
Tổng thu nhập 9.687.959 100 5.428.316 100 9.286.804 100
Trong đó:
Thu từ các công cụ phái sinh 91.272 0,94 200.587 3,70 6.420 0,06
Tổng lợi nhuận 3.605.469 100 1.678.289 100 5.004.374 100
Trong đó:
Dịch vụ phái sinh -171.695 0 -289.517 0 -288.777 0
19
lĩnh vực này, năm 2007 lỗ 6.464 triệu đồng, năm 2008 lỗ 120.042 triệu đồng, năm 2009
lỗ 289.517 triệu đồng.
Tại Vietcombank, năm 2008 thu nhập từ công cụ phái sinh là 52.492 triệu đồng,
chiếm 0,04% tổng thu nhập, năm 2009 tăng lên là 6.420 triệu đồng chiếm 0,06% tổng thu
nhập. Trong đó, lợi nhuận năm 2008 là 52.492 triệu đồng, chiếm 1,4% tổng lợi nhuận,

suất cơ bản của tiền đồng Việt Nam liên tục ổn định trong nhiều năm đã khiến cho các
doanh nghiệp hoàn toàn không chú ý tới phòng ngừa rủi ro tỷ giá và lãi suất.
Các giao dịch phái sinh trong ngân hàng như swaps, forward, future, option…
chính là những công cụ được cấp phép sử dụng tại Việt Nam nhưng số doanh nghiệp dám
21
sử dụng chỉ đếm trên đầu ngón tay. Việc sử dụng các công cụ chống rủi ro tài chính tại
Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn và vướng phải sự ngập ngừng e ngại của doanh
nghiệp. Chủ yếu là do doanh nghiệp chần chừ, không hiểu và không biết.
Theo ông Phạm Hồng Hải – Giám đốc Kinh doanh ngoại tệ và vốn – Ngân hàng HSBC,
kể từ khi những hợp đồng phái sinh đầu tiên được ký vào năm 1997 – 1998, đến nay thị
trường phái sinh tại Việt Nam chưa nhúc nhích được bao nhiêu. “ Những doanh nghiệp
thường xuyên có các dự án tính bằng vài trăm triệu USD và chỉ với những biến động nhỏ
của thị trường tiền tệ, họ sẽ chịu những tổn thất không nhỏ về vốn. Tuy nhiên, hầu hết
các doanh nghiệp trên đều “ thổ lộ ” rằng, biết là sẽ gặp rủi ro nhưng do công ty họ chưa
có chính sách nên họ không dám làm” .
Một cản trở với nghiệp vụ phái sinh, đó là văn hoá trách nhiệm trong các doanh
nghiệp. Ví dụ, một doanh nghiệp nếu biết có rủi ro lãi suất và đang vay tiền với lãi suất
thả nổi, trong điều kiện lãi suất đang tăng lên mạnh, nếu họ quyết định hoán đổi chuyển
sang lãi suất cố định và đỡ thiệt hại hơn nhiều. Nhưng họ sợ rằng nếu họ quyết định hoán
đổi nếu chẳng may sang năm lãi suất sẽ xuống, lúc đó trách nhiệm lại đổ lên đầu người
đã thay đổi chính sách. “ Nếu trong doanh nghiệp vẫn còn cái văn hoá “ chì chiết ” những
người dám làm cái mới, thì sẽ không ai dám làm hết ”, ông Hải nhận định.
Môi trường chính sách: Về phương diện chính sách luôn được xem là câu
chuyện dài kỳ. Vẫn còn tồn tại những lực cản đối với nghiệp vụ phái sinh. Đặc biệt là
trong quy định về thuế chưa rõ ràng. Ví dụ như việc đánh thuế nhà thầu với nghiệp vụ
hoán đổi giữa hai đồng tiền hiện chưa rõ. Cách tính thuế này đang là một khó khăn bởi
ngân hàng và doanh nghiệp sẽ không biết số thuế mình phải nộp là bao nhiêu, vì lãi suất
thả nổi chạy liên tục theo từng ngày. Ở các nước khác thì lại không đánh thuế với sản
phẩm phái sinh vì đó mới là công cụ phòng ngừa rủi ro cho doanh nghiệp chứ không phải
một kênh kinh doanh của ngân hàng. Ngoài ra nhà nước ta chưa có một chính sách cụ thể

với đối tác, chi phí để điều chỉnh trạng thái nhằm thích nghi với điều kiện mới của thị
trường, chi phí thực hiện, giám sát… Đây cũng là một hạn chế cho doanh nghiệp sử dụng
sản phẩm phái sinh. Tuy nhiên điều này là vì nhiều đối tượng sử dụng công cụ phái sinh
nhằm kỳ vọng tạo ra lợi nhuận hay nhằm mục đích đầu cơ chứ không nhắm vào phòng
ngừa rủi ro. Họ hoàn toàn không nghĩ sử dụng sản phẩm phái sinh sẽ tạo cho họ một cảm
23
giác an toàn và yên tâm, chủ động trong các kế hoạch kinh doanh hay ước tính chi phí
một cách chính xác hơn.
Nhân sự có năng lực chuyên môn về sản phẩm phái sinh còn thiếu: điều này đã
gây cản trở cho doanh nghiệp khi muốn sử dụng công cụ phái sinh nhằm hạn chế rủi ro.
Thậm chí khi họ biết rõ những nguy cơ ảnh hưởng xấu tới việc kinh doanh như thay đổi
lãi suất hay tỷ giá, họ biết họ cần phải sử dụng sản phẩm phái sinh, tuy nhiên, không có
nguồn nhân sự nào có thể bảo đảm cho việc thực hiện điều này.
Việc tiếp cận các thông tin liên quan tới sản phẩm phái sinh đối với doanh nghiệp
là không dễ dàng. Một phần là do sản phẩm phái sinh bản thân nó đã mang tính chất khó
hiểu, đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, lại thêm sự hạn chế trong việc am hiểu về
công cụ tài chính phái sinh của các doanh nghiệp, cộng thêm sự không đầy đủ của các
hướng dẫn về sản phẩm phái sinh của các tổ chức của các tổ chức cung cấp sản phẩm
phái sinh.
1.7. Một số giải pháp phát triển thị trường phái sinh ở Việt Nam:
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang phải đối mặt với việc cạnh tranh gay
gắt từ các ngân hàng nước ngoài, bởi các rào cản với các ngân hàng nước ngoài sẽ được
dỡ bỏ vào năm nay. Các ngân hàng nước ngoài có lợi thế về vốn, về công nghệ, về kinh
nghiệm phát triển các sản phẩm phái sinh hơn hẳn các ngân hàng trong nước.
Còn các ngân hàng trong nước, mặc dù có được lợi thế về mạng lưới chi nhánh
giao dịch nhưng nếu không phát triển được các nghiệp vụ phái sinh đáp ứng nhu cầu của
thị trường thì chắc chắn sẽ phải đối mặt với nguy cơ lớn là “thua ngay trên sân nhà”. Để
có thể phát triển được nghiệp vụ phái sinh đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường hiện tại và
tương lai, cần phải thực hiện một số giải pháp sau:
1.7.1. Về phía ngân hàng:

hiện các nghiệp vụ phái sinh đầy đủ, để có được một thị trường cạnh tranh bình đẳng giữa
các ngân hàng, nhằm cung cấp các sản phẩm tiện ích nhất cho các nhà đầu tư, các doanh
nghiệp.
Thứ hai, Nhà nước cần hoàn thiện chế độ kế toán, quy định cụ thể về các giao dịch
phái sinh. Nhà nước cần có các hướng dẫn cụ thể quy định cách tính toán thu nhập, chi
phí, cách tính giá hạch toán, cách định giá, … phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm giúp
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status