TÓM TẮT MỘT SỐ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI
MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÍ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS
THUỘC CÁC HUYỆN KHÓ KHĂN
TIẾN HÀNH THỰC HIỆN TỐT HƠN:"Đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục Việt
Nam, theo tinh thần Nghị Quyết TW8- Khóa XI"
Đặng Hữu Tường- Trường THCS Đặng Tất, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh
( 0949306418)
THIẾT BỊ DẠY HỌC là yếu tố rất quan trọng trong quá trình Giáo dục-Đào tạo,
đặc biệt trong giáo dục học sinh phổ thông.
QUẢN LÝ CÔNG TÁC THIẾT BỊ DẠY HỌC là làm cho Thiết bị dạy học trở
thành công cụ, phương tiện góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng “Học đi đôi
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Trong thời kì đổi mới, Đảng ta đặt Giáo dục đào tạo lên vị trí " Quốc sách hàng
đầu". Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992), điều 35 ghi rõ:
" Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phất triển giáo dục nhằm nâng cao
dân trí, đào tao nhân lực và bồi dưỡng nhân tài" [25,47].
Mục tiêu của giáo dục là hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
công dân; đào tạo những người lao động có nghề, năng động và sáng tạo, có niềm tự hào
dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để thực hiện được mục tiêu ấy, một trong những vấn đề quan trọng đầu tiên là phải
xây dựng được một nền giáo dục phổ thông tốt. Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiều
học(TH), Trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT). Trong đó giáo dục
trung học cơ sở có một vị trí đặc biệt quan trọng. Luật Giáo dục, điều 27 ghi rõ:
"Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
tiểu học; có học vấn ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng
nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động"[34,19].
A.THỰC TRẠNG THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
TBDH Ở CÁC TRƯỜNG THCS
1. Thực trạng phân bổ thiết bị theo bộ môn.
biệt trong dạy thực hành thí nghiệm, hơn 80% thiết bị trong dạy thực hành thí nghiệm được
khai thác sử dụng cho cả các tiết trên lớp, việc sử dụng thiết bị gần như là hiển nhiên, bởi
vậy thực hành thí nghiệm không có thiết bị thì không thể rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tiếp
xúc nghề để hướng nghiệp được.
Loại thiết bị được khai thác sử dụng nhiều nhất, triệt để nhất là các loại thiết bị
tranh ảnh, đồ dùng dạy học, các thiết bị vạn năng, những loại này có từ khi thay sách giáo
khoa và phù hợp với nội dụng chương trình các môn học rất hạn chế, việc cập nhật các tiến
bộ của KHKT&CNTT chưa kịp thời. Việc đầu tư thiết bị lại càng bất cập, nên chủ yếu
khai thác, sử dụng các thiết bị vạn năng và mô hình.
b. Những hạn chế:
Ý thức khai thác sử dụng ở mỗi giáo viên là chưa đồng đều, để có một bài giảng tốt
trên các TBDH sẽ phải huy động sức lực và trí tuệ mà điều này không phải giáo viên nào
cũng dễ dàng hưởng ứng. Đặc biệt đối với thiết bị mới lạ, những thiết bị công nghệ cao thì
việc sử dụng thiết bị như là phương tiện, công cụ để đổi mới phương pháp dạy học lại càng
khó khăn hơn nhiều.
Đối với học sinh, ý thức, khả năng nhận thức, năng lực thực hành rèn luyện kỹ năng thực
hành rất đa dạng, bởi vậy mức độ sử dụng thiết bị rất khác nhau. Mặc dù phong trào giữ tốt
dùng bền thường xuyên được chú trọng, nhưng vẫn có một số trường hợp sử dụng thiết bị
không đúng quy trình quy phạm kỹ thuật, thực sự đã có những tai nạn đáng tiếc xẩy ra cho
học sinh và giáo viên như : Phòng thí nghiệm không đảm bảo để làm thí nghiệm hóa - lí.
Có những thiết bị công nghệ mới, hiện đại đã được đàu tư nhưng chưa được khai thác
hoặc do kiến thức, trình độ hạn chế nên thiết bị ở dạng này chưa có người khai thác.
Nhiều thiết bị tự chế không sử dụng dược hoặc không đưa vào sử dụng. thông thường
thiết bị loại này ơ các dạng sau: Tự chế chưa đồng bộ, trọn vẹn, hoặc quá đơn giản, đơn
điệu không phù hợp với nội dung, chương trình học tập.
4. Thực trạng bảo quản, sửa chửa.
Lãnh đạo nhà trường đã chú ý đến việc nâng cao ý thức trách nhiệm của giáo viên và
học sinh trong việc giữ gìn và bảo quản thiết bị. Giáo viên thường xuyên nhắc nhở học
sinh trong quá trình thực hành là phải làm đúng các thao động tác kỹ thuật, tuyệt đối không
làm bừa, làm ẩu.
chỉ dùng để thưc hành các thao tác cơ bản, nhưng do quá đơn giản nên làm việc không ổn
định, hỏng hóc trục trặc thường xuyên. Với các thiết bị này do chưa được đầu tư TB thay
thế nên bắt buộc phải sử dụng.
+ Thiếu về chủng loại và số lượng. Thậm chí có 1 số đề mục không có TB, mô hình
cho học sinh học, trong trường hợp như vậy giáo viên chỉ diễn giải bằng lời nói mà thôi. Ở
đây kể cả các thiết bị truyền thông cũng có tình trạng này.
+ Trang thiết bị không đồng đều: Trong cùng 1 môn nhưng TB có đặc tính kỹ thuật
khác hẳn nhau. Chương trình dạy học chưa kịp thời điều chỉnh phù hợp với sự phát triển
của khoa học- công nghệ và phù hợp với sự đổi mới của trang TB dạy học. Trong lúc đó,
trang TB không đồng đều gây ra nhiều khó khăn cho việc chỉ đạo thực hiện chương trình
dạy học.
+ Tình trạng chất lượng trang TB: 1 số thiết bị kém chất lượng, vừa mới đưa vào sử
dụng đã phải sửa chữa, thậm chí không thể sửa chữa được, đặc biệt 1 số TB dùng để đo
kiểm do chất lượng kém nên không thực hiện được chức năng của TB, Làm cho việc dạy
học không phản ánh đúng ý nghĩa.
+ Chế độ báo cáo thống kê hiện nay chưa làm sáng tỏ bức tranh thực tế về thiết bị,
chưa vạch ra được vốn đầu tư cơ bản và việc thực hiện đầu tư này. Lượng thông tin báo
cáo về TB còn hạn chế và chậm chạp nên việc xử lý thông tin không kịp thời và thiếu
chính xác.
+ Công tác kế hoạch hóa TB trên cơ sở bảng ghi thiết bị theo biểu kiểm kê hàng
năm để bổ sung và thay đổi do hỏng hóc phải thanh lý… Và kế hoạch theo kiểu “Nóng tay
nắm lổ tai” nên việc đầu tư, bổ sung hàng năm thiếu tính hệ thống.
(Công tác kế hoạch hóa phải gắn với quy mô, lưu lượng và sự phù hợp với nội dung
chương trình).
+ Về kiểm kê đánh giá khấu hao tài sản hàng năm vẫn được làm trên giấy tờ nhưng
xử lý thông tin sau kiểm kê thì chưa hề có.
+ Việc sửa chữa và đổi mới kịp thời các trang thiết bị là để tạo ra sự hoạt động bình
thường trong nhà trường. Bởi vậy, cần phải đưa ra định mức tiêu chuẩn và những nguyên
tắc phân phối tiền cho sửa chữa cơ bản và sửa chữa thường xuyên và phải tính đến nguồn
vật chất cần thiết cho mục đích này.
trong toàn trường hàng năm là thấp (khoảng 5%).
Chỉ đạo đầu tư chưa đồng bộ, chưa lường hết các liên quan ràng buộc kéo theo: Có
thiết bị này thì phải có TB khác bổ trợ, phòng ốc, nhà đa năng, phòng bộ môn Việc cải
tiến nội dung, chương trình chưa gắn với đổi mới, thiết bị tiên tiến, có thiết bị rồi nhưng
chưa biết sử dụng và lại càng ngại sử dụng. Ngoài ra một ảnh hưởng không kém phần quan
trọng đó là nhiều giáo viên phải dạy 2 ca không có thời gian cho việc điều chỉnh chương
trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập nâng cao trình độ.
B. CÁC GIẢI PHÁ CHỦ YẾU VỀ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ
DẠY HỌC CẤP THCS.
● Đặt vấn đề:
Nếu nội dung quản lý TBDH có nhiều mức độ khác nhau (Rộng, hẹp, nông, sâu ) thì
các giải pháp tương ứng với các nội dung đó cũng có những cấp độ khác nhau.
- Giải pháp quản lý vĩ mô: Tầm chiến lược (Thường được dùng cho các kế hoạch chiến
lược của quốc gia, bộ, ngành, )
- Giải pháp quản lý vĩ mô: Mọi chiến thuật (Thường được dùng cho các cấp quản lý cơ sở)
- Hoặc các loại giải pháp: + Giải pháp bên trong, giải pháp bên ngoài
+ Giải pháp trước mắt và giải pháp lâu dài
+ Giải pháp chi tiết.
Tuy nhiên, giải pháp “Chiến lược” hay “Chiến thuật”, giải pháp “Bên trong” hay
“Bên ngoài”, giải pháp “Trước mắt” hay “Lâu dài”. Thực ra chỉ là khái niệm với nghĩa
tương đối. Mỗi đơn vị quản lý, cụ thể như nhà trường: Là một hệ thống con, cũng có thể có
kế hoạch và giải pháp chiến lược của mình. Điều quan trọng nhất là các giải pháp bất cứ ở
cấp độ nào, thì mục đích cũng phải thống nhất với nhau. Tuyệt đối không để “Chiến lược”
đi một đằng “Chiến thuật” đi một nẻo-Một điều tối kị trong quản lý.
● Các giải pháp đổi mới quản lý
1. Giải pháp tăng cường quản lý hành chính, chuyên môn
a. Hệ thống hóa toàn bộ bằng văn bản, nghị quyết, chỉ thị, Thông tư về CSVC và TBDH
của Đảng, nhà nước, Bộ Giáo dục - Đào tạo và các bộ ngành có liên quan thành một tài
liệu tổng hợp bao gồm các văn bản về chủ trương đường lối, chính sách, sự chỉ đạo cụ thể
về lĩnh vực này. Giải pháp này nhằm làm cho cán bộ, giáo viên trong toàn trường tiếp cận
TBDH. Tăng cường phổ biến kinh nghiệm, quan điểm, lý luận, thông qua các hình thức
nêu trên.
Khuyến khích mọi giáo viên giảng dạy đều dùng TBDH. Động viên khen thưởng kịp
thời các cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong khai thác, sử dụng TBDH và quản lý
TBDH.
Khuyến khích tự chế đồ dùng dạy học.
3. Cải tiến cấu trúc quản lý
Như đã phân tích ở phần thực trạng, cấu trúc về mô hình quản lý như hiện nay về ưu
điểm phát huy được ưu thế chuyên môn của phó hiệu trưởng theo các mảng. Nhược điểm
là quản lý chồng chéo nhưng lại thiếu sự gắn kết và làm cho phòng chức năng cũng như
các đơn vị sự dụng thiết bị không chủ động được trong công tác thiết bị và quản lý công
tác TBDH. Trên cơ sở phân tích thực trạng tôi đưa ra cấu trúc được điều chỉnh sau:
Với cấu trúc hệ thống quản lý này hoàn toàn khắc phục được các nhược điểm của cấu hệ
thống quản lý củ.
Chỉ huy không bị chồng chéo, nhận và xử lý thông tin về TBDH theo cả 2 chiều đều
nhanh gọn. Để khắc phục nhược điểm về chuyên môn rộng của phó hiệu trưởng trực tiếp
thì cần giao trách nhiệm cho cán bộ chuyên trách và các tổ trưởng. Như vậy đã thành lập
được hệ thống quản lý TBDH rõ ràng.
4. Lập kế hoạch về TBDH.
a. Cải tiến xây dựng kế hoạch đầu tư TBDH.
Trong chiến lược chung về giáo dục, các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
cho việc đầu tư mua sắm TBDH là giải pháp quản lý quan trọng, đầu tiên đối với mỗi cấp
quản lý giáo dục. kế hoạch cấp trường đặc biệt quan trọng, bởi kế hoạch cấp trường là kế
hoạch cụ thể chi tiết, dựa trên kế hoạch chung của cấp cao hơn. Kế hoạch được xây dựng
cho các cấp độ:
- Kế hoạch dài hạn từ 5 năm trở lên.
- Kế hoạch trung hạn từ 3-5 năm.
- Kế hoạch ngắn hạn từ 1-2 năm.
Hiệu trưởng
Lực lượng sửa chữa: Giáo viên, học sinh, hợp đồng với các đơn vị, cá nhân ngoài
trường …
Tình trạng thiết bị về chất lượng, số lượng … Đặc biệt chú ý đến các dạng hư hỏng
của thiết bị:
+ Hư hỏng do tác động của môi trường: Mọi TBDH từ đơn giản đến phức tạp đều
được cấu thành từ các vật liệu khác nhau: Kim loại, thủy tinh,
chất dẻo, điện tử, bán dẫn … Nếu không được bảo quản cẩn thận đều có thể
hỏng hóc dẫn đến không sử dụng được. Nguyên nhân đầu tiên đó là do khí hậu, môi
trường.
+ Hư hỏng do sử dụng: Do sử dụng nhiều nên các chi tiết máy bị mòn, hỏng, người
sử dụng không thực hiện đúng quy trình, như: Thao tác sai, làm bừa làm ẩu, thiếu hiểu
biết, …; Do thất lạc các chi tiết gây ra tình trạng thiếu đồng bộ làm cho TBDH không hoạt
động được; Do sửa chữa bảo dưỡng không được thực hiện hoặc do quá trình sửa chữa, lắp
ráp không đảm bảo nên dẫn tới tình trạng hỏng hóc.
• Mục đích của bảo dưỡng sửa chữa TBDH là:
Bảo vệ được TBDH, loại trừ hoặc hạn chế về cơ bản những hư hỏng không đáng có,
mặt khác phải đảm bảo thuận lợi cho sử dụng. Hay chúng ta có thể khẳng định rằng: Mục
đích của bảo dưỡng sửa chữa TBDH là để đảm bảo “Tính sẵn sàng” của thiết bị nhằm phục
vụ tốt nhất cho dạy học.
5. Cải tiến tổ chức công tác TBDH.
Tổ chức là hoạt động quản lý phối hợp giửa hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo, là quá
trình nhằm đảm bảo mối quan hệ giữa các bộ phận trong trường.
Đối với công tác TBDH trong trường, tổ chức là tạo nên sự phối hợp hoạt động giữa
lãnh đạo trường, các phòng chức năng, các tổ chuyên môn.
Tổ chức bao gồm các biện pháp nhằm tạo ra một tiềm năng vật chất và con người cho việc
thực hiện kế hoạch. Công việc phải được chia cho các đối tượng tham gia: Từ ban giám
hiệu, phòng chức năng, tổ chuyên môn, phòng thực hành, giáo viên và đến cả học sinh đều
tham gia với mức độ liên quan.
Điều cốt yếu nhất hiện nay của tôt chức CTTBDH là thành lập được tổ sửa chữa
TBDH có một số giáo viên giỏi đủ các bộ môn có tay nghề vững. Tổ sửa chữa này trực
quản sủ dụng …
- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý chuyên môn gồm: nề nếp, cách tổ chức, chỉ
đạo và việc sử dụng TBDH vào công tác chuyên môn.
- Kiểm tra việc triển khai các tiết dạy học trên lớp có nội dung liên quan đến TBDH.
Kết quả thanh tra, kiểm tra có tác dụng chỉ ra những việc tốt để phát huy, những
việc chưa tốt, những sự thiếu hụt để sửa chữa, khắc phục. Thanh, kiểm tra công tác TBDH
là việc làm thường xuyên của lãnh đạo trường, tiến hành kiểm tra là sự đánh giá một cách
có kế hoạch những công việc đã làm, kết quả kiểm tra là cơ sở cho việc điều chỉnh cần
thiết về chu trình quản lý tiếp theo.
8. Nhóm các giải pháp bổ trợ.
a.Tăng cường đầu tư nguồn lực:
+ Về tài chính: ngoài đầu tư tài chính theo kế hoạch, cần có những khoản kinh phí
thường xuyên cho việc duy trì hoạt động và chi phí tiêu hao vật chất trong quá trình hoạt
động. Các khoản chi phí như mua sắm vật tư, nguyên nhiên liệu cho dạy học thực hành,
bồi dưỡng công sức lao động phục vụ cho công tác TBDH.
Trong những điều kiện của cách mạng khoa học kỹ thuật ý nghĩa của TBDH được
tăng lên. Muốn nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi phải tăng nhịp độ phát triển các chi phí
giành cho những mục đích này.
+ Về đầu tư cho con người: Đặc biệt coi trọng việc nâng cao trình độ của đội ngũ
giáo viên trong việc sử dụng TBDH, mà chú trọng là đội ngũ giáo viên dạy liên quan đến
thực hành thí nghiệm, họ là những người trực tiếp hướng dẫn, truyền dạy cho học sinh các
kỹ năng, kỹ xảo thực hành. Mở các lớp nghiệp vụ, sư phạm và có khả năng tiếp cận với
phương pháp dạy học tiên tiến thông qua TBDH.
b. Tăng cường điều kiện cần thiết cho công tác TBDH:
Để khai thác, sử dụng TBDH cần có một số điều kiện kèm theo như: Điện, nước,
phòng thực hành, phòng bộ môn phương tiện vận chuyển, máy chiếu phục vụ.
một số phòng thực hành, phòng thí nghiệm hiện nay cần được cải tạo cho phù hợp
với thiết bị đã được bổ sung trong thời gian vừa qua và cho việc tăng cường thiết bị sắp tới
đồng thời đảm bảo thoáng mát, sáng sủa.
Nguồn điện cần được cải tạo lại trong đó đặc biệt lưu ý đến sự an toàn. Đặc biệt
đơn giản như một hình vẽ, một từ tranh, một mô hình trực quan sinh động.
Họat động tự chế TBDH có thể nâng cao được hiệu quả của nó nhờ tận dụng các
nguồn lực tại chổ, đặc biệt là sử dụng vật liệu đơn giản, rẻ tiền nhưng lại tạo ra các TBDH
có tính linh hoạt cao, gần gủi với nội dung dạy học. Nếu TBDH đảm bảo tốt các yêu cầu sư
phạm, mà lại cấu thành bởi những vật liệu đơn giản, tại chổ, rẻ tiền thì thiết bị đó càng có
giá trị. Rõ ràng giá trị của một TBDH không phải ở chổ nó có giá thành cao mà chủ yếu ở
hiệu quả sử dụng, ở vai trò sư phạm mà nó đảm bảo.
Tự chế TBDH không đòi hỏi một quy mô lớn, mà bất kể một giáo viên nào đều có
thể đề xuất thực hiện, thậm chí kể cả học sinh. Do đó tự chế TBDH là một biện pháp, là
con đường cơ bản để góp phần giải quyết vấn đề thiếu TBDH, cũng như việc hòan thiện hệ
thống TBDH, TBDH tự chế có một cơ sở tiềm năng vô tận đó là đội ngũ giáo viên và học
sinh. Như vậy TBDH tự chế vừa mang ý nghĩa kinh tế vừa mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc.
Để làm tốt vấn đề này, lãnh đạo nhà trường cần tiếp tục giải quyết vấn đề nhận thức
cho cán bộ, giáo viên về vị trí, vai trò của TBDH tự chế trong việc phục vụ cho học tập và
giảng dạy. Định kỳ tổ chức các hội nghị khoa học về TBDH có tổ chức, chỉ đạo, có đánh
giá khen thưởng kịp thời.
Thay đổi thực trạng công tác quản lý TBDH ở các trường THCS - Kết quả khảo sát
đã đề xuất được một số giải pháp quản lý TBDH, tóm tắt các giải pháp như sau:
1. Tăng cường quản lý hành chính, chuyên môn.
2. Nâng cao nhận thức và hiểu biết về công tác TBDH và quản lý công tác.
3. Giải pháp cải tiến cấu trúc mô hình quản lý.
4. Cải tiến khu lập kế hoạch. Giải pháp này, đặc biệt chú trọng, trong đó lập kế
hoạch cụ thể cho từng khâu công tác của TBDH, gồm: Kế hoạch đầu tư TB; Kế hoạch khai
thác sử dụng; Kế hoạch bảo quản, sửa chữa.
5. Tăng cường tổ chức quản lý CTTBDH.
6. Tăng cường chỉ đạo điều hành.
7. Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác TBDH.
8. Các giải pháp bổ trợ, bao gồm 4 giải pháp. Các giải pháp bổ trợ này có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc tăng cường TBDH về số lượng cũng như chất lượng, tăng cường
khai thác sử dụng và nâng cao tầm quan trọng của TBDH.