SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Lê Công Quang
2. Ngày tháng năm sinh: 01 - 05 - 1965
3. Nam/nữ : Nam
4. Địa chỉ: Thị trấn Tân phú , Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613.856153
6. Đơn vị công tác : Trường THPT Đoàn Kết
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO:
o Cử nhân khoa học
o Chuyên ngành đào tạo: Hóa học
o Năm nhận bằng :1989
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC:
• Lĩnh vực chuyên môn : Hóa học
• Số năm kinh nghiệm : 25 năm
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài.
Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường, nó chiếm hầu
hết thời gian lao động của thầy, trò và cán bộ quản lí nhà trường. Hoạt động dạy và học
do các lực lượng chủ yếu của nhà trường là giáo viên, học sinh thực hiện cùng với sự
tham gia, hổ trợ của cán bộ, nhân viên trong nhà trường. Hoạt động này diễn ra liên tục
trong suốt năm học. Nó đòi hỏi sự chuyên sâu của thầy và sự tích cực của trò. Chính vì
vậy việc quản lí hoạt động dạy và học nói riêng, quản lí chuyên môn nói chung là một
trong những nhiệm vụ quan trọng của người cán bộ quản lí. Đặc biệt là trong năm học
2013-2014 này toàn ngành giáo dục nước nhà đang tiếp tục thực hiện cuộc vận động “
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “ Mỗi thầy, cô giáo là tấm
gương đạo đức , tự học và sáng tạo”; “ Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục”, tiếp tục thực hiện phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” nên công tác quản lí chuyên môn trong nhà trường cần phải đổi
quản lý giáo dục cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới
khái niệm giáo dục trong phạm vi quản lý một hệ thống giáo dục nói chung mà hạt nhân
của hệ thống đó là các cơ sở trường học, Về khái niệm quản lý giáo dục theo Thầy
Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý giáo dục thực chất là tác động đến nhà trường, làm cho
nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối nguyên lý giáo
dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái chất lượng mới về chất”
b) Quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá trình
giáo dục đào tạo nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện chức năng đào
tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai. Trường
học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã
hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào từ
Trung ương đến địa phương. Như vậy “ Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “Quản
lý giáo dục”.
c) Quản lý trường THPT
3
Quản lý trường THPT là quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng
dạy học của giáo viên, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này đến trạng thái khác để
dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục của THPT là một mục tiêu kép: Vừa chuẩn bị kiến thức
cho học sinh vào cao đẳng, đại học, vừa chuẩn bị cho các em một kỹ năng, tính tự chủ
trong lao động. Điều này có ý nghĩa khác nhiều so với cấp THCS. Đối với học sinh THPT
thì ngoài việc trang bị kiến thức, việc hình thành cho các em phương pháp học tập, tư
duy, khả năng thích ứng với cuộc sống cũng là một vấn đề quan trọng. Vì thế vấn đề đặt
ra đối với việc quản lý trường THPT chính là: Người quản lý (chủ thể quản lý) tác động
như thế nào Vào các thành tố của hệ thống giáo dục, nhằm đem lại kết quả như mong
muốn.
d) Biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn
Biện pháp: Là cách thức, con đường, một phương tiện mang tính điều kiện, do con
người sáng tạo ra, nó có thể được sử dụng tiến hành một hoạt động hướng đích nào đó
trong công tác.
- Đa số đội ngũ cán bộ, giáo viên luôn năng động, nhiệt tình trong công tác, có tinh
thần học tập cao, có ý chí phấn đầu tốt, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học được đầu tư cơ bản đảm bảo phục vụ dạy
và học.
Khó khăn
- Mặt bằng chất lượng đầu vào của học sinh trường còn thấp so với nhiều trường
THPT trong tỉnh, kinh tế địa phương còn khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện học
tập của các em.
- Nhà trường còn phải học 2 ca sáng và chiều nên thiếu thời gian, thiếu phòng học
để dạy học tự chọn, bồi dưỡng học sinh khá - giỏi, phụ đạo học sinh yếu. Chương trình,
nội dung sách giáo khoa còn nặng và nhiều bất cập, khó khăn cho thực hiện nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo.
- Một số giáo viên trẻ thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm.
2. Thực trạng công tác quản lí chuyên môn ở trường THPT Đoàn Kết
a) Phân công giảng dạy
- Hằng năm căn cứ vào năng lực giảng dạy (năng lực chuyên môn) và hiệu quả
thực hiện công tác được giao của từng giáo viên, chuyên môn nhà trường phân công giảng
5
dạy cho giáo viên. Sự phân công công tác đã xem xét năng lực hiện tại thực tế của từng
người, cũng như triển vọng phát triển của người giáo viên đó, hạn chế yếu kém để lựa
chọn phương án tối ưu. Phân công giảng dạy tương đối đảm bảo số giờ tiêu chuẩn mà
giáo viên cần thực hiện, những giáo viên chưa đủ số tiết trên tuần ( giáo viên tổ Văn,
GDCD ) thì phân công tham gia các hoạt động khác như phụ trách hoạt động ngoài giờ
lên lớp, kiêm nhiệm công tác Đoàn, phụ trách thiết bị thí nghiệm.
- Lựa chọn những giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy khối 12, bồi dưỡng học sinh
giỏi, sắp xếp giáo viên dạy luân phiên các khối lớp để tiếp cận với toàn bộ chương trình
THPT.
- Hoạt động của đội ngũ giáo viên cũng như hoạt động khác của nhà trường phụ
thuộc rất nhiều vào việc bố trí, sắp xếp các thành viên sao cho đúng việc, đúng người,
nổi, thẳng thắn tranh luận tạo ra một nhu cầu tự đào tạo cho mỗi cán bộ giáo viên. Việc
kiểm tra đánh giá đối với giáo viên được thực hiện đúng kế hoạch với chỉ tiêu đề ra. Hầu
hết giáo viên trong tổ điều tham gia hội giảng và được thanh tra lao động sư phạm theo kế
hoặch. Công tác kiểm tra hồ sơ chuyên môn của giáo viên được kiểm tra một học kỳ một
lần, 100% giáo viên thực hiện có đủ giáo án, lịch báo giảng, sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm
- Thực hiện tốt phong trào thi đua, các cuộc vận động do Bộ GD&ĐT. Chất lượng
giáo viên tương đối đồng đều, chất lượng đầu vào của học sinh đầu cấp từng bước được
cải thiện, nhờ vậy chất lượng của các nhà trường từng bước dần dần nâng cao.
c) Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
- Chuyên môn nhà trường đã hướng dẫn các quy định cũng như các yêu cầu
cụ thể của soạn bài, cung cấp cho giáo viên đủ SGK, sách tham khảo, sách giáo
viên hướng dẫn bài giảng và chuẩn kiến thức.
- Kiểm tra thường xuyên việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên.
- Phó Hiệu trưởng chuyên môn đã chỉ đạo các tổ chuyên môn thường xuyên sinh
hoạt, song việc sinh hoạt vẫn còn mang nặng tính hành chính, chưa phát huy được nội lực
của từng tổ chuyên môn, chưa đầu tư thỏa đáng thời gian, tâm huyết cho nội dung chuyên
môn như: Trao đổi kinh nghiệm soạn bài, đặc biệt đối với những bài khó, xác định kiến
thức trọng tâm của chương của bài. Việc yêu cầu bộ môn thống nhất nội dung kiến thức
cơ bản được tổ chuyên môn chú trọng. Tuy nhiên chưa đều khắp trong các tổ ở trường,
nhiều giáo viên trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm
7
- Qua thực tế của nhà trường cho thấy nếu soạn bài được chuẩn bị chu đáo, việc
lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học nhuần nhuyễn thì hiệu quả bài giảng trên lớp ngày
càng cao. Tuy nhiên việc kiểm soát cũng rất khó khăn do điều kiện công nghệ thông tin
phát triển, nhiều giáo viên thường sử dụng giáo án cũ và thay ngày soạn giảng thì việc
kiểm tra giáo án sẽ cho hiệu quả không cao, chưa nói là phản tác dụng. Việc soạn giáo án
của giáo viên chỉ mang tính hình thức chỉ mới quan tâm đến việc soạn bài đầy đủ, mà
chưa quan tâm sâu sắc đến chất lượng giáo án. Đặc biệt là khâu bồi dưỡng nghiệp vụ về
phương pháp tiến hành và cách soạn bài, lựa chọn và sử dụng phương tiện dạy học ở
trường còn hạn chế.
sơ chuyên môn theo quy định để kiểm tra việc thực hiện nề nếp của giáo viên. Việc kiểm
tra có thể là đột xuất hoặc theo kế hoạch định kỳ.
- Thực hiện sắp xếp giờ dạy thay, dạy bù trong trường hợp giáo viên đi vắng (đi
công tác, nghỉ ốm, nghỉ đột xuất) được tổ chuyên môn sắp xếp giờ dạy thay, hoặc quản lý
giờ dạy. Tuy nhiên trong thực tế không ít giờ dạy vẫn không bố trí được vì ở một số tổ
chuyên môn thiếu giáo viên hoặc hầu hết giáo viên ở ngoại trú, số giờ dạy khá nhiều nên
việc dạy bù, dạy thay không thể đảm bảo tuyệt đối, đảm đương được hết. Hiệu trưởng vẫn
chưa có trường hợp dự phòng trong trường hợp giáo viên ốm đột xuất, tai nạn bất ngờ, do
vậy vẫn còn thỉnh thoảng trống giờ.
- Việc dự giờ định kỳ, đột xuất của tổ trưởng chuyên môn, của ban giám hiệu chưa
thường xuyên, còn mang tính hình thức, nặng về đánh giá hơn là phân tích bài dạy theo
yêu cầu đánh giá và chuẩn kỹ năng của BộbGD&ĐT. Nhiều giáo viên dự giờ chưa đủ số
tiết quy định, hạn chế việc học hỏi rút kinh nghiệm cho bản thân và đồng nghiệp.
Việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh yếu kém nhà trường đã thực hiện
tương đối tốt. Có kế hoạch và có sự phân công các tổ chuyên môn lựa chọn giáo viên có
năng lực có kinh nghiệm đảm bảo giảng dạy có hiệu quả. Thời gian bồi dưỡng học sinh
giỏi được thực hiện đầy đủ. Chế độ khen thưởng kịp thời động viên được số giáo viên phụ
trách đội tuyển. Đã có nhiều giải học sinh giỏi nhưng còn ít giải cao, giải quốc gia. Phụ
đạo học sinh yếu kém đã được thực hiện, trong năm đã tổ chức được 7 lớp ( 3 lớp 10, 2
lớp 11, 2 lớp 12 ). Tuy nhiên hiệu quả chưa cao, công tác kiểm tra chưa thường xuyên chỉ
đạo chưa kịp thời.
9
- Việc kiểm tra kế hoạch giảng dạy của giáo viên, các tổ chuyên môn thường
xuyên kiểm tra (mỗi học kỳ 02 lần) đồng thời góp ý kiến cho sự cần thiết phải điều chỉnh
kế hoạch để đảm bảo đồng bộ hoàn thành nhiệm vụ năm học. Nhược điểm chính ở kế
hoạch này là các giải pháp thực hiện các chỉ tiêu đề ra còn ít hiệu quả.
e) Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy và lịch trình giảng dạy
- Chương trình giảng dạy là văn bản pháp quy do Bộ GD&ĐT ban hành. Giáo viên
là người phải thực hiện nghiêm túc chương trình, phải đảm bảo dạy đúng, đủ môn học
theo quy định, dạy đủ số tiết, tuần, môn học. Căn cứ vào thời khóa biểu, giáo viên thực
viên Hiệu trưởng ra quyết định bổ nhiệm các tổ trưởng chuyên môn. Các tổ trưởng tổ
chuyên môn của trường hầu hết đều là Đảng viên, có trình độ đạt chuẩn, và từng là giáo
viên dạy giỏi cấp trường, tỉnh trong nhiều năm liền. Đây là điều kiện thuận lợi cơ bản cho
việc chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường.
- Việc quản lý hoạt động của tổ chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản, tác
động lớn đến mọi hoạt động khác của nhà trường. Việc quản lý, chỉ đạo hoạt đông tổ
chuyên môn là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý của nhà trường.
- Dựa trên kế hoạch chuyên môn nhà trường, tất cả các tổ chuyên môn xây dựng kế
hoạch hoạt động của tổ và tổ chức thực hiện. Các tổ chuyên môn đã duy trì đều đặn (Theo
điều lệ Trường Trung học, tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần) trong sinh họat tổ
đã đề cập đến các nội dung liên quan đến các bài dạy khó, nội dung, cách thức tổ chức
kiểm tra. Tổ chức thao giảng, thanh tra theo kế hoạch chuyên môn trường, 100% các tổ
tthực hiện tương đối tốt công tác này. Các Tổ trưởng chuyên môn tổ chức kiểm tra hồ sơ
giáo viên hai tháng lần, dự giờ góp ý trao đổi kinh nghiệm với giáo viên trong tổ, phân
công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi phụ đạo học sinh yếu.
- Tuy đã có những thành công nhất định song vẫn còn một số hạn chế như nội
dung sinh hoạt tổ của một số tổ chuyên môn còn nặng về hình thức mang tính hành
chính , chưa mang tính đặc thù nghề nghiệp thiếu trao đổi thảo luận bàn bạc các vấn đề về
giảng dạy, đổi mới phương pháp; việc kiểm tra thực hiện nhiệm vụ của của giáo viên
chưa thường xuyên mang tính thời vụ…
III. Một số biện pháp quản lý chuyên môn
1. Nâng cao năng lực quản lý của tổ trưởng.
11
- Chọn tổ trưởng chuyên môn để làm sao đưa chất lượng chuyên môn của nhà
trường đạt kết quả tốt. Tổ trưởng chuyên môn phải có năng lực thực sự, đảm bảo thực
hiện tốt các hoạt động quản lý chuyên môn của nhà trường. Từ nhiệm vụ chính của năm
học, các tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch, bố trí lực lượng tham gia các công
việc chung của tổ và nhà trường, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ qua nhiều
hình thức khác nhau, như dự giờ, tổ chức hội nghị chuyên đề, tổ chức thỉnh giảng
- Các tổ trưởng chuyên môn phải thực hiện theo nguyên tắc chọn giáo viên tiêu
đề, những nội dung kiến thức liên quan đến việc ra đề kiểm tra chọn lựa bồi dưỡng học
sinh giỏi. Nghiên cứu lựa chọn chương trình để dạy cho học sinh theo kiến thức chuẩn
hay nâng cao để phù hợp với sức học của các đối tượng học sinh.
2. Kế hoạch hóa việc tổ chức hoạt động của tố chuyên môn.
- Trong thực tiễn thì tổ chuyên môn là đơn vị cơ sở, nền tảng để tổ chức và triển
khai thực hiện các hoạt động chuyên môn một cách cụ thể và có hiệu lực. Đây là nơi quản
lý trực tiếp bồi dưỡng giáo viên và phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu ,thuận lợi, khó
khăn của việc thực hiện mục tiêu dạy học. Do vậy mọi hoạt động của các giáo viên để đạt
kết quả tốt thì các tổ chuyên môn phải có kế hoạch ngay từ đầu năm học. Các giáo viên
phải bàn bạc thống nhất về chuyên môn, mang tính chuyên môn hóa, đặc thù cuả từng bộ
môn. Tổ chức cho giáo viên trong tổ học tập nắm vững nội dụng, nhiệm vụ năm học, nắm
vững các mục tiêu chuyên môn, chương trình, sách giáo khoa, các quy chế về chuyên
môn. Thống nhất để xây dựng kế hoạch thực hiện được mục tiêu chuyên môn mà nhà
trường đó giao cho tổ, nhóm chuyên môn.
- Tổ chức cho giáo viên trong tổ bàn bạc, thống nhất chương trình giảng dạy, thống
nhất mục đích yêu cầu của từng chương bài cụ thể theo khối lớp, thống nhất được hoạt
động chuyên môn nội ngoại khóa, kiểm tra đánh giá học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu
kém, thống nhất chương trình ôn tập nâng cao kiến thức cho học sinh, mục đích yêu cầu
của từng tiết giảng trong chương trình, và nội dung hình thức bài soạn của tổ.
- Thực hiện chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học. Lựa chọn các phương pháp
dạy học phù hợp với đặc thù bộ môn, đối tượng học sinh, điều kiện trường lớp cụ thể, có
như vậy thì mới nâng cao được chất lượng dạy học.Thống nhất thực hiện và sử dụng đồ
dùng dạy học, tiếp thu và ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại vào nhà trường
13
- Tổ chức sinh hoạt cùng nhau chia sẻ với đồng nghiệp các kiến thức và kinh
nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trau dồi kiến thức sư phạm sao cho tổ chuyên môn là
nơi giáo viên có điều kiện tự học, tự bồi dưỡng, đúc kết kinh nghiệm của bản thân, chia sẻ
với đồng nghiệp với tập thể.
3. Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tích
cực, sáng tạo của mỗi học sinh
cách đặt các câu hỏi từ dễ đến khó, tạo điều kiện cho học sinh tích cực động não, suy nghĩ
trong giờ học.
4. Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra đánh giá
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là một
khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng, thái độ học tập của học sinh. Đối với học sinh, nó có tác dụng thúc đẩy quá trình
học tập phát triển không ngừng, qua kết quả này học sinh tự đánh giá mức độ đạt được và
tự mình ôn tập, củng cố , hoàn thiện các nội dung mà các em còn hạn chế, hình thành thái
độ học tập tích cực. Riêng đối với giáo viên, kết quả đó vừa phản ánh thành tích học tập
của học sinh vừa giúp giáo viên tự đánh giá vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực
sư phạm của mình đối với học sinh. Chính vì vậy mà người cán bộ quản lí cần phải nắm
được tình hình giáo viên kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh như thế nào?
Công việc kiểm tra đánh giá phải được thực hiện cả hai phía đó là: Kiểm tra đánh giá hoạt
động dạy học của giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đặc biệt tăng cường đổi mới
công tác kiểm tra đánh giá, cán bộ quản lý không chỉ đơn thuần là ghi nhận thực trạng
công việc của giáo viên cũng như kiến thức kỹ năng, thái độ của học sinh trong quá trình
dạy học và giáo dục, mà còn đề xuất những cách thức, quyết định để cải tạo thực trạng,
nâng cao chất lượng giáo dục.
a) Kiểm tra đối với giáo viên.
- Kiểm tra đánh giá trình độ nghiệp vụ, năng lực sư phạm thông qua việc đánh giá
các giờ thao giảng, dự giờ của giáo viên.
- Thực hiện kiểm tra quy chế chuyên môn: Lập kế hoạch và chương trình giảng
dạy, soạn bài và các hồ sơ chuyên môn nghiệp vụ, việc sử dụng đồ dùng dạy học và việc
thực hành thí nghiệm, việc ra đề, chấm bài, trả bài kiểm tra, kiểm tra tiến độ cho điểm,
thời gian kiểm tra, cho điểm, việc cho điểm có đúng quy chế của Bộ hay không.
15
- Kiểm tra kết quả giáo dục: Kết quả đánh giá, xếp loại học lực bồi dưỡng học sinh
giỏi, thi tốt nghiệp, đại học, cao đẳng, ý thức rèn luyện đạo đức học sinh, thông qua giáo
viên chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm. Kiểm tra chéo giữa các tổ chuyên môn và các loại
hồ sơ theo quy định chung như: Sổ đầu bài, sổ điểm, sổ dự giờ, sổ báo giảng, sổ bồi
nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng học sinh nhằm đưa chất lượng của nhà trường ngày
càng vững chắc hơn. Đặc biệt với chất lượng đầu vào của trường chưa thực sự được
chuẩn hóa và còn yếu. Phân loại học sinh cũng nhằm cho học sinh thấy được khả năng
học tập của mình và từ đó các em phải cố gắng học tập vươn lên, rèn luyện bản thân sao
cho kết quả học tập ngày càng tiến bộ hơn, đáp ứng được nguyện vọng của bản thân và
gia đình, của thầy cô giáo.
- Chất lượng của nhà trường là một vấn đề quan trọng nhất để khẳng định vị trí,
vai trò của một nhà trường. Như vậy trước tiên khi vào đầu cấp thì trường đã phải phân
loại học sinh theo học lực và nguyện vọng của các em.
- Phân loại học sinh theo từng trình độ để xếp vào các lớp khác nhau, đồng thời
phân công giáo viên có năng lực giảng dạy ở các lớp tạo nguồn.
- Khi có danh sách trúng tuyển vào trường, việc đầu tiên là cho học sinh đăng ký
theo nguyện vọng vào các khối thi đại học sau này. Tập trung học sinh nói rõ mục đích, ý
nghĩa của từng khối thi giúp các em hiểu về các khối thi đó, để các em tham khảo ý kiến
của phụ huynh và các anh chị có kinh nghiệm đã học lớp 12, sau đó các em đăng ký với
nhà trường. Từ đó nhà trường có căn cứ xếp các em vào lớp sao cho phù hợp với năng
lực, nguyện vọng với đa số các em. Lựa chon học sinh có điểm số cao nhất và có học lực
giỏi ở lớp 9 để xếp vào 2 lớp tạo nguồn, làm nồng cốt Sau khi xếp xong, phân giáo viên
chủ nhiệm và giáo viên giảng dạy. Tùy theo trình độ của các lớp mà bố trí giáo viên vào
các lớp đó sao cho phù hợp với khả năng nhận thức của các em.
- Đối với chương trình giảng dạy để cho phù hợp với từng đối tượng thì các tổ
nhóm chuyên môn phải căn cứ vào phân phối chương trình của Bộ, làm căn cứ cơ bản để
từ đó tuy theo đặc trưng của từng lớp mà chọn kiến thức sao cho phù hợp khả năng và
năng lực của các em. Việc tiếp thu của các em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Song đánh
giá việc tiếp thu kiến thức của các em, nhà trường phải tổ chức kiểm tra đánh giá mỗi
tháng một lần, có thông báo kết quả đến phụ huynh học sinh của các em để cùng phối
17
hợp. Sau mỗi học kỳ nhà trường thông báo kết quả học tập của các em về khả năng
chuyển lớp của một số em. Có hai đối tượng chuyển lớp đó là:
- Một số em học sinh do phấn đấu tốt có kết quả cao trong các lần thi, kiểm tra. Thì
- Xếp loại CMNV: Tốt: 73; khá : 5; Không xếp loại: 5 ( 4 nghỉ hộ sản, 1 đi học )
2/ Chất lượng và hạnh kiểm học sinh:
* Học lực:
Loại Giỏi : 113 HS Tỷ lệ 7.92%
Khá : 554 HS Tỷ lệ 38.82% ( Tỷ lệ G+K tăng 2.37% ).
Trung bình : 638 Học sinh Tỷ lệ 44.71% ( giảm 3.86% ).
Yếu : 121 Học sinh Tỷ lệ 8.48% ( tăng 1.62% ).
Kém : 0 Học sinh (giảm 0.07% ).
* Hạnh kiểm :
Loại Tốt : 1023 Học sinh Tỷ lệ 71.69% (tăng 4.53% ).
Khá : 358 Học sinh Tỷ lệ 25.09 % (giảm 3.22% ).
Trung bình: 40 Học sinh Tỷ 2.8 % (giảm 1.2%)
Yếu : 05 Học sinh Tỷ lệ 0.35% (không thay đổi).
* Học sinh giỏi cấpTỉnh:
- Học sinh giỏi cấp Tỉnh khối 12 đạt 50 giải, trong đó: đạt 01 giải nhất, 07 giải nhì,
10 giải ba, 32 giải khuyến khích .
- Học sinh giỏi cấp Tỉnh khối 10 đạt 35 giải, trong đó: đạt 01 giải nhất, 03 giải nhì,
3 giải ba, 22 giải khuyến khích .
- Học sinh giỏi tiếng Anh trên internet đạt 5 giải trong đó có 02 giải ba và 03 KK
- Tăng 16 giải so với năm học trước.
3. Thành tích đạt được
- Lao động tiên tiến: Đạt 85 GV-NV
- Chiến sĩ thi đua cơ sở: 24
- Chiến sĩ thi đua Tỉnh: 02
- Bằng khen UBND Tỉnh 05
- Bằng khen Bộ GD&ĐT : 01
- 08 Tổ chuiyên môn đạt lao động tiên tiến, 03 Tổ đề nghị bằng khen UBND Tỉnh.
19
- Tập thể nhà trường: Đề nghị cấp trên công nhận Tập thể lao động xuất sắc và
tặng Bằng khen của thủ tướng chính phủ.
Tân Phú, ngày 20 tháng 5 năm 2014.
Người thực hiện
Lê Công Quang
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình nghiệp vụ quản lí trường phổ thông – Tập 1,2,3 của Trường Cán bộ quản
lí Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Lí luận quản lí giáo dục - Trường Cán bộ quản lí Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Giáo trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường THPT – Nhà xuất bản Hà Nội.
4. Điều lệ trường THPT- Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào Tạo đã ban hành ngày
02/04/2007.
22
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
I . Lý do chọn đề tài Trang 1
II. Mục đích đề tài . Trang 1
III. Phạm vi đề tài Trang 2
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận Trang 3
II. Thực trạng công tác quản lí chuyên môn ……………………… Trang 3
1. Đặc điểm tình hình nhà trường …………………………………… Trang 3
2. Thực trạng công tác quản lí chuyên môn ……………………… Trang 4
III. Một số biện pháp quản lý chuyên môn …………………………. Trang 10
1. Nâng cao năng lực quản lý của tổ trưởng ………………………… Trang 10
2. Kế hoạch hóa việc tổ chức hoạt động của tố chuyên môn ………. Trang 12
3. Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học …………… Trang 13
4. Chỉ đạo đổi mới công tác kiểm tra đánh giá …………………… Trang 14
5. Phân loại học sinh để bồi dưỡng HS giỏi và phụ đạo HS yếu …… Trang 15
23