skkn sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử việt nam từ 1919 đến 1945 - Pdf 25

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI

Mã số: …………………………

 !"#!$%&'(()*(
+, /.!)012121234
5*67*  89
:.6;*<. =>
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ THÔNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục 
Phương pháp dạy học bộ môn: Lịch sử 
Lĩnh vực khác: ……………. 

 Mô hình  Đĩa CD (DVD)  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2013 -2014
1
;6#.?/.()
@9. !A.B
1. Họ tên: NGUYỄN THỊ THÔNG
2. Ngày, tháng, năm sinh: 05 – 02 – 1981
3. Giới tính: Nữ
4. Địa chỉ: 141 Bảo Vinh B – xã Bảo Vinh – TX Long Khánh - Tỉnh Đồng Nai
5. Điện thoại: 0977172592
6. Fax: Email:
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Lịch sử
@*<C(+(
- Học vị (trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2003
- Chuyên môn đào tạo: Lịch sử

- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện trong toàn ngành có hiệu quả
cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện trong toàn ngành có
hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế hoàn toàn mới, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao 
- Giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có, đã được thực hiện tại đơn vị có hiệu quả cao

- Giải pháp mới gần đây đã áp dụng ở đơn vị khác nhưng chưa từng áp dụng ở đơn vị
mình nay tác giả tổ chức thực hiện và có hiệu quả cho đơn vị 
[@bVMPc
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
3
- Đưa ra giải pháp kiến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện, dễ đi vào
cuộc sống: Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong
ngành 
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng:
Trong Tổ/Phòng/Ban  Trong cơ quan, đơn vị, cơ sở GD&ĐT  Trong ngành 
Cá nhân viết sáng kiến kinh nghiệm cam kết và chịu trách nhiệm không sao chép
tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của mình.
Tổ trưởng và Thủ trưởng đơn vị xác nhận đã kiểm tra và ghi nhận sáng kiến kinh
nghiệm này đã được tổ chức thực hiện tại đơn vị, được Hội đồng chuyên môn trường
xem xét, đánh giá, tác giả không sao chép tài liệu của người khác hoặc sao chép lại nội
dung sáng kiến kinh nghiệm cũ của chính tác giả.
67d. E.S.G)8
. ,e9
G*65;!/
4
MỤC LỤC

bảo đủ thời gian. Nhiều giáo viên chưa chú ý xem đây là nguồn nhận thức, ít chú
trọng sử dụng nguồn tài liệu nói trên trong phân tích, giải thích, dùng để đặt câu
hỏi nêu vấn đề, tổ chức thảo luận, chưa chú ý đến việc phát huy tính tích cực
nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học.
Vì vậy, việc sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa trong
dạy học lịch sử ở trường phổ thông là yêu cầu cần thiết đối với việc dạy học lịch
sử. Nhưng để phát huy tính tích cực của HS trong dạy học lịch sử, người giáo
viên phải kết hợp nhuần nhuyễn hệ thống phương pháp dạy học. Đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử, trong đó sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản
đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một trong những yêu
cầu cơ bản của lí luận dạy học hiện đại nhằm tái hiện lịch sử đảm bảo tính chân
thực, sinh động. Qua đó, giúp học sinh tiếp cận nhiều nguồn tư liệu dưới nhiều
hình thức, mức độ khác nhau nhằm tạo hứng thú, khơi dậy tính tích cực, chủ
động hơn trong quá trình hình thành tri thức lịch sử. Từ những lý do trên, tôi
chọn đề tài: !!"#!$%
&'(' )*+",  /01#234#&'56
728#9:;<
Y@k^il^mJn`
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng tài liệu thành văn kết
hợp với bản đồ giáo khoa có thể sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919
đến 1945 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn).
[@QW^^mJn`
Với đối tượng nghiên cứu trên, luận văn đi sâu vào việc khai thác để sử
dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử Việt
Nam từ 1919 đến 1945 ở trường Trung học phổ thông (Chương trình Chuẩn).
6
(Bài học nội khóa trên lớp 12), tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
Long Khánh tỉnh Đồng Nai.
3@cJi^m`^mJn`
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ

(2003), Phương pháp dạy học lịch sử… đã giành hẳn một phần lớn đề cập đến hệ
thống phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT, đặc biệt đã làm rõ các biện
pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, trong đó viết về cơ sở lí luận của việc
sử dụng đồ dùng trực quan quy ước nhằm nâng cao hiệu quả bài học lịch sử;
Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) (2006), Con đường và các biện pháp nâng cao hiệu
quả của bài học lịch sử ở trường phổ thông, tác giả đã đi sâu gợi mở các con
đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đặc biệt
đã đánh giá cao phương pháp sử dụng tài liệu thành văn, phương pháp trực quan
và xem đây là những phương pháp hữu hiệu để đổi mới phương pháp dạy học;
Nguyễn Thị Côi (Chủ biên) (2011), Nguyễn Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Thế
Bình, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong SGK Lịch sử 12. Qua tác phẩm trên,
các tác giả đã đề cập một cách đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng
kênh hình nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Đồng thời đề ra
những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát huy tính tích cực của học sinh học
trong học tập lịch sử.
- Các giáo trình lịch sử Việt Nam, các tài liệu chuyên khảo về các nhân vật
lịch sử, liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Bên cạnh các công trình nói trên, có nhiều bài nghiên cứu của các tác giả
8
đăng trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục và các kì hội thảo khoa học…
Tóm lại, việc sử dụng tài liệu thành văn và bản đồ giáo khoa trong dạy học
lịch sử là những đề tài hấp dẫn thu hút nhiều học giả nghiên cứu. Trên một khía
cạnh nào đó các nhà nghiên cứu đã trình bày những vấn đề có tính chất lí luận hoặc
nêu lên việc sử dụng tài liệu thành văn và bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đề cập cụ thể vấn đề: yx
Pcij^K^_`ijVz{ilM]^|bg}^zsJ~i•zs^iJi
PQ€XJKJvx!^_isWi•1212g{1234wi`XJM‚iƒ
:.i„.`…>†. Đây là nhiệm vụ mà tác giả cần giải quyết.
1@Y@‡`s^_Whij^K^_`ijV
Là một loại tài liệu hết sức phong phú và có vị trí quan trọng đối với các

gian của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên về kinh tế - xã hội trên các lãnh
thổ khác nhau trên bề mặt trái đất. Những bản đồ đó gọi là bản đồ giáo khoa.
Dựa vào mục tiêu sử dụng trong việc dạy học lịch sử, U.C.Bilích và
A.C.Vasmuc đã định nghĩa bản đồ giáo khoa như sau: “Bản đồ giáo khoa là
những bản đồ sử dụng trong mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng
dạy và học tập ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình thức, tạo nên một hệ
thống giáo dục cho tất cả các tầng lớp dân cư từ học sinh đến việc đào tạo các
chuyên gia. Những bản đồ đó cũng được sử dụng trong nhiều ngành khoa học,
trước hết là địa lý và lịch sử” [2, tr.18].
Như vậy, tất cả các loại bản đồ địa lí, bản đồ lịch sử - quân sự, chính trị hay
bản đồ về kinh tế - xã hội dùng trong nhà trường, trong hệ thống giáo dục quốc
dân thì đều được gọi chung là bản đồ giáo khoa.
Bản đồ giáo khoa là một trong những đồ dùng trực quan quan trọng và trở
thành nhu cầu có tính nguyên tắc của toàn bộ quá trình dạy học lịch sử ở trường
phổ thông. Bản đồ giúp học sinh xác định địa điểm của sự kiện trong không gian
và thời gian nhất định, đồng thời còn giúp học sinh suy nghĩ và giải thích các
10
hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát
triển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học.
ˆ‡`s^_W|bg}^zsKJvx
Từ cách hiểu trên theo chúng tôi, bản đồ giáo khoa lịch sử là những bản đồ
được sử dụng với mục đích giáo dục, chúng cần thiết cho việc giảng dạy lịch sử
của giáo viên và học tập của học sinh ở tất cả các cơ sở giáo dục dưới mọi hình
thức, tạo nên một hệ thống giáo dục quốc dân từ học sinh tiểu học đến học sinh
phổ thông và sinh viên các trường cao đẳng, đại học.
Y@.vwiOJi^‰
Lịch sử là một trong các bộ môn góp phần phát triển toàn diện con người
như nhà văn dân chủ Nga thế kỉ XIX, Tsecnưsépxki khẳng định: “Có thể không
biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Latinh, Hoá học; có thể
không biết hàng nghìn môn khoa học khác, nhưng dù sao đã là con người có

đến yêu thích lịch sử. Nên việc sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đổ
giáo khoa có ý nghĩa rất quan trọng.
* Thực trạng trường THPT Long Khánh
- Thuận lợi:
Đây là ngôi trường lớn trong tỉnh Đồng Nai, đã nhiều lần được Sở Giáo
dục - Đào tạo Tỉnh Đồng Nai tặng giấy khen, UBND Tỉnh Đồng Nai và Bộ
Giáo dục - Đào tạo tặng Bằng khen. Năm 1998 được Thủ tướng Chính phủ tặng
Bằng khen. Năm 2004 trường vinh dự được đón nhận Huân chương lao động
Hạng III của Chủ tịch nước trao tặng. Năm 2006 trường được công nhận đạt
chuẩn Quốc gia. Và hiện nay là một trong hai trường trọng điểm chất lượng cao
của tỉnh. Nhiều năm liền tỷ lệ thi tốt nghiệp THPT và Cao đẳng – Đại học luôn
cao. Trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh thì trường luôn thuộc tốp đầu
trong các trường THPT, ngoài ra còn có nhiều em đạt danh hiệu học sinh giỏi
quốc gia.
12
Về phương pháp: Các thầy cô trong tổ có trình độ chuyên môn cao, đầy
nhiệt huyết với lòng yêu nghề và luôn tích cực đổi mới phương pháp dạy học:
rất chú trọng dạy học theo phương pháp mới - lấy học sinh làm trung tâm,
phát triển tư duy cho học sinh
Về thái độ học tập của học sinh: Các em nhiệt tình tham gia hoạt động
trên lớp học, đối với các câu hỏi khó, cần yêu cầu tư duy thì các em đều chịu
khó tìm hiểu và chủ động phát biểu. Trong các hoạt động giao việc về nhà
sưu tầm tài liệu, làm bài thuyết trình trước lớp cũng được các em tích cực
hưởng ứng.
Về cơ sở vật chất: Trường có hệ thống cơ sở vật chất thuộc loại tốt và
luôn được trang bị hoàn thiện hơn qua các năm học. Hiện tại nhà trường có
đầy đủ phòng chức năng, phòng nghe nhìn. Đặc biệt ở mỗi lớp (thuộc khối 10
và 11) được trang bị 1 tivi hiện đại với nhiều chức năng ưu việt.
Tất cả những yếu tố trên đã tạo một điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt đề tài
này.

sự kiện lịch sử là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Do tính toàn diện của việc học
tập lịch sử, các khóa trình và bài giảng cung cấp cho học sinh nhiều loại sự kiện
thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, như: Sự kiện về kinh tế, chính
trị, quân sự, văn hóa – xã hội… Muốn học sinh có hiểu biết đầy đủ về sự kiện,
tăng thêm tính sinh động, gợi cảm của bài giảng, gây hứng thú học tập, cần phải
sử dụng nguồn tài liệu thành văn.
Ví dụ: Khi trình bày nội dung bài 15: Phong trào cách mạng 1930 – 1935
(SGK Lịch sử 12, Chương trình chuẩn), mục 3: Xô viết Nghệ Tĩnh, có rất nhiều
tài liệu thành văn để kết hợp với bản đồ giáo khoa nói về phong trào Xô viết
Nghệ Tĩnh. Giáo viên có thể sử dụng đoạn tài liệu sau:
“Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ở cách nhau 360 km về phía bắc thành phố
Huế, kinh đô nước An Nam (nơi tên vua “bù nhìn” thiết lập triều đình) và cách
14
326 km về phía nam Hà Nội, thủ phủ xứ Đông Dương thuộc đế quốc Pháp…
Ngoài số công nhân đó và một số như vậy quan lại, chủ đồn điền và người
buôn bán…nhân dân hai tỉnh đều là bần và trung nông (hơn 1 triệu người). Địa
thế 2 tỉnh nhiều rừng núi, đất đai cằn cỗi, nông giang chẳng có, ở đây thường
xảy ra lụt, bão, do đó nhân dân đói khát và nơi ăn chốn ở rất khổ sở. Sưu thuế
nặng nề và nạn áp bức xã hội và chính trị làm cho cảnh ngộ của họ càng cùng
cực hơn.
… Từ tháng 5 đến tháng 12, công nhân Nghệ An (Vinh) đã 8 lần bãi công
và biểu tình có 2.500 người tham gia. Cũng trong thời gian đó có 137 cuộc biểu
tình đã nổ ra bao gồm tất cả 300.000 nông dân ở cả 2 tỉnh hơn 60.000 nông dân
đã được tổ chức vào Hội.
Nghệ Tĩnh thật xứng đáng với danh hiệu “đỏ” từ ngày 26 -11 đến ngày 19
– 11, có 2 cuộc lễ vàng. Cuộc lễ thứ nhất được tổ chức ở làng Lộc Đa, cách Vinh
2km, 400 công nhân Vinh và nông dân Hưng Nguyên, Nghi Lộc đã đến dự để
làm lễ truy điệu những chiến sĩ bị hi sinh trong ngày 11 – 12 nhân dịp kỷ niệm
công xã Quảng Châu…
… Trong lúc buổi lễ đang tiến hành, anh em công nhân cắt điện làm cho cả

Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh là một vấn đề khó khăn, vì yêu cầu
cơ bản của DHLS là phải tái tạo lại những hình ảnh về các sự kiện đúng như nó
tồn tại, mà những sự kiện đó, học sinh không thể trực tiếp quan sát, xa lạ với đời
sống hiện tại, với kinh nghiệm và sự hiểu biết của các em.
Ý nghĩa to lớn của việc tạo biểu tượng trong DHLS trước tiên ở chỗ nó là
cơ sở để hình thành khái niệm lịch sử. Việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh
không chỉ dừng lại ở việc miêu tả bề ngoài mà còn đi sâu vào bản chất sự kiện,
nêu đặc trưng, tính chất của sự kiện. Việc tạo biểu tượng lịch sử có ý nghĩa giáo
dục lớn đối với học sinh, vì thông qua những hình ảnh cụ thể, sinh động tác động
mạnh mẽ đến tư duy, tình cảm của các em.
Sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa là một trong những
phương pháp dạy học trực quan cao trong DHLS. Bởi vì, đối với học sinh, việc
sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa sẽ mạng lại cho các em
nhận thức chính xác, sinh động về sự kiện, nhân vật, trên cơ sở đó tạo cho các
em những cảm xúc lịch sử mạng mẽ, sâu sắc. Đó chính là con đường có hiệu quả
để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút bài học lịch sử.
Ví dụ: Khi giảng bài 13. Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1925
đến năm 1930 (SGK Lịch sử 12, Chương trình Chuẩn), mục I. 3. Việt Nam Quốc
dân đảng, để tạo biểu tượng cho học sinh về tấm gương kiên cường bất khuất của
Nguyễn Thái Học và các chiến sĩ Việt Nam Quốc dân đảng trong khởi nghĩa Yên
Bái thì giáo viên có thể cung cấp cho HS sự kiện về cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Đồng
thời giáo viên có thể cung cấp cho các em đoạn tài liệu thành văn sau:
17
“ Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ lên máy chém:
Người đầu tiên bước lên máy chém là ông Đào Văn Nhật, ông vừa hô “
Việt Nam…” thì bọn lính chạy ập tới bịt miệng lại, sau đó những người bước lên
đoạn đầu đài đều bị bịt miệng. Đến người thứ mười hai là ông Phó Đức Chính,
ông khẳng khái yêu cầu hai điều: “không được bịt miệng; được nằm ngửa để
nhìn lưỡi dao phập xuống cổ mình”. Bọn cầm quyền đồng ý, Phó Đức Chính
ung dung nằm ngửa và trước khi lưỡi dao phập xuống cổ mình, ông đã kịp hô

đầu học sinh. Biểu tượng lại là cơ sở để hình thành và giải thích khái niệm lịch
sử. Vì vậy, nội dung các hình ảnh lịch sử, các bức tranh lịch sử quá khứ càng
phong phú bao nhiêu thì khái niệm lịch sử học sinh thu nhận được sẽ càng vững
chắc bấy nhiêu và do vậy học sinh sẽ hiểu được bản chất, đặc trưng, tính chất
của sự kiện lịch sử nhanh hơn và việc hình thành hay giải thích khái niệm lịch sử
cũng trở nên thuận lợi hơn.
Ví dụ, khi dạy học bài 16, Phong trào giải phóng dân tộc và tổng khởi
nghĩa tháng Tám (1939 – 1945). Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời mục
III. 2. Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày tổng khởi nghĩa (SGK Lịch sử 12,
Chương trình Chuẩn), GV sử dụng đoạn tài liệu về căn cứ địa Việt Bắc và lược
đồ khu giải phóng Việt Bắc để giúp HS hiểu căn cứ địa là gì.
“Khu giải phóng Việt Bắc bao gồm hầu hết các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn,
19
Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng lân cận như
Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Tân Trào được chọn làm thủ đô của
Khu giải phóng. Đồng thời giáo viên nhấn mạnh cho học sinh thấy rằng, ngoài
việc chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang thì Hồ Chí Minh rất quan
tâm xây dựng căn cứ địa cách mạng – đây chính là nơi dừng chân của cách
mạng, là nơi cung cấp về sức người và sức của cho cách mạng. Khu giải phóng
Việt Bắc chính là nơi thực hiện những chính sách đối nội và đối ngoại của Mặt
trận Việt Minh, trên cơ sở đó để rút kinh nghiệm và thực hiện khi nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời. Cho nên Khu giải phóng Việt Bắc còn được xem là
hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam mới”. [3, tr. 229]

%bg}z`^b^M~!^_i%ŽJ[14]
Qua đoạn tài liệu thành văn kết hợp với lược đồ khu giải phóng Việt Bắc
giáo viên nhấn mạnh cho học sinh thấy rằng, ngoài việc chuẩn bị lực lượng chính
trị, lực lượng vũ trang thì Hồ Chí Minh rất quan tâm xây dựng căn cứ địa cách
mạng – đây chính là nơi dừng chân của cách mạng, là nơi cung cấp về sức người
và sức của cho cách mạng. Sau đó, giáo viên giải thích cho học sinh thấy rõ vì

thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
@d.6+
21
1@cJg\JiOJ^_W
Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm xác định tính đúng đắn của cơ sở lí
luận và những yêu cầu mang tính nguyên tắc cũng như kiểm nghiệm tính hiệu
quả, khả thi của sử dụng tài liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa trong
dạy học lịch sử Việt Nam từ 1919 đến 1945 ở trường Trung học phổ thông
(Chương trình Chuẩn).
Y@MMUz{QJiOJ^_W
=<-<>?"'&@2?'
- Đối với HS các lớp thực nghiệm và đối chứng: chúng tôi chọn 1 lớp thực
nghiệm (12A1) và 1 lớp đối chứng (12A4) ở trường THPT Long Khánh.
=<=<+A?'
Tiến hành dạy thực nghiệm bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam
từ năm 1919 đến năm 1925”
Tiến hành kiểm tra kết quả học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
để xem xét tính khả thi của đề tài.
=<B<C28 ?'
Hướng dẫn áp dụng nội dung, phương pháp và một số biện pháp sử dụng tài
liệu thành văn kết hợp với bản đồ giáo khoa trong dạy học lịch sử Việt Nam từ
1919 đến 1945 mà luận văn đã đưa ra ở các lớp thực nghiệm.
Để đảm bảo tính khách quan, chúng tôi chọn đối tượng nhận thức giữa lớp
đối chứng và lớp thực nghiệm đều tương đương nhau về trình độ.
Y@3@OJ^_WJci•
Theo giới hạn của đề tài này tác giả chỉ ứng dụng trong bài 12 “Phong trào
dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925”, SGK Lịch sử 12
(Chương trình Chuẩn).
(d.
DEF-=:

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp là nước thắng trận, nhưng kinh tế
bị thiệt hại nặng nề, để bù lấp vào chỗ thiếu hụt đó, thực dân Pháp đã tăng cường
bóc lột thuộc địa, với chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp đã tác
động và làm chuyển biển về kinh tế, văn hóa, xã hội nước ta, những chuyển biến
ấy làm hay đổi nội dung và tính chất của cách mạng Việt Nam thời kì này. Để
tìm hiểu những nội dung đó chúng ta cùng học bài: “Phong trào dân tộc dân chủ
ở Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1925”.
Hoạt động của thầy và trò Nội dung cơ bản
QigI1: „W^•` MijPŒiIJ
PŒJrw!^_isWi•1212g{12Y4@(Hoạt
động cả lớp, cá nhân)
•Giáo viên giải thích khái niệm “phong trào
dân tộc dân chủ” -Là phong trào đấu tranh vì
độc lập dân tộc và các quyền dân chủ (trong đó
vấn đề dân tộc là cơ bản, chi phối và quyết vấn
đề dân chủ)
GV hướng dẫn HS về nhà đọc thêm vì đây là
nội dung giảm tải.
QigIY: QigIJrsivbUi^•`i
vbjJƒŒ!^_isW (Hoạt động
nhóm)
GV chia lớp thành 4 nhóm
+ Nhóm 1: Trình bày 1 số phong trào đấu
tranh của giai cấp tư sản dân tộc? Em có
nhận xét gì về mục tiêu đấu tranh của tư sản,
thái độ chính trị của họ ?
+ Nhóm 2: Trình bày những hoạt động của
@ijPŒiIJ
PŒJrw!^_isWi•
1212g{12Y4@

công nhân diễn ra ở 1 số xí nghiệp, khu mỏ
nhưng còn lẻ tẻ, tự phát. Về sau phong trào
đấu tranh của công nhân đã có sự thay đổi về
chât, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân
Gòn và xuất khẩu gạo ở
Nam Kì của tư bản Pháp.
- Năm 1923, tư sản và địa
chủ Nam Kì còn thành lập
Đảng Lập hiến.
* Tiểu tư sản: hoạt động sôi
nổi.
- Thành lập tổ chức chính
trị VN nghĩa đoàn, Hội
phục việt, Đảng Thanh
niên… Hoạt động với nhiều
hình thức phong phú, sôi
nổi: mít tinh, biểu tình, bãi
khóa… lập nhà xuất bản
tiến bộ, ra sách báo tiến bộ:
An Nam trẻ, Người nhà
quê
- Tiêu biểu nhất có cuộc
đấu tranh đòi trả tự do Phan
Bội Châu (1925) và cuộc
truy điệu và để tang Phan
Châu Trinh (1926).
* Công nhân: phong trào
công nhân còn lẻ tẻ tự phát.
- Công nhân Sài Gòn –
Chợ Lớn lập công hội (bí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status