skkn một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dạy và học tiết đọc văn ở trường trung học phổ thông - Pdf 25

MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC
TIẾT ĐỌC VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Hiện nay, đất nước ta đang đổi mới, phát triển trên con đường công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, tiềm
ẩn nhiều nguy cơ xung đột, mâu thuẫn nặng nề. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi
âm mưu phá hoại, hòng làm suy yếu nước ta. Nhiệm vụ giáo dục là quốc sách hàng
đầu của Nhà nước. Mục đích của giáo dục là đào tạo nên những con người có
phẩm chất tốt, có năng lực, thông minh, sáng tạo, góp phần tích cực xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Môn Ngữ văn là môn học hàng đầu góp phần
hình thành những phẩm chất tốt đẹp cho thế hệ trẻ, giáo dục học sinh lòng yêu
nước, yêu quê hương thiết tha, lòng nhân ái, nhạy cảm trước cái đẹp, tinh thần đấu
tranh chống lại cái xấu, cái ác, biết vượt qua khó khăn, thử thách để vươn tới lý
tưởng cao đẹp. Xã hội phát triển đòi hỏi giáo dục cũng phải phát triển để đáp ứng
nhu cầu của thời đại. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được nhiều nhà giáo
dục quan tâm. Trong môn Ngữ văn, phân môn Đọc văn có vai trò rất quan trọng.
Quan điểm dạy học mới lấy học sinh là trung tâm, nêu nhiệm vụ phải phát huy tính
chủ động, tích cực của học sinh trong học tập. Làm thế nào để phát huy tính chủ
động, tích cực của học sinh trong học tập môn Ngữ văn ? Làm thế nào để khắc
phục lối dạy học cũ lấy người thầy làm trung tâm trong việc tìm hiểu, chiếm lĩnh
tri thức Ngữ văn ? Đây cũng là sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và nhiều
thầy cô giáo có tâm huyết với nghề.
Mục tiêu của tiết dạy và học tiết Đọc văn là : góp phần bồi dưỡng nhân cách,
tư duy sáng tạo, nâng cao khả năng xúc cảm thẩm mỹ cho học sinh. Văn bản văn
học là ngữ liệu để giáo dục rèn luyện cho học sinh kỹ năng nói, viết, xây dựng
đoạn văn theo cấu trúc, viết được một bài văn theo yêu cầu, về kiến thức, về kỹ
năng, học sinh biết vận dụng các tri thức đọc - hiểu vào thực tiễn cuộc sống. Có
những học sinh có năng lực cảm thụ tác phẩm văn học tốt, nhưng cũng có những
học sinh học tập còn lơ là, ham chơi, học đối phó, hiểu tác phẩm còn hạn chế, bài
viết chỉ đạt điểm 5 - 6. Một số giáo viên kiểm tra, đánh giá học sinh trong phân
môn Đọc văn còn theo cảm tính, chưa khích lệ học sinh cố gắng, hăng say học tập,

TÀI :
1. Thuận lợi :
- Vấn đề nâng cao chất lượng và học môn Ngữ văn luôn được sự quan tâm
rộng rãi của các ban ngành, nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh. Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Đồng Nai đã tổ chức các hội nghị chuyên đề, các lớp tập huấn
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông,
tổ chức hội giảng cấp tỉnh trong nhiều năm, tuyên dương những giáo viên đạt danh
hiệu giáo viên giỏi cấp tỉnh. Ban Giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn có nhiều
đổi mới trong tổ chức các buổi họp tổ chuyên môn, không còn nặng về thủ tục
hành chính.
- Đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn nhiệt tình, có nhiều kinh nghiệm
trong giảng dạy, tâm huyết với nghề, luôn đổi mới trong phương pháp dạy và học
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn. Giáo viên trong tổ nhiệt tình
tham gia các đợt thao giảng dự giờ, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy. Nhiều học sinh
đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh.
2
- Nhà trường được cung cấp nhiều trang thiết bị : máy chiếu, tranh ảnh, ti
vi tạo hứng thú cho học sinh học tập môn Ngữ văn. Nhiều giáo viên trong tổ tự
làm đồ dùng dạy học, tìm tòi hình ảnh, tư liệu phục vụ cho việc dạy và học môn
Ngữ văn.
- Chương trình dạy học mới đòi hỏi thầy và trò phải sáng tạo trong giảng dạy
và học tập, phải phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh. Giáo viên phải đổi
mới cách soạn giáo án, thiết kế bài dạy, tổ chức các khâu lên lớp, chuẩn bị ở nhà,
sử dụng có hiệu quả trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Nhờ vậy, chất lượng giảng
dạy môn Ngữ văn ngày càng cao. Tỷ lệ học sinh khá giỏi ngày càng tăng so với
năm học trước.
- Tích cực hưởng ứng phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực",
quan hệ thầy trò thân ái, nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, học sinh tích cực học tập,
tham khảo các tư liệu phục vụ học tập bộ môn Ngữ văn.
2. Khó khăn :

Tỷ lệ
Điểm trung
bình - Tỷ lệ
Điểm khá, giỏi
- Tỷ lệ
2011 - 2012 38 0 - 0% 5 - 13,1% 33 - 86,9%
2012 - 2013 37 0 - 0% 4 - 10,8% 33 - 89,2%
2013 - 2014 38 0 - 0% 2 - 5,3% 36 - 94,7%
III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
A. Cơ sở lý luận :
Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn có vị trí rất quan trọng, vì "đó là
công cụ cho tất cả các môn, công cụ tư duy, công cụ diễn đạt, công cụ học tập" (Lê
Trí Viễn). Người giáo viên dạy môn Ngữ văn ở trường THPT có nhiệm vụ truyền
đạt những tri thức từ bộ môn Ngữ văn đến học sinh, gồm ba phân môn : Đọc văn,
Tiếng Việt và Làm văn. Đọc văn có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển tư
duy, rèn luyện cách diễn đạt cho học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục. Những tri
thức được học sinh lĩnh hội, được trình bày dưới dạng nói hay dạng viết mà dùng
từ chính xác, diễn đạt chặt chẽ, trật tự, mạch lạc, đúng cấu trúc ngữ pháp thì mới
đáp ứng được yêu cầu đào tạo trong nhà trường phổ thông.
Hiện nay chúng ta đang thay đổi quan niệm dạy học bộ môn Ngữ văn, đổi
thay mô hình và phương pháp dạy học ngữ văn. Dạy học Đọc văn, khác với mô
hình truyền thông lấy giáo viên làm trung tâm, học sinh chỉ thụ động nghe thầy cô
giáo gảing bài và ghi chép. Nay lấy học sinh làm trung tâm, nghĩa là lấy việc Đọc
văn của học sinh làm trung tâm. Thầy cô giáo là người hướng dẫn học sinh Đọc
văn. Học sinh là người chủ động kiến tạo kiến thức văn học trong giờ học dưới sự
tác động của giáo viên, chứ không phải giáo viên nhồi nhét kiến thức cho học sinh.
"Đọc văn là hoạt động được cá tính hóa của học sinh, không nên lấy sự phân tích
của giáo viên mà thay thế hoàn toàn sự cảm thụ cá thể hóa của học sinh" (Trần
Đình Sử). Người giáo viên dạy Ngữ văn cần dành cho học sinh một khoảng trời
riêng để các em tìm tòi, khám phá. Các em cần suy nghĩ, chủ động và thể nghiệm,

nhỏ. Hệ thống câu hỏi đặt ra để học sinh thảo luận phải hướng vào trọng tâm của
bài học, vào mục tiêu bài học đặt ra. Bài học phải đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ
năng, thực hiện chương trình giảm tải, tránh lan man, dàn trải.
- Người giáo viên nắm vững được mức độ cần đạt, trọng tâm kiến thức, kỹ
năng, chuẩn bị nhuần nhuyễn các khâu lên lớp sẽ làm chủ được kiến thức, chủ
động về thời gian, không lúng túng khi gặp tình huống học sinh đặt câu hỏi đề nghị
giáo viên lý giải hoặc nâng cao vấn đề.
- Người giáo viên có thể tự làm đồ dùng dạy học, tìm thêm tư liệu nâng cao
hiệu quả giờ dạy, hoặc phân công học sinh chuẩn bị sơ đồ, mô hình, dụng cụ học
tập. Chẳng hạn : bức tranh chiến đấu chống quân Mông - Nguyên, truyện về nàng
Tiểu Thanh trong Kim cổ kỳ văn, băng đĩa trích đoạn vở kịch Vĩnh biệt Cửu Trùng
Đài, bút tích của Xuân Diệu
- Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, đọc kỹ phần Tiểu dẫn và Văn
bản, soạn bài theo hướng dẫn của sách giáo khoa và câu hỏi của giáo viên (bám sát
chuẩn kiến thức - kỹ năng). Giáo viên hướng dẫn học sinh soạn bài trước khi lên
lớp phải loại bỏ những nội dung đã giảm tải, tránh việc mất nhiều thời gian soạn
bài ở nhà. Chẳng hạn bài Ca dao hài hước chỉ còn học hai bài số 1 và số 2
5
- Đối với tác phẩm thơ, giáo viên có thể chọn một vài học sinh đọc diễn cảm
bài thơ hoặc ngâm thơ. Đối với tác phẩm truyện, giáo viên yêu cầu học sinh phải
tóm tắt được tác phẩm trước khi lên lớp. Có thể học sinh diễn xướng tác phẩm như
bài : Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa; Tấm Cám; An Dương Vương và Mị
Châu - Trọng Thủy Đối với tác phẩm kịch, giáo viên có thể chuẩn bị cho học
sinh diễn cả đoạn trích hay một phần của đoạn trích trong sách giáo khoa, như các
đoạn trích : Tình yêu và thù hận; Hồn Trương Ba, da hàng thịt
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu văn bản ở nhà. Có những tác
phẩm hoặc đoạn trích dài, thời gian ở lớp hạn chế, giáo viên chỉ hướng dẫn học
sinh đọc những đoạn văn trọng tâm trên lớp, nên việc đọc văn bản ở nhà là rất cần
thiết với học sinh. Người thầy cần hướng dẫn học sinh liên hệ với những văn bản
có cùng thể loại đã được học ở trung học cơ sở hoặc ở trung học phổ thông, hoặc

bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương, Câu
cá mùa thu của Nguyễn Khuyến, Thương vợ của Trần Tế Xương đều là thơ thất
ngôn bát cú luật Đường viết bằng chữ Nôm
- Ghi chép những ý kiến, nhận định, đánh giá hay về tác giả, tác phẩm để
làm tư liệu học tập.
2. Hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn, nắm vững những kiến
thức về tác giả, tác phẩm, phong cách sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng
tạo, xuất xứ của văn bản, vị trí của đoạn trích :
Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - hiểu phần Tiểu dẫn. Học sinh đọc phải
rõ ràng, chính xác những thông tin về cuộc đời tác giả, những tác phẩm tiêu biểu,
phong cách sáng tác của tác giả, hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ của văn bản, vị trí của
đoạn trích. Giáo viên và những học sinh khác chú ý lắng nghe, đối chiếu với sách
giáo khoa. Nhận xét cách đọc, phát hiện, sửa lại những chỗ đọc sai dẫn đến những
thông tin thiếu chính xác. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh tóm tắt những nội
dung chính của phần Tiểu dẫn về tác giả, tác phẩm. Chú ý đến phong cách nghệ
thuật, thể hiện tài năng và đóng góp của tác giả đối với văn học dân tộc, văn học
thế giới. Ví dụ khi đọc - hiểu phần Tiểu dẫn bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh
Thảo), học sinh cần nắm được những nét đặc sắc trong kiểu tư duy mới mẻ, hiện
đại của tác giả : ngòi bút hướng nội giàu suy tư, trăn trở về cuộc sống của nhân
dân, đất nước và thời đại, luôn tìm tòi những hình thức biểu đạt mới.
Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những tư liệu về tác giả, tác phẩm :
tranh chân dung, tranh phong cảnh, lời nhận định về tác giả, lời bình hay về tác
phẩm Mục đích giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về các tác giả, những đóng góp
về tư tưởng, nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm. Ví dụ, sách Đại Việt sử ký
toàn thư viết về Phạm Ngũ Lão : "Ngũ Lão thích đọc sách, người phóng khoáng,
có chí làm việc lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như ít bận tâm. Nhưng đội
quân của ông đều một lòng thân yêu như cha con, đánh đâu được đấy.". Về hoàn
cảnh ra đời của bài thơ Cáo bệnh, bảo mọi người (Cáo tật thị chúng) của thiền sư
Mãn Giác, sách Thiền uyển tập anh chép : "Ngày 30 tháng 11, thiền sư Mãn Giác
cáo bệnh, có kệ dạy rằng : Xuân qua, trăm hoa rụng từ đó sư ngồi kiết già mà

thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả thực hành, vận dụng và kết
nối kiến thức với phần Tiếng Việt, Làm văn. Vì vậy, khi đọc - hiểu một văn bản
văn học, giáo viên phải định hướng cho học sinh nắm được đặc trưng thể loại của
văn bản. Ví dụ bài thơ Việt Bắc (trích) của Tố Hữu thuộc thể loại thơ lục bát, bài
thơ Sáng của Xuân Quỳnh thuộc thể loại thơ năm chữ, đoạn trích Đất Nước (trích
trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm thuộc thể loại thơ tự do
Yêu cầu học sinh biết cách đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng loại thể : đoạn trích
Việt Bắc gồm lời người ra đi và người ở lại đan cài nhau, nên cần đọc theo kiểu
phân vai đối đáp để cảm nhận được kết cấu và giọng điệu của bài thơ,. Khi đọc bài
thơ Sóng cần thể hiện được nhịp điệu không dứt của sóng biển và nhịp điệu dìu
dặt, triền miên của sóng lòng người phụ nữ đang yêu. Khi đọc đoạn trích Đất
Nước, cần thể hiện được đặc sắc của giọng điệu trường ca : vừa hào sảng, hào
hứng, vừa thiết tha, sâu lắng chất triết luận.
8
Đối với mỗi thể loại có cách đọc - hiểu khác nhau. Đối với một bài thơ hoặc
đoạn trích thơ cần học thuộc lòng. Đối với một truyện ngắn hoặc một đoạn trích
truyện ngắn cần nắm được cốt truyện từ đầu đến cuối
4. Đọc hiểu văn bản ngôn từ, hiểu được đại ý, bố cục của văn bản, đoạn
trích :
Khi đọc - hiểu văn bản văn học, trước tiên phải đọc - hiểu văn bản ngôn từ.
Cần tạo ấn tượng toàn vẹn về văn bản bằng cách đọc văn bản từ đầu đến cuối, hiểu
được từ khó, từ láy, điển cố, điển tích. Ví dụ truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch
Lam, có một số từ ngữ ít sử dụng trong đời sống hiện nay như : thu không, quả
thuốc sơn đen, lính lệ, thầy thừa, thầy lục, tráp, xà tích, trống cầm canh giáo
viên cần cho học sinh đọc phần chú thích, hoặc giải thích từ khó, từ lạ cho học sinh
hiểu được. Trong tác phẩm Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, có nhiều từ Hán
Việt, điển cố, điển tích, cần giải thích cho học sinh hiểu : đồ hồi, duy ác, về đông,
phía tả, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào, nếm mặt nằm gai, sĩ khí, quân thanh,
trúc chẻ tro bay, mưa phạt tâm công, máu chảy trôi chày Trong quá trình đọc
hiểu bài thơ chữ Hán, phải bám sát phiên âm và dịch nghĩa, dịch thơ, phát hiện

hạn, đọc - hiểu đoạn trích Trao duyên (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du) sau khi
hiểu được nghĩa của từ, nghĩa của các câu thơ, học sinh hiểu được đại ý của đoạn
trích : vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện qua nỗi đau đớn khi duyên tình tan vỡ
và sự hy sinh đến quên mình vì hạnh phúc người thân. Bố cục của đoạn trích gồm
hai phần. Phần một (18 câu đầu) : Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa
cho Kim Trọng. Phần hai (16 câu cuối) : Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên.
5. Đọc - hiểu ý nghĩa hình tượng của tác phẩm hoặc đoạn trích :
Người giáo viên hướng dẫn học sinh cảm nhận hình tượng văn học từ các
hình ảnh, chi tiết, hiểu và cảm nhận một cách tổng thể về nội dung, ý nghĩa của
hình tượng. Ví dụ hình tượng người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích Chí khí anh
hùng (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du), phẩm chất anh hùng của Từ Hải được bộc
lộ qua cách dùng từ ngữ : trượng phu, thoắt, lòng bốn phương, trông vời trời bể
mênh mông, dứt áo ra đi, hình tượng chim bằng Các từ ngữ, câu thơ trong văn
bản cho chúng ta thấy Từ Hải là người không quên lý tưởng, hành động dứt khoát,
quyết đoán, không do dự. Từ Hải tỏ rõ phẩm chất phi thường của một người anh
hùng muốn làm nên sự nghiệp lớn. Từ Hải cũng là người trân trọng tài năng, nhân
cách và sắc đẹp của Thúy Kiều.
Đọc - hiểu ý nghĩa hình tượng của tác phẩm hay đoạn trích còn là phát hiện
những mâu thuẫn trắc ẩn bên trong hình tượng. Ví dụ : mâu thuẫn của nhân vật Vũ
Như Tô trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô - Nguyễn huy
Tưởng) : mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy muôn đời với
lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.
6. Đọc - hiểu để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm, tư tưởng
tình cảm của tác giả, đọc sáng tạo văn bản :
"Nhiệm vụ then chốt trước hết của giáo viên văn học đối với học sinh là
giúp các em "biết đọc" tác phẩm, biết tái hiện hình tượng, nội dung chứa đựng
trong tác phẩm, để trên cơ sở đó giúp các em biết phân tích cái hay, cái đẹp của
nó" (Nguyễn Duy Bình). Đây là một trong những hoạt động cơ bản, có vai trò rất
quan trọng trong cơ cấu dạy và học tiết Đọc - văn. Hoạt động này giúp học sinh
qua việc tự mình tiếp xúc với thế giới sáng tạo của tác phẩm mà tiếp thu những giá

thành những điều cao hơn, sâu sắc hơn. Người đọc hiểu được lớp nghĩa tinh tế là
tài năng và phong cách nhà văn, những nét đẹp tiềm ẩn trong văn. Đọc sáng tạo là
liên hệ những gì đang đọc với những gì đã đọc, liên hệ mở rộng tầm hiểu biết của
bản thân. Từ chỗ cảm nhận được văn bản, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên
hệ mở rộng để phát hiện thêm những ý nghĩa sâu xa, hiểu được tính đa nghĩa, giàu
sức gợi cảm của tác phẩm, cá tính sáng tạo của tác giả. Ví dụ, khi đọc - hiểu hai
câu thơ : "Son phấn có thần chôn vẫn hận - Văn chương không mệnh đốt còn
vương" trong bài thơ Đọc Tiểu Thanh ký của Nguyễn Du, giáo viên hướng dẫn học
sinh liên hệ, mở rộng để hiểu được ý nghĩa sâu xa của nó. "Son phấn" là nói đến
nhan sắc, "Văn chương" là nói đến tài năng. Với hai câu thơ, tác giả đã đặt ra câu
hỏi : phải chăng "son phấn có thần" nên Tiểu Thanh hết đi rồi vẫn để cho người
đời sau thương cảm ? Nguyễn Du muốn nói đến giá trị cao quý, giá trị bất diệt của
cái đẹp. Nguyễn Du thể hiện sự trân trọng tài năng, ngưỡng mộ cái đẹp. Cái đẹp có
sức sống bất diệt, vì thế mà "ba trăm năm lẻ" sau dù cho "Tây Hồ cảnh đẹp hóa gò
11
hoang" nhưng Tiểu Thanh vẫn sống, vẫn không bị lãng quên. Cuộc đời của nàng
vẫn còn làm xúc động sâu xa tấm lòng con người. "Son phấn có thần chôn vẫn
hận" đã khẳng định một tấm lòng nhân đạo hiếm có giữa xã hội trung đại - xã hội
không công nhận tài hoa, trí tuệ của người phụ nữ. Nguyễn Du đã ngợi ca nhan sắc
Thúy Kiều, ca ngợi nhan sắc Đạm Tiên và nhà thơ đã khẳng định : "những đấng
tài hoa - Sống là thể phách, thác là tinh anh". "Son phấn có thần" và "thác là tinh
anh" đã khẳng định tâm hồn, tư tưởng Nguyễn Du vượt lên trên thời đại. Với con
mắt sắc sảo, tinh thần trân trọng, yêu thương, Nguyễn Du còn phát hiện ở người
phụ nữ một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp tài hoa, trí tuệ ẩn giấu bên trong nhan sắc khuynh
thành. Đọc - hiểu truyện cổ tích Tấm Cám, học sinh cảm nhận được những kinh
nghiệm cuộc sống, những bài học cho cách đối nhân xử thế, nét đẹp tâm hồn của
người Việt Nam trong truyền thống và hiện đại.
7. Tích hợp các kiến thức Văn học, Tiếng Việt, Làm văn; liên hệ thực
tiễn, giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống, bồi dưỡng tư tưởng tình cảm
tốt đẹp cho học sinh; sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị, đồ dùng dạy học :

lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm đối với đất nước, Những phẩm chất tốt đẹp ấy
dù trải qua bao thời gian, bao biến động cũng không hề đổi thay. Khi học truyện
ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, cần giáo dục cho học sinh tôn
trọng pháp luật, phòng chống bạo lực gia đình. Liên hệ với thực tiễn hôm nay, đặt
ra vấn đề : cần hỗ trợ đời sống, giúp đỡ vốn cho ngư dân đánh bắt cá xa bờ, khẳng
định và bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, Khuyến khích học
sinh trình bày chính kiến của mình đối với bài học từ sách vở, đối với các vấn đề
mang tính thời sự chính trị đang diễn ra xung quanh.
Để nâng cao chất lượng giờ Đọc văn, cần sử dụng có hiệu quả các trang thiết
bị, đồ dùng dạy học có sẵn, khuyến khích giáo viên và học sinh tự làm đồ dùng dạy
học. Nhà trường đã trang bị máy chiếu, tranh ảnh, trang bị 24 ti vi 47 inch cho 24
phòng học khối 10 và 11. Giáo viên trong tổ đã sử dụng có hiệu quả tivi, tranh ảnh,
đồ dùng dạy học tự làm, sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình giảng dạy. Học
sinh cũng rất hứng thú trong việc chuẩn bị đồ dùng học tập, sưu tầm các tư liệu
phục vụ học tập (tranh ảnh, bảng phụ, tư liệu về tác giả, tác phẩm, băng đĩa, ) góp
phần nâng cao hiệu quả giờ học.
8. Tổ chức thảo luận, thuyết trình, phát biểu tranh luận, rèn luyện kỹ
năng nói cho học sinh :
Việc cho học sinh thảo luận để lĩnh hội văn bản, tôi đã tiến hành nhiều năm
trong các tiết Đọc văn. Việc thảo luận giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức, vừa
thấy hiểu bài hơn, có thể hiểu thêm một số tác phẩm không có trong chương trình
môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông. Chính vì thế, học sinh càng có hứng thú
hơn trong tiết Đọc văn.
Trong quá trình tổ chức dạy học và thảo luận, tôi có một số ghi nhận sau :
- Không phải tiết học nào cũng tiến hành thảo luận. Trong một tiết học
không nên tổ chức thảo luận nhiều lần.
- Không đưa ra những vấn đề quá dễ, quá đơn giản để thảo luận. Vấn đề thảo
luận phải bám sát văn bản văn học.
- Trong khi thảo luận, giáo viên phải theo dõi và hỗ trợ học sinh kịp thời
cũng như nhắc nhở các em lơ là, thúc đẩy hứng thú học tập của học sinh.

thầy ), thiếu từ ngữ chuyển ý, ngắt câu sai (qua ngữ điệu lên, xuống giọng, ngập
ngừng ). Giáo viên phải nhắc nhở, uốn nắn cách dùng từ diễn đạt bằng ngôn ngữ
nói của học sinh. Nhiều học sinh trả lời không sai về kiến thức, nhưng lại đảo trật
tự thời gian của quá trình sáng tác của một tác giả. Ví dụ khi giáo viên yêu cầu học
sinh nêu những tác phẩm chính của Tô Hoài, học sinh trả lời : Tác phẩm chính của
tô Hoài là Cát bụi chân ai, Miền Tây, Truyện Tây Bắc, O chuột, Dế mèn phiêu lưu
ký Nội dung trả lời không sai, nhưng đảo trật tự thời gian ra đời của tác phẩm,
thiếu lôgic, chưa thấy được quá trình sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám,
sự phát triển trong tư tưởng, phong cách nghệ thuật của nhà văn Tô Hoài.
Khi học sinh lên bảng làm bài tập, giáo viên cần nhận xét cách trình bày,
chữ viết, bố cục, sửa lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu cho học sinh.
14
9. Sơ đồ hóa, củng cố kiến thức, luyện tập :
Sơ đồ hóa là thao tác mã hóa kiến thức cơ bản của bài học, giúp học sinh ghi
nhớ kiến thức một cách lôgic, lý giải mối quan hệ nội tại của vấn đề, vận dụng các
kỹ năng phân tích, đối chiếu, tổng hợp kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Ví dụ : Sau khi học bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, giáo viên nêu câu
hỏi : "Lập sơ đồ những biểu hiện quan niệm nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ?"
Ta có sơ đồ sau :
Ví dụ : Sau khi học xong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão, giáo viên
hướng dẫn học sinh lập sơ đồ qua câu hỏi : "Lập sơ đồ những biểu hiện vẻ đẹp của
hào khí Đông A qua bài thơ ?"
Ta có sơ đồ sau :
15
Sống thuận theo
tự nhiên, hưởng
những thứ có sẵn,
không mưu cầu,
tranh đoạt
Quan niệm nhìn

Vẻ đẹp của
thời đại
Vẻ đẹp của
con người
thời Trần
Lý tưởng, hoài bão
cao cả
Tinh thần quyết thắng
Nỗi sầu muộn triền
miên
Nỗi cô đơn,
lẻ bóng
Nỗi nhớ thương đau
đáu
Đề cao hạnh phúc
lứa đôi, lên án chiến
tranh phong kiến
Tâm trạng cô đơn,
sầu muộn của người
chinh phụ
Sau khi tiến hành đọc - hiểu tác phẩm, giáo viên hướng dẫn học sinh tổng
kết lại bài học, củng cố lại kiến thức. Giáo viên gọi học sinh nêu những đặc sắc về
nghệ thuật, ý nghĩa của văn bản. Sau đó giáo viên nhận xét, chốt lại ý trọng tâm.
Giáo viên có thể chuẩn bị câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào cuối tiết học. Giáo
viên cho học sinh thực hành tại lớp phần Luyện tập theo hướng dẫn thực hiện
chuẩn kiến thức, kỹ năng, cho học sinh phân tích một vài văn bản ngoài sách giáo
khoa hoặc văn bản học sinh chưa được nghe giảng. Nếu thời gian hạn chế, giáo
viên cho học sinh thực hành một phần một phần, phần còn lại giáo viên gợi ý cho
học sinh về nhà làm bài, rèn luyện các kỹ năng đọc - hiểu, làm văn cho học sinh.
10. Hướng dẫn tự học, rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn văn, tạo lập văn

17
chính tả, dùng từ chính xác, đúng ngữ pháp, biết sử dụng các phương tiện liên kết.
Từ việc viết, câu, đoạn văn, làm cơ sở để tạo lập văn bản theo các kiểu bài khác
nhau. Giáo viên có thể rèn luyện kỹ năng viết cho học sinh qua các bài viết thuyết
trình, phát biểu thảo luận, bài dự thi sáng tác văn học
IV. KẾT QUẢ :
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng phương pháp trên, đạt được kết
quả khả quan. Học sinh được rèn luyện các kỹ năng trong tiết Đọc văn, chất lượng
học tập ngày càng cao.
Kết quả khảo sát qua việc kiểm tra tự luận 40 học sinh trong năm học 2013 -
2014 như sau :
- Điểm dưới 5 : 0 - 0%
- Điểm trung bình : 5 - 12,5%
- Điểm khá : 12 - 30%
- Điểm giỏi : 23 - 57,5%
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM :
Để đạt hiệu quả cao trong các tiết Đọc văn, chúng ta phải :
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài, soạn bài ở nhà bám sát chuẩn kiến thức,
kỹ năng, chuẩn bị các trang thiết bị, đồ dùng dạy học.
- Đọc kỹ phần Tiểu dẫn, đọc kỹ văn bản, các chú thích.
- Hướng vào trọng tâm bài học, chú ý rèn luyện các kỹ năng : đọc - hiểu văn
bản theo đặc trưng thể loại, kỹ năng phân tích đoạn thơ, trình bày một vấn đề, vận
dụng kết hợp các thao tác lập luận khi thảo luận, thuyết trình, làm bài tập ở nhà, kỹ
năng viết câu, đoạn văn
- Chọn phương pháp dạy học phù hợp với từng bài dạy.
- Tích hợp các kiến thức đã được học trong chương trình THCS hoặc sẽ
được học trong chương trình THPT. Liên hệ với thực tế.
- Cần động viên, khích lệ những học sinh có tư duy độc lập, sáng tạo. Những
học sinh có tư duy sáng tạo, sau này khi bước vào cuộc sống sẽ rất chủ động, linh
hoạt "trước những điều xa lạ vô cùng với sách vở, nhà trường" (Phạm Văn Đồng).

bản Giáo dục - năm 2011.
9. Sách hướng dẫn chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn lớp 10 - Nhà xuất
bản Giáo dục - năm 2012.
NGƯỜI THỰC HIỆN
Huỳnh Thị Mỹ Trang
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status