S
Mục lục
A. Một số vấn đề chung
I. Lý do chọn đề tài
II. Phơng pháp nghiên cứu
III. Đối tợng nghiên cứu
B: Nội dung của đề tài
I. Cơ sở lý luận
II. Cơ sở thực tiễn
III. Biện pháp tiến hành
1. Đối với giáo viên
2. Đối với học sinh
IV. Kế hoạch và thời gian nghiên cứu
C. Kết luận
I. Bài học kinh nghiệm
iI. Một số kiến nghị đề xuất
IIi. Kết luận chung
A. Một số vấn đề chung
I. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá, đặc biệt là sự kiện Việt Nam ra nhập tổ chức
thơng mại thế giới WTO, ngoại ngữ (Đặc biệt là Tiếng Anh, ngôn ngữ quốc tế
hoá cao nhất) trở thành một công cụ, một phơng tiện của cuộc sống hiện đại.
Nền giáo dục ở nớc ta đang đợc cải tiến và nâng cao, nhu cầu học và sử dụng
ngoại ngữ đang đợc mọi ngời quan tâm. Trên thế giới hiện có khoảng 350 triệu
ngời sử dụng Tiếng Anh nh tiếng mẹ đẻ và cũng với số lợng ngời tơng đơng nh
vậy đang sử dụng tiếng Anh nh ngôn ngữ thứ hai của mình. Mác đã nói: Biết
thêm một ngoại ngữ là sống thêm một cuộc đời . ở Việt nam Tiếng Anh đã
và đang là chiếc cầu nối quan trọng giúp chúng ta mở rộng quan hệ, giao lu hữu
hiệu nhất trong các hoạt động: ngoại giao; thơng mại; giáo dục; thể thao; văn
hoá với các nớc trên toàn thế giới. Mấy năm gần đây các trờng THCS ở thị xã
Sơn la nói chung và ở trờng THCS Chiềng xôm nói riêng bộ môn tiếng Anh đã
Với thực tế giảng dạy tiếng Anh trong những năm qua: Tôi thấy rằng còn
một số học sinh tiếp thu còn chậm, việc vận dụng thực hành luyện tập đàm
thoại giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ tiếng Anh đơn giản vẫn còn khó khăn.
Việc học và tiếp thu của các em còn nhiều hạn chế là do những nguyên nhân
sau đây là chủ yếu:
- Đại đa số các em học sinh chỉ đợc làm quen với môn tiếng Anh
khi vào THCS.
- Thiếu hiểu biết về xã hội và thế giới xung quanh; không có thói
quen thu thập thông tin tích luỹ cho vốn hiểu biết của mình.
- Không có điều kiện tiếp cận với những phơng tiện, thiết bị hiện
đại vì lí do kinh tế; nhận thức hạn chế của phụ huynh.
- Vốn từ Tiếng Việt còn hạn chế (đa số là học sinh dân tộc).
- ít đợc rèn luyện trong môi trờng giao tiếp, dẫn tới khả năng sử
dụng ngôn ngữ còn hạn chế, rơi vãi.
- Nhận thức về tầm quan trọng của môn Tiếng Anh ở nhiều học
sinh và phụ huynh còn cha cao. Học sinh còn lời kèm theo sự
thiếu quan tâm của gia đình.
- Cha xác định đợc mục tiêu học tập, mục đích sử dụng tiếng Anh.
Từ những khó khăn đối với việc dạy và học Tiếng Anh trên đây, tôi thấy
việc làm thế nào để dạy và học Tiếng Anh, có hiệu quả là rất cần thiết nhất là
đối tợng các em ở bậc THCS làm sao để đảm bảo đủ lợng kiến thức cơ bản để
các em tiếp tục học cao hơn nữa trong các năm tiếp theo.Để thực hiện một tiết
dạy theo đúng tinh thần đổi mới đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo của thầy và trò,
đặc bệt là sự gia công của thầy. Đọc là một trong bốn kỹ năng cơ bản trong quá
trình dạy và học ngoại ngữ, trong phạm vi đề tài này tôi chỉ đề cập tới một
trong bốn kỹ năng dạy học ngoại ngữ đó là dạy một bài đọc trong chơng trình
Tiếng Anh THCS và cụ thể là những dạng bài đọc ở môn Tiếng Anh 7. Qua
kinh nghiệm giảng dạy tôi nhận thấy đa số các em luôn kêu khó với dạng bài
này và chất lợng nhìn chung còn thấp, kỹ năng đọc Tiếng Anh của các em còn
nhiều hạn chế, để hiểu thôi đã là rất khó chứ cha nói đến vận dụng. Cơ bản
cao chất lợng hiểu và vận dụng bài đọc, giúp các em có kiến thức cơ bản, sâu,
vững để có khả năng tiếp cận với những kiến thức cao hơn trong những năm
tiếp theo. Có vốn hiểu biết nhất định, cơ bản về các chủ đề quen thuộc trong
các topic mà chơng trình đã đa ra, áp dụng đợc vào cuộc sống thực tế.
* Nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá và phân loại từng đối tợng học sinh để
từ đó có những biện pháp cụ thể để hớng dẫn các em học và rèn luyện các kỹ
năng, đặc biệt là kỹ năng đọc.
* Từng bớc rèn luyện và hớng dẫn các kỹ năng các thao tác luyện tập : để
gây đợc hứng thú và niềm say mê học tập bộ môn. Qua tiết học các em thành
4
lập thói quen và kỹ năng vận dụng ngôn ngữ tiếng Anh với sự hỗ trợ tích cực
của ý thức để tiến tới nắm vững và hiểu đợc tiếng Anh.
* Học sinh chủ động trong học tập, biết đợc phơng pháp học. Các em có
thể tự tóm tắt bài, thảo luận, nói và viết về những vấn đề liên quan
II. Phơng pháp nghiên cứu:
Để phục vụ cho việc nghiên cứu qua việc tìm hiểu những năm học qua
tôi chọn ra những phơng pháp để thực hiện đề tài này là:
- Phơng pháp xác định mục tiêu bài đọc
- Phơng pháp tiến hành các bớc: trớc, trong và sau khi đọc
- Phơng pháp áp dụng, vận dụng các thủ thuật dạy học. (Xử lí từ mới
cấu trúc mới trong bài đọc; Khai thác đồ dùng dạy học )
- Phơng pháp ra bài tập, câu hỏi kiểm tra đánh giá kỹ năng đọc hiểu của
học sinh
- Phơng pháp tổng hợp, tổng kết kinh nghiệm.
- Phơng pháp khai thác tài liệu tham khảo.
- Tham khảo ý kiến của một số giáo viên có kinh nghiệm trong giảng
dạy, qua đó giúp cho học sinh và giáo viên cải tiến việc dạy và học tiếng Anh ở
cấp bậc THCS.
III. Đối tợng nghiên cứu:
Để nghiên cứu thực hành và hoàn thành đề tài tôi đã chọn đối tợng
Đọc thành tiếng chỉ giúp cho việc luyện và kiểm tra phát âm.
II. Cơ sở thực tiễn:
Việc thực hiện nhiệm vụ của chiến lợc của sự nghiệp cải cách giáo dục.
Môn tiếng Anh gắn liền với sự đổi mới của chơng trình sách giáo khoa một
cách toàn diện và phơng tiện dạy học trong trờng phổ thông. Trong những năm
gần đây việc giảng dạy môn tiếng Anh muốn đạt đợc yêu cầu phù hợp với ch-
ơng trình mới - chơng trình cải cách giáo dục đòi hỏi sự đổi mới cả về phía ngời
học lẫn ngời dạy. Qua thực tế công tác giảng dạy, tôi nhận thấy việc dạy một
dạng bài đọc hiểu trong chơng trình Tiếng Anh cải cách còn nhiều trăn trở và
cụ thể là môn Tiếng Anh 7.
Trớc hết về phía học sinh do những nguyên nhân tôi đã nêu ra từ phần
mở đầu: đã tiếp thu một cách quá thụ động; lời trong việc chuẩn bị bài, tâm lí ỷ
lại vào giáo viên, đợi thầy viết mới lên bảng, dịch nghĩa rồi đọc và dịch lại theo
những gì thầy nói. Bên cạnh đó các em còn phải chịu nhiều áp lực; với những
học sinh yếu, không theo kịp chơng trình, dễ dẫn tới buông xuôi và chán nản.
Cụ thể qua việc khảo sát đầu năm nh sau :
* Khảo sát đầu năm học 2006-2007:
6
Lớp Ss
Giỏi Khá T.B Yêú
SL % SL % SL % SL %
7A 32 1 3.1 2 6.3 15 46.9 14 43.8
7B 38 1 2.6 10 26.3 21 55.3 6 15.8
7C 32 0.0 2 6.3 25 78.1 5 15.6
TK 102 2 2.0 14 13.7 61 59.8 25 24.5
* Khảo sát đầu năm học 2007-2008:
Lớp Ss
Giỏi Khá T.B Yêú
SL % SL % SL % SL %
7A 37 1 2.7 10 27.0 18 48.6 8 21.6
phát triển t duy ngôn ngữ cho các em song song với việc thực hành giao tiếp
tiếng Anh và lĩnh hội kiến thức trong nớc và quốc tế.
Để giảng dạy thành công một giờ đọc hiểu đòi hỏi giáo viên phải nắm
chắc và đạt đợc những mục tiêu sau:
- Biết cách tiến hành một bài đọc theo ba bớc: trớc, trong và sau khi đọc. (Pre-
reading; while - reading; post - reading)
- Các thủ thuật và hoạt động cho các bớc. (Methods)
- Phân biệt đợc giữa đọc to và đọc hiểu.
- Nêu đợc các câu hỏi và bài tập để kiểm tra kỹ năng đọc hiểu của học sinh.
- Biết cách xử lí từ mới và cấu trúc mới trong bài đọc hiểu, ứng dụng các thủ
thuật gợi mở, đoán từ trong ngữ cảnh
- Tích cực tìm tòi, sáng tạo những thủ thuật hấp dẫn và phù hợp để giúp cho
việc dạy đọc có hiệu quả.
Theo kinh nghiệm của bản thân và nghiên cứu các tài liệu hớng dẫn trong
quá trình công tác tôi đã áp dụng vào việc dạy một bài đọc theo các phơng pháp
sau:
8
a) Hoạt động trớc khi đọc
Phần này có mục đích là nhằm lôi cuốn sự hứng thú của học sinh, tạo ra nhu
cầu muốn đọc cho học sinh hay khuyến khích học sinh suy nghĩ về chủ đề mà
các em sẽ học bằng hình thức gây hứng thú (arouse interest), thiết lập ngữ cảnh
(set up the context), tạo nhu cầu- lí do - mục đích cầu việc đọc (creat reasons fo
reading), giới thiệu chủ đề của bài đọc( introduce briefly the topic/content), đa
ra các câu hỏi gợi ý hay giới thiệu từ mới. Nếu trớc khi học sinh đọc bài đọc,
giáo viên giúp các em suy nghĩ về chủ điểm và cố gắng đoán xem bài đọc sẽ
nói về cái gì, thì học sinh sẽ cảm thấy bài đọc dễ hiểu hơn ; Việc đa ra một hai
câu hỏi gợi ý trớc khi đọc để học sinh suy nghĩ trong khi đọc là rất cần thiết để
giúp học sinh hiểu đợc ý chính của bài. Ngời giáo viên có thể lựa chọn các thủ
thuật sau để giới thiệu bài đọc
+ Đa ra một số câu nhận định, yêu cầu học sinh làm bài tập đúng sai dựa vào
T: Have students practice in pair to discuss about each job
Ss: Discussing
* Unit 4 A6- page 44:
T: Make questions:
- In America, which country has capital city as Washington DC?
Ss: Answer:
- The USA/ Mỹ
T: Explain:
- USA = the United States of America
Ss: Listen and copy
T: What do you think about USA? What do you know/ want to know
about USA?
Students: Answer by English or Vietnames
Or:
T: Make questions:
You are going to read a text School in the USA , write down five
questions, which you hope the text will answer.
Ss: Listen then write down five questions which they hope the text will
answer. Such as:
- What time do the classes in the USA start?
- How many classes do they have a day?
- Do they wear uniform?
Trong quá trình giới thiệu bài đọc đòi hỏi ngời giáo viên cần phải vận
dụng một cách linh hoạt các thủ thuật giới thiệu từ mới, đó là chúng ta chỉ nên
giới thiệu cho học sinh những từ mới cơ bản vì một số từ học sinh có thể suy
đoán qua ngữ cảnh. Trong thực tế ngời giáo viên không thể có đủ thời gian để
giới thiệu tất cả các từ mới, mục đích của dạng bài này là đọc hiểu vì vậy học
sinh chỉ cần nắm đợc ý chính của bài. Giáo viên phải phân loại đợc các nhóm từ
cần giới thiệu trong nội dung bài là : Nhóm từ học sinh đã học nhng cần ôn lại ;
Nhóm từ học sinh có thể đoán theo ngữ cảnh ; Nhóm từ cần phải giới thiệu cho
Hoạt động này nhằm mục đích là giúp học sinh hiểu bài bằng các hoạt động
thực hiện các bài tập đọc thông qua việc luyện tập có sự hớng dẫn của giáo viên
hoặc luyện tập tự do. Có rất nhiều thủ thuật và phơng pháp cho giáo viên lựa
chọn và ra yêu cầu đối với học sinh, giúp học sinh hiểu đợc bài đọc :
11
+ Giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh trả lời. (Answer the questions)
+ Cho học sinh làm bài tập đúng sai. (true or false)
+ Cho học sinh làm bài tập lựa chọn. (multiple choice)
+ Cho học sinh điền từ thích hợp vào chỗ trống. (Filling words in the blanks)
+ Yêu cầu học sinh dùng từ gợi ý để đặt câu hỏi với giáo viên hoặc bạn cùng
lớp. (Make questions with provided words)
+ Sắp xếp câu hỏi và câu trả lời cho phù hợp. (Ordering questions and answers)
+ Nối tiêu đề và đoạn văn cho phù hợp. (Matching)
+ Sắp xếp các đoạn văn thành bài hoàn chỉnh. (Ordering pragraph)
+ Đặt câu hỏi cho phần trả lời có sẵn. (Make question for the answers)
+ Dùng từ gợi ý để đặt câu hỏi
+ Dùng từ gợi ý để viết lại nội dung bài. (rewrite the story)
+ Tóm tắt lại bài đọc vào bảng cho sẵn. (fill in the chart)
Ví dụ:
* Unit 4. A6-page44
Giáo viên có thể cho học sinh thực hiện một số hoạt động sau:
1) Multiple choice: Tick the correct answers:
1.1 Schools in the USA are schools in Viet Nam.
a. quite different from
b. as the same as
c. a little diferent from
1.2 Classes start at each morning
a. 8.30
b. 7.30
c. 8.00
13
Ví dụ:
* Unit 4. A6-page44
Giáo viên có thẻ hớng dẫn học sinh tham gia vào các hoạt động nh :
- Discussion : Students discuss about the similarities and differences
between schools in the USA and in Viet nam
- Interview: One student acts as an American student who visits
Vietnam to be interviewed about his/her school in the USA.
- Role-play: One student acts as an American student, the other acts as
a Vietnamese student to ask each other about schools in their own
countries.
* Unit5. A2
- Discuss in pair: ask and answer about themselves by using the
questions: What do you do in your free time?/ What are you good at?/
What is your favorite subjects?
Trong điều kiện và hoàn cảnh giảng dạy hiện nay lớp học là nơi có điều
kiện thuận lợi nhất giúp học sinh tiếp xúc rèn luyện và vận dụng tiếng Anh. Vì
vậy giáo viên cần khuyến khích học sinh sử dụng tiếng Anh giao tiếp trong một
số sinh hoạt taị lớp. Học sinh cần đợc tạo điều kiện để có cơ hội càng đợc thực
hành nhiều càng tốt. Cần tránh những động tác thừa, nhiều lời trong lúc điều
khiển lớp. Trớc khi cho các em thực hành giáo viên cần làm hớng dẫn nhiều lần
và hớng dẫn rõ ràng cách thực hành. Nếu cần nên cho một cá nhân hoặc một
nhóm thực hành cho cả lớp xem. Để điều khiển lớp trong lúc thực hành giáo
viên nên chia lớp ra thành nhiều nhóm: Cử các học sinh khá, giỏi làm nhóm tr-
ởng, giáo viên sẽ đi đến từng nhóm để hớng dẫn và sửa chữa những sai sót.
Giáo viên nên khuyến khích cách làm tập thể và giúp nhau.
2. Đối với học sinh:
Để học tốt một bài đọc hiểu trên lớp đòi hỏi học sinh sự tự giác chuẩn bị
về từ, mẫu câu hay sự cố gắng trau dồi kiến thức xã hội liên quan tới chủ
điểm chủ đề của bài đọc theo hớng dẫn của giáo viên khi ở nhà. Bên cạnh đó
Lớp Ss
Giỏi Khá T.B Yêú
SL % SL % SL % SL %
7A 32 2 6.3 3 9.4 19 59.4 8 25.0
7B 38 5 13.2 10 26.3 20 52.6 3 7.9
7C 32 1 3.1 5 15.6 23 71.9 3 9.4
TK 102 8 7.8 18 17.6 62 60.8 14 13.7
* Kết quả học kỳ I, năm học 2007-2008
Lớp Ss
Giỏi Khá T.B Yêú
SL % SL % SL % SL %
7A 37 3 8.1 10 27.0 20 54.1 4 10.8
7B 40 2 5.0 8 20.0 22 55.0 8 20.0
TK 77 5 6.5 18 23.4 42 54.5 12 15.6
Qua kết quả học tập ở giữa học kỳ I đã đạt đợc một số yêu cầu đề ra mặc
dù tỷ lệ học sinh yếu kém vẫn còn. Vẫn sử dụng phơng pháp rèn luyện nh trên
nhng sang giữa kỳ II trở đi tôi mạnh dạn khai thác kỹ năng đọc hiểu của học
sinh lồng vào phơng pháp thảo luận từng nội dung kiến thức ở lớp. Trong thảo
luận các nhóm đều có kết quả cao. Qua việc khảo sát chất lợng học tập của học
sinh ở giữa kỳ II tôi thấy tỷ lệ học sinh yếu đã giảm hẳn, các em học sinh đã có
thói quen thực hành vận dụng tiếng Anh trong sinh hoạt hàng ngày các em đã
biết vận dụng ngoại ngữ của mình trong giao tiếp hàng ngày. Qua đó giúp các
em say mê và có hứng thú môn học tiếng Anh.
Qua việc kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh cuối kỳ II năm học 2006-
2007 và học kỳ I năm học 2007-2008, tôi thấy kết quả học tập của học sinh đ-
16
ợc nâng cao hơn. Nguyên nhân là do giáo viên biết vận dụng các bớc dạy đọc
một cách linh hoạt góp phần giúp cho học sinh có thể thu đợc kết quả học tập
một cách toàn diện và theo một trình tự logic: đi từ biết-hiểu-áp dụng-phân
tích-tổng hợp-đánh giá. Thiếu đồ dùng trực quan giáo viên phải khắc phục bằng
để gây hứng thú cho học sinh. Khai thác triệt để các hoạt động và vận dụng linh
hoạt chứ không gò bó vào khuôn khổ.
- Đọc là một trong bốn kỹ năng mà học sinh cần đợc rèn luyện theo ph-
ơng pháp giao tiếp. Đọc giúp học sinh mở rộng vốn kiến thức về thế giới xung
quanh; cung cấp kinh nghiệm trong một số lĩnh vực nh văn hoá, khoa học kỹ
thuật đồng thời giúp học sinh nắm và ghi nhớ kiến thức ngôn ngữ và rèn luyện
các kỹ năng ngôn ngữ. Ngoài ra, đọc còn tạo cho học sinh có thói quen và lòng
ham mê đọc sách. Chính vì vậy chúng ta cần phải tìm ra những thủ thuật dạy
thật hấp dẫn, thích hợp để giúp cho việc dạy đọc có hiệu quả.
II. Một số kiến nghị đề xuất:
Qua việc nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi thấy vẫn còn một số khó khăn của
chơng trình giảng dạy theo sách giáo khoa mới và có một số kiến nghị sau:
Về thời gian: Phân bổ chơng trình chung bình 5-6 tiết/bài chỉ vừa đủ
cho giáo viên giảng dạy. Không có thời gian để làm bài tập thêm hay nâng cao,
cũng không có thời gian để ôn luyện. Một tiết học theo phơng pháp tích cực tuy
rất sôi động đối với cả thầy và trò nhng sẽ không thể đạt đợc hiệu quả cao nếu
lợng kiến thức cho mỗi bài học quá nhiều dẫn tới không có thời gian dành cho
luyện tập và làm bài tập.
Cách kiểm tra: Dạy thiên về giao tiếp trong khi đánh giá kiểm tra học
sinh lại qua bài thi viết, chú trọng ngữ pháp và từ vựng.
Số lợng học sinh: Khá đông, không thích hợp để tổ chức những tiết học
giao tiếp. Dù giáo viên có bao quát đến mấy cũng khó lòng quan tâm hết đến
từng học sinh.
18
Đội ngũ giáo viên: Đối với một số giáo viên thì phơng pháp dạy học
mới chỉ đợc thực hiện tích cực khi có dự giờ còn ở những tiết học bình thờng thì
vẫn còn phải sử dụng cả phơng pháp cũ.
- Phải tâm huyết với bài giảng coi chất lợng học tập của học sinh là
hàng đầu.
- Đầu t nhiều thời gian nghiên cứu bài giảng, tài liệu tham khảo, hoặc
Xác nhận của Hội đồng khoa học nhà trờng 20