i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Xã hội hóa giáo dục đại học ở Hà Nội –
thực trạng và giải pháp” do tôi trực tiếp viết, không có bất kỳ hình thức sao in
trái phép nào. Các số liệu sử dụng trong khóa luận được thu thập từ Ban chính
sách dịch vụ công – Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương cùng với
các tài liệu trong mục tài liệu tham khảo. Khóa luận được sự giúp đỡ tận tình
của Ths. Vũ Thị Tâm – Giảng viên trường Học viện Chính sách và phát triển
và Ths. Bế Thu Trang – cán bộ Ban chính sách dịch vụ công, Viện nghiên cứu
và quản lý kinh tế Trung ương.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của khóa luận này.
Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lê Lệ Phƣơng ii
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
Ths. Vũ Thị Tâm – Giảng viên khoa Chính sách công, Học viện Chính
sách và phát triển, người đã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt quá trình học
tập cũng như nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới:
Ban giám đốc, phòng đào tạo trường Học viện Chính sách và phát triển.
Các thầy cô trong khoa Chính sách công.
Các anh chị trong Ban chính sách dịch vụ công, Viện nghiên cứu và
quản lý kinh tế Trung ương.
1.1.3 Xã hội hóa giáo dục đại học 10
1.2 Bản chất và nội dung của xã hội hóa giáo dục đại học ở Việt Nam 10
1.2.1 Bản chất 10
1.2.2 Nội dung 12
1.3 Nhiệm vụ của Nhà nước và xã hội trong xã hội hóa giáo dục đại học 15
1.3.1 Nhiệm vụ của Nhà nước 15
1.3.2 Nhiệm vụ của xã hội 16
1.4 Tác động của xã hội hóa giáo dục đại học đến xã hội 18
1.4.1 Tác động tích cực 18
1.4.2 Tác động tiêu cực 19
1.5 Các chính sách hiện hành 20
1.5.1 Quy định chung về xã hội hóa giáo dục 21
1.5.2 Các văn bản liên quan đến xã hội hóa giáo dục đại học 25
iv
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở
HÀ NỘI 30
2.1 Tổng quan về hệ thống giáo dục đại học ở Hà Nội 30
2.2 Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Hà Nội 31
2.2.1 Thành tựu 31
2.2.2 Hạn chế 37
Chƣơng 3: KINH NGHIỆM NƢỚC NGOÀI VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY
MẠNH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 45
3.1 Kinh nghiệm của nước ngoài trong xã hội hóa giáo dục đại học 45
3.1.1 Xã hội hóa giáo dục ở Malaixia 45
3.1.2 Xã hội hóa giáo dục ở Singapo 47
3.1.3 Xã hội hóa giáo dục ở Nhật Bản 48
3.1.4 Xã hội hóa giáo dục đại học ở Hàn Quốc 49
3.1.5 Xã hội hóa giáo dục ở Cộng hòa Liên bang Đức 50
3.1.6 Xã hội hóa giáo dục ở Mỹ 50
những nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư trên các lĩnh vực kinh tế và nhờ đó
những tri thức ấy mới có thể sáng tạo ra những kỹ thuật tiên tiến, những công
nghệ mới. Nếu chúng ta không có đội ngũ ấy thì sự nghiệp xây dựng CNXH
chỉ là lời nói huênh hoang, rỗng tuếch” . Còn Ph.Ăngghen thì khẳng
định: “Một dân tộc muốn đứng lên trên đỉnh cao của nền văn minh nhân loại,
dân tộc ấy phải có trí thức”.
Kế thừa quan điểm của C.Mác-Ăngghen và trên cơ sở thực trạng giáo
dục-đào tạo ở Nga trong những ngày đầu cách mạng tháng 10 thành công,
Lênin đã sớm khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục-đào tạo trong việc
đưa nước Nga thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, tiến lên CNXH. Theo
Lênin: “Muốn tạo lập chủ nghĩa xã hội phải có một trình độ văn hoá nhất
định”. “Việc nâng cao năng suất lao động trước hết phải nâng cao trình độ
học vấn và văn hoá của quần chúng nhân dân” và “Nếu không có một mạng
lưới giáo dục quốc dân ít nhiều phát triển thì tuyệt nhiên không thể giải quyết
mọi vấn đề trên quy mô toàn dân”.
Kế thừa truyền thống văn hoá lịch sử của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hoá của nhân loại mà điển hình là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn luôn quan tâm và đề cao vai trò của giáo dục - đào tạo. Tư tưởng
Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo xuất phát từ mục đích cao cả của sự
nghiệp cách mạng mà người theo đuổi, thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong
tư tưởng, trong cuộc đời hoạt động của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
coi con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định của sự nghiệp cách
mạng. Chính vì vậy mà toàn bộ tư tưởng và cuộc đời hoạt động của người đều
2
nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
xã hội, giải phóng con người, vì con người và cho con người. Người từng
nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu: đề tài nghiên cứu thực trạng các trường đại học, cao đẳng
ngoài công lập trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên cả nước nói chúng. Phân
tích những thành tựu cũng đồng thời tìm ra nguyên nhân để từ đó đề xuất
những biện pháp khắc phục những tồn tại, thiếu sót.
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Hiểu đúng bản chất của xã hội hóa, xã hội hóa giáo dục đại học.
- Làm rõ nhiệm vụ của Nhà nước trong xã hội hóa giáo dục đai học
- Các chính sách xã hội hóa giáo dục đại học hiện hành.
- Thực trạng xã hội hóa giáo dục đại học ở Hà Nội hiện nay.
- Kinh nghiệm của nước ngoài.
- Giải pháp hoàn thiện chính sách.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các thực trạng của trường đại học và cao đẳng
ngoài công lập
Phạm vi nghiên cứu:
Địa bàn: Thành phố Hà Nội
Thời gian: 2013 – 2014
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và định
lượng:
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh, tổng hợp,
phân loại, khái quát, hệ thống các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài;
4
Nghiên cứu định lượng: sử dụng phần mềm excel và SPSS để thống kê
và phân tích số liệu
5. Kết cấu chuyên đề
Gồm 3 chương:
Chương 1: Những cơ sở lý luận chung về xã hội hóa giáo dục đại học ở
(2) Hoạt động do nhà nước quyết định, điều động và kiểm soát – huy
động mọi người làm chung;
(3) Hoạt động chung có tính tự nguyện: như là tập thể người bỏ vốn vào
công ty, quyền tùy thuộc số tiền bỏ vốn ra;
6
(4) Xã hội hóa là mỗi người tự đóng góp, tự lo, nhà nước có xu hướng
giảm đi trách nhiệm của mình…
Tuy nhiên, cách giải thích này còn mang tính phiến diện, đề cập đến số
lượng chứ chưa phản ánh được nội hàm của “xã hội hóa”.
Hiện nay, nội hàm khái niệm xã hội hóa ở nước ta còn rất nhiều quan
niệm khác nhau và cơ bản được sử dụng theo hai nghĩa chính
1
:
Thứ nhất, “xã hội hóa” nguyên nghĩa tiếng Anh là “socialization” được
hiểu là “ biến các tư liệu sản xuất và trao đổi thành của công”, hay “ tập thể
hóa”, “đặt dưới chế độ cộng đồng”, “quản lý hay điều khiển của nhà nước
nhân danh xã hội”… tức là những gì được xã hội hóa thì phải được chính phủ
cung cấp miễn phí. Theo đó, trong tiếng Việt, “xã hội hóa” được định nghĩa là
“làm cho tư liệu sản xuất của cá nhân trở thành của chung cho xã hội”, hay
“làm cho trở thành của chung cho xã hội”. Quan niệm này xuất phát từ lịch sử
phát triển sản xuất của nhân loại, xã hội hóa chính là quá trình chuyển biến
một nền sản xuất có tính cá nhân, tư hữu sang một nền sản xuất mang tính
chất công cộng, công hữu.
Từ góc độ xã hội học hay tâm lý học, có những định nghĩa về xã hội hóa
như: “Xã hội hóa là làm phát triển các mối quan hệ xã hội, sự hình thành
trong một nhóm xã hội, trong xã hội”, hay theo Từ điển Bách khoa toàn thư
Xô Viết, “Xã hội hóa là quá trình thích nghi của các thể chế với hệ thống tri
thức, chuẩn mực và các giá trị, cho phép cá thể đó hoạt động với tư cách là
các thành viên bình đẳng của xã hội, chịu tác động có chủ đích đến cá nhân
chất, “xã hội hóa” trên các phương tiện thông tin đại chúng là “tư nhân hóa”,
và đây là cách gọi không đúng với tên của nó.
Trường hợp khác, dựa vào nguyên nghĩa của từ “xã hội hóa” và căn cứ
vào một số hiện tượng lệch lạc, biến tướng, nhân danh xã hội hóa để kinh
doanh kiếm lời trong quá trình thực hiện xã hội hóa dịch vụ xã hội, có ý kiến
cho rằng cụm từ “xã hội hóa” ở Việt Nam “càng ngày càng bị sử dụng một
cách thản nhiên theo nghĩa ngược lại – theo nghĩa đẩy gánh nặng tài chính lên
vai công dân, và trao cho tư nhân đảm nhiệm một số lĩnh vực thuộc bổn phận
của Nhà nước phải quản lý, đặc biệt là giáo dục, đào tạo”. Từ đó có ý kiến
cho rằng cần xem xét lại thuật ngữ “xã hội hóa giáo dục” như hiện nay, trước
tiên phải xóa bỏ khía cạnh huy động sự đóng góp vật chất mà nên nhấn mạnh
8
đến khía cạnh nâng cao nhận thức, cùng với Nhà nước lo cho giáo dục con em
mình thành người có ích cho xã hội.
Với đề tài này, bản chất của xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục ở nước ta
hiện nay với quan niệm “xã hội hóa” theo các tiếp cận thứ hai.
Với cách hiểu thứ hai, trong quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa
của Đảng và Nhà nước, khái niệm xã hội hóa ngày càng được các nhà nghiên
cứu nhận thức và định nghĩa một cách hoàn thiện dần. Tuy vẫn còn rất nhiều
ý kiến khác nhau cần tiếp tục trao đổi, nhưng tựu chung lại đều có những
quan điểm thống nhất, đó là:
- Xã hội hóa là một quá trình mở rộng sự tham gia và huy động các tầng
lớp nhân dân, toàn xã hội để chia sẻ trách nhiệm cùng với Nhà nước
trong việc thúc đẩy sự phát triển của một lĩnh vực xã hội nào đó.
- Trong quá trình xã hội hóa, càng cần phải nêu cao hơn nữa vai trò,
trách nhiệm của Nhà nước.
- Cần mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân, cho toàn xã hội
tham gia rộng rãi, chủ động và bình đẳng vào các hoạt động xã hội.
- Cần đa dạng hóa các phương thức, mô hình thực hiện các hoạt động
Trong chương trình giáo dục của Việt Nam đều trình bày: “Giáo dục là
hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người”
4
.
Những định nghĩa và quan điểm này đều nhấn mạnh về sự truyền đạt và
lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập
đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó.
Theo ông John Dewey (1859 – 1952), nhà triết học, nhà tâm lí học và
nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rẳng con người không bao giờ vượt
qua được quy luật sự chết và khi chết đi những kinh nghiệm cũng mất theo.
Tuy nhiên, tồn tại xã hội đòi hỏi những kiến thức, kinh nghiệm vượt qua cả sự
chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội. Giáo dục là “khả năng” của
loài người để đảm bảo tồn tại xã hội. Ngoài ra, ông cũng cho rằng, xã hội
không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, mà còn tồn tại chính trong quá trình truyền
dạy ấy. Như vậy, theo quan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến
việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng của việc giáo
dục, là dạy dỗ.
Như vậy, giáo dục “là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục
tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có 3
Thích Như Điển, 2010, Giáo dục là gì? tại trang
4
Khái niệm giáo dục tại trang
10
nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả
những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện
5
Khái niệm giáo dục tại trang
6
Khoản 8, Điểu 4 Luật giáo dục đại học thông qua tại kỳ họp thứ 3 khóa XIII ngày
18 tháng 6 năm 2012
7
Định nghĩa đại học tại trang
11
toàn xã hội vào sự phát triển giáo dục đại học nhằm từng bước nâng cao mức
hưởng thụ và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân. Xã hội hóa
là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân trong việc tạo
lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho các hoạt động giáo
dục đại học ở từng địa phương; là trách nhiệm lãnh đạo của Đảng bộ, quản lý
của chính quyền, sự tham gia, phối hợp của các đoàn thể quần chúng, các tổ
chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và của mỗi người dân…
Trách nhiệm phát triển sự nghiệp giáo dục không phải là của riêng tổ
chức, cá nhân nào mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội, cụ thể là Đảng,
Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, gia đình và tổ chức xã hội,
các chủ thể cũng ứng lẫn đối tượng thụ hưởng dịch vụ. Vai trò điều hành,
quản lý xã hội cũng như ưu thế về nguồn lực vượt trội của Nhà nước đòi hỏi
Nhà nước phải là người chịu trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức cung
ứng dịch vụ cũng cũng như bảo đảm chất lượng. Tăng cường sự quan tâm và
tham gia rộng rãi của xã hội về vật chất và tinh thần đối với giáo dục; mở
rộng nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực; phát
huy và sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho giáo dục
phát triển với chất lượng cao.
Vì vậy xã hội hóa giáo dục đại học không phải là tư nhân hóa mà là một
nghèo, vừa góp phần đảm bảo công bằng xã hội trong đóng góp và thụ hưởng
dịch vụ.
Lý thuyết hệ thống chỉ ra rằng khi hai hoặc nhiều đối tác hợp tác với
nhau để cùng giải quyết một công việc gì đó thì hiệu suất công việc sẽ cao
hơn, nhất là khi sự phân công dựa trên khả năng và lợi thế của từng đối tác.
Vì vậy, sự phối hợp hành động một cách có kế hoạch của mọi lực lượng xã
hội theo một định hướng, chiến lược quốc gia để giải quyết vấn đề phát triển
giáo dục sẽ đạt được hiệu suất cao hơn.
Dưới góc độ khai thác, phát huy nguồn lực, xã hội hóa giáo dục đại học
nhằm khơi dậy các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, xây
dựng cộng đồng trách nhiệm trong việc đóng góp và chi trả cho các dịch vụ
13
giáo dục đại học; khai thác hiệu quả nguồn lực của các đối tác nước ngoài, tổ
chức quốc tế, …
Dưới góc đô người thụ hưởng địch vụ, xã hội hóa hoạt động giáo dục đại
học phải tạo điều kiện cho họ được tham gia xây dựng cơ chế, chính sách và
quản lý, giám sát các hoạt động giáo dục đại học cũng như lựa chọn dịch vụ
giáo dục nhằm tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao về trí tuệ, kỹ năng và
kiến thức đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Dưới góc độ của người cung ứng dịch vụ, đội ngũ viên chức giáo dục đại
học được đảm bảo quyền tự do hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp
luật; được phát huy mọi khả năng sáng thảo nhằm đa dạng hóa các loại hình
cung ứng dịch vụ như công lập. ngoài công lập. … nhằm góp phần thỏa mãn
nhu cầu đa dạng hóa, phong phú và ngày càng cao của tầng lớp nhân dân.
Thứ hai, khuyến khích và tạo điều kiện nâng cao tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học; thực hành dân chủ trong quản lý
và tổ chức các hoạt động giáo dục. Việc mở rộng dân chủ và tăng quyền tự
chủ cho các cơ sở giáo dục đại học nhằm thúc đấy sự tìm tòi, phát huy sáng
kiến tính năng động, chủ động của các tổ chức và công dân trong việc tham
Thứ tư, đổi mới và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách phát triển
giáo dục nhằm tạo môi trường phát triển lành mạnh và luật phát đồng bộ thúc
đẩy cạnh tranh công bằng của cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập.
Chuyển các cơ sở giáo dục hoạt động dưới hình thức sự nghiệp hành
chính bao cấp sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Chuyển các cơ sở công
lập sang hình thức tư thục. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các cơ sở giáo
dục ngoài công lập hình thành, phát triển. Thực hiện các chính sách ưu đãi,
miễn thuế, cơ sở hạ tầng, đất đai…
Xây dựng cơ chế người thụ hưởng được lựa chọn loại hình dịch vụ,
không phận biệt công lập hay ngoài công lập, tạo môi trường cạnh tranh lành
mạnh giữa các loại hình cung ứng.
Việc thực hiện chính sách ưu đãi về tài chính, tín dụng, thuế, hoặc cơ sở
hạ tầng, đất đai, cần căn cứ vào hiệu quả hoạt động của cơ sở đào tạo, theo
15
đó cơ sở đào tạo công lập có thể nhận được sự tài trợ của tư nhân và cơ sở tư
nhân có thể nhận được sự tài trợ của Nhà nước.
1.3 Nhiệm vụ của Nhà nước và xã hội trong xã hội hóa giáo dục đại học
1.3.1 Nhiệm vụ của Nhà nước
Giáo dục đại học đào tạo các kiến thức chuyên sâu về khoa học – kỹ
thuật nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của nền kinh tế thị trường. Do đó, chủ
trương xã hội hóa giáo dục đại học vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa khai thác và
phát huy được tiềm năng của toàn xã hội.
Để xã hội hóa giáo dục đại học được thực hiện bài bản và thấu đáo thì
Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng và được thể hiện qua các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Nhà nước có nhiệm vụ xác lập các khuôn khổ pháp lý để phát
triển xã hội hóa giáo dục nói chung, xã hội hóa giáo dục đại học nói riêng
nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho toàn xã hội được tiếp cận và sử dụng nhiều
loại hình dịch vụ theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển. Nhà nước có
trách nhiệm thể chế hóa quyền và trách nhiệm tham gia cung ứng dịch vụ của
xã hội về số lượng cũng như chất lượng giáo dục đại học, kể các các trường
được thực hiện bởi tư nhân hay các tổ chức kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, các
cá nhân, tổ chức đảm nhận nhiệm vụ cung ứng dịch vụ giáo dục đại học cũng
có những lợi ích riêng không thống nhất với lợi ích của Nhà nước. Vì vậy,
Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ thanh tra, giám sát, kiểm tra, xử lý vi
phạm pháp luật. .
Như vậy, không phải Nhà nước chuyển giao hay phó hoàn toàn cho các
cá nhân, doanh nghiệp mà là tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia vào hoạt
động giáo dục, đảm bảo mọi nhu cầu cho mọi cá nhân trong xã hội được học
tập và phát triển trong môi trường lành mạnh.
1.3.2 Nhiệm vụ của xã hội
Thứ nhất, tất cả các tầng lớp nhan dân và các đoàn thể quần chúng, các
tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp đóng tại địa phương và từng người dan có
trách nhiệm động viên mọi người, các tổ chức xã hội đóng góp nguồn lực trí
tuệ, vật chất, tinh thần, cơ sở đất đai; tham gia ý kiến đối với chính sách, pháp
17
luật liên quan đến giáo dục đại học nhằm tạo lập và cải thiện môi trường pháp
luật, kinh tế - xã hội thuận lợi để phát triển sự nghiệp giáo dục đại học.
Mỗi người không chỉ cần biết duy trì việc học tập suốt đời và tự bảo vệ
sức khỏe, mà còn phải chủ động và tích cực tham gia vào phát triển xã hội
học tập.
Giáo dục là hoạt động tác động đến con người và làm biến đổi con người
về tính cách và hành động, nhận thức. Tham gia vào quá trình giáo dục có
nhiều lực lượng khác nhau như: cơ quan nhà nước, người thân, bạn bè, nhà
trường, văn hóa, gia đình, xã hội, thầy cô, bố mẹ, người thân, bạn bè, nhân
viên tròng nhà trường, cơ sở vật chất trường, lớp, phương tiện dạy học, phong
tục tập quán…Nói cách khác, giáo dục nói chung, giáo dục đại học nói riêng
từ trong bản chất và mục tiêu của nó không bao giờ có sự tồn tại biệt lập của
nhà trường đối với gia đình và xã hội mà là sự gắn kết, hỗ trợ mạnh mẽ lẫn
biện pháp lâu dài, mang tính chiến lược.
1.4 Tác động của xã hội hóa giáo dục đại học đến xã hội
1.4.1 Tác động tích cực
Chính sách xã hội hóa giáo dục đại học cho phép các tổ chức, cá nhân
tham gia vào cung cấp dịch vụ đại học, nhờ đó, số lượng trường đại học, cao
đẳng tăng, giảm bớt áp lực quá tải cho các trường đại học, cao đẳng công lập.
Xã hội hóa giáo dục đại học còn nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn nơi
học tập cho các sinh viên. Trước đây chỉ có các trường đại học, cao đẳng công
lập do Nhà nước quản lý chung, do đó môi trường học tập không có sự khác
biệt nhiều giữa các trường. Khi chính sách xã hội hóa của Nhà nước được
triển khai, hệ thống trường ngoài công lập do tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước quản lý, tạo nên môi trường học tập năng động và hội nhập.
Trước kia khi chưa có trường đại học, cao đẳng ngoài công lập, các học
sinh không đủ điểm vào trường đại học mong muốn, gia đình thường lo lắng
cho con em họ sẽ buồn chán dẫn đến những hành vi sai phạm, bị bạn bè lôi
kéo, sa đà vào các tệ nạn xã hội. Từ khi có các trường đại học, cao đẳng ngoài
công lập, gia đình họ sẽ yên tâm khi con em họ được sống trong môi trường
giáo dục lành mạnh. Không chỉ vậy, có những gia đình giàu có, muốn con em
19
của họ vào học ở những trường tốt hơn thì nhà nước tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp, tổ chức mở những cơ sở giáo dục tiện nghi, chất lượng cao hơn
để đáp ứng nhu cầu.
Sự xuất hiện của các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập tạo sức
cạnh tranh cho các trường đại học, cao đẳng công lập về chất lượng đào tạo để
thu hút sinh viên. Bên cạnh đó, các trường ngoài công lập do không nhận
được sự hỗ trợ từ Nhà nước nên học phí của các trường ngoài công lập cao
hơn so với các trường công lập. Việc này đòi hỏi các trường ngoài công lập
phải nâng cao chất lượng đào tạo để tạo niềm tin và thu hút sinh viên và nhà
tuyển dụng lao động.
Đến Đại hội VIII, khái niệm xã hội hóa được làm rõ hơn và chính thức
đưa vào trong văn kiện: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo
tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi
người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức
nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”. Và Đảng ta khẳng
định: “Thực hiện phương châm xã hội hóa giáo dục các hoạt động văn hóa,
thông tin, thể dục thể thao, y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình, giáo dục và
các mặt xã hội khác, hướng vào nâng cao chất lượng cuộc sống, tinh thần và
thể lực của nhân dân”. Tại Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Đảng yêu
cầu “Thể chế hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục đã ghi trong Nghị quyết Đại
hội VIII”. Chủ trương này tiếp tục được khẳng định tại Văn kiện Đại hội lần
thứ IX của Đảng, tại một số Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng, tại
Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2000 – 2010
của Chính phủ và được cụ thể hóa tại nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước
Trên cơ sở chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành
nhiều văn bản quy phạm pháp luật về xã hội hóa giáo dục đại học góp phần
đưa các chủ trương vào thực tế.