ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC DUY VẬT BIỆN CHỨNG - Pdf 25

1
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN TRIẾT HỌC - DVBC
Nội dung 1:
Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VI, Đảng coi việc
“phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan”
là một trong những bài học kinh nghiệm quí báu.
Đ/c hãy phân tích cơ sở triết học và thực tiễn của bài học trên và nêu ý nghĩa
của nó trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
- Cơ sở triết học:
Quan điểm của triết học M-Lênin về vật chất, ý thức và quan hệ biện chứng giữa
vật chất và ý thức là cơ sở triết học của bài học trên.
1. Định nghĩa:
+ Vật chất: (Nêu định nghĩa vật chất của Lênin)
+ Ý thức? (Nêu bản chất của ý thức)
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a) Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
- Vật chất sinh ra ý thức. Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất tồn tại khách
quan độc lập với ý thức, là nguồn gốc của ý thức. Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức
đều gắn liền với thế giới vật chất. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào dạng vật chất có tổ
chức cao là óc người. Óc người là cơ quan vật chất của ý thức. Do vậy, bộ óc có ảnh
hưởng trực tiếp đến phản ánh có ý thức của con người.
- Vật chất qui định nội dung của ý thức. Sự phản ánh thế giới vật chất càng
phong phú thì nội dung của ý thức càng phong phú.
- Vật chất biến đổi thì sớm muộn ý thức cũng biến đổi theo. Tuy nhiên ý thức có
tính độc lập tương đối nên sự biến đổi của ý thức có thể không diễn ra đồng thời với
sự biến đổi của vật chất.
1
2
- Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được bộc lộ ở mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; giữa đời sống vật chất với các lĩnh vực

thể nhận thức có thể khẳng định rằng, ở một mức độ nào đó, người ta không thể có
được tư duy biện chứng khoa học khi trình độ văn hoá, khoa học chưa đạt đến một
chuẩn mực cần có. Vì vậy, sự yếu kém về trình độ văn hoá, khoa học sẽ tất yếu dẫn
đến tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ quan duy ý chí.
+ Do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường
xuyên chủ động nâng cạo năng lực tư duy lý luận (trong đó bao gồm cả quá trình học
tập lý luận và kiểm nghiệm thực tiễn). Về điểm này, Engen đã từng khẳng định: "Tư
duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta. Năng lực ấy
cần phái được phát triển hoàn thiện Vì vậy, để khắc phục tình trạng yếu kém đó,
cách trước tiên và chủ yếu là phải học tập, rèn luyện lý luận. của chủ nghĩa duy vật
biện chứng.
Tựu trung, bệnh chủ quan duy ý chí là do sự yếu kém về trình độ nhận thức nói
chung và sự hạn chế trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói riêng.
Thực tiễn cho thấy, quá trình hoạch định đường lối chiến lược, sách lược cách
mạng và sự cụ thể hoá đường lối đó bằng các chủ trương, chính sách và pháp luật, nếu
bị sự can thiệp, áp đặt của ý muốn chủ quan tự phát sẽ làm nguy hại nghiêm trọng đến
sự phát triển của đất nước mà trước mắt cũng như lâu dài, hậu quả của nó khó có thể
lường trước được.
Có thể sau khi chủ trương, đường lối bị thất bại do bệnh chủ quan gây nên,
những người hoạch định chúng sớm nhận ra sai lầm, do đó chúng có thể được khắc
phục, sửa chữa cho phù hợp với quy luật khách quan và yêu cầu của thực tiễn. Nhưng
cũng có thể xảy ra các tình trạng sau đây: 1) không nhận thức được nguồn gốc sai lầm
về mặt tư duy, nhận thức, 2) nhận thức được nguồn gốc sai lầm đó nhưng chậm được
sửa chữa, khắc phục.
Trong trường hợp thứ hai, ngoài nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức,
trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục, sửa chữa, sai lầm, theo
chúng tôi, còn có nguyên nhân chủ quan khác. Đó là, do tính bảo thủ hoặc vì lợi ích cá
nhân nên chủ thể tìm cách che giấu khuyết điểm, sai lầm chủ quan, tìm cách thuyết
minh cho "sự sáng tạo hợp quy luật" hoặc tìm cách đổ lỗi cho người khác, hoặc cho
3


4
5
Nội dung 2:
Đề ra đường lối đổi mới, trong Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ VI, Đảng coi việc
“phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan”
là một trong những bài học kinh nghiệm quí báu.
Dựa vào mối quan hệ giữa vật chất và ý thức phân tích bài học trên và nêu ý
nghĩa của nó trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay.
1. Định nghĩa:
+ Vật chất: Định nghĩa vật chất của Lênin
+ Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người một cách tích cực,
chủ động, sáng tạo trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan.
2. Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
a) Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức
- Vật chất sinh ra ý thức. Vật chất có trước, ý thức có sau. Vật chất tồn tại khách
quan độc lập với ý thức, là nguồn gốc của ý thức. Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức
đều gắn liền với thế giới vật chất. Ý thức tồn tại phụ thuộc vào dạng vật chất có tổ
chức cao là óc người. Óc người là cơ quan vật chất của ý thức. Do vậy, bộ óc có ảnh
hưởng trực tiếp đến phản ánh có ý thức của con người.
- Vật chất qui định nội dung của ý thức. Sự phản ánh thế giới vật chất càng
phong phú thì nội dung của ý thức càng phong phú.
- Vật chất biến đổi thì sớm muộn ý thức cũng biến đổi theo. Tuy nhiên ý thức có
tính độc lập tương đối nên sự biến đổi của ý thức có thể không diễn ra đồng thời với
sự biến đổi của vật chất.
- Vai trò của vật chất đối với ý thức trong đời sống xã hội được bộc lộ ở mối
quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội; giữa đời sống vật chất với các lĩnh vực
tinh thần, tư tưởng nói chung.
b) Ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại vật chất

biết động viên tinh thần, phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của ý thức, tinh
thần vượt khó vươn lên… Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần phải nâng cao
trình độ tri thức, bồi dưỡng, rèn luyện tư duy trí tuệ, trình độ lý luận.
6
7
Thứ ba, cần tránh rơi vào “chủ nghĩa khách quan” tức là tuyệt đối hoá điều kiện
vật chất, ỷ lại, trông chờ vào điều kiện vật chất kiểu “Đại lãn chờ sung”, không chịu cố
gắng, không tích cực, chủ động vượt khó, vươn lên.
Thứ tư, cần chống chủ nghĩa chủ quan - tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, của ý
chí, cho rằng ý chí, ý thức nói chung có thể thay được điều kiện khách quan, quyết
định điều kiện khách quan.
- Ý nghĩa trong thực tiễn cách mạng nước ta hiện nay:
+ Đổi mới phát xuất phát từ thực tiễn VN
+ Phải tuân theo quy luật khách quan, không nóng vội, chủ quan
+ Phải chống bệnh chủ quan duy ý chí
+ Chống chủ nghĩa khách quan, ỉ lại điều kiện vật chất
+ Phát huy vai trò nhân tố chủ quan, ý thức tinh thần,vv…trong đổi mới
Nội dung 3:
Trong "Bút ký triết học", V.I. Lê nin viết: "Phát triển là một cuộc đấu tranh
giữa các mặt đối lập ".
Đồng chí hãy phân tích cơ sở triết học của luận điểm trên và nêu ý nghĩa của
vấn đề này đối với việc “thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình trong Đảng” trong
công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay?
- Cơ sở triết học của luận điểm chính là quan điểm triết học M-Lênin về quy
luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập được thể hiện thông qua
các khái niệm sau:
Các khái niệm
* Mặt đối lập biện chứng?Nêu VD
* Mâu thuẫn biện chứng ?Nêu VD

thái kinh tế - xã hội vận động từ thấp đến cao.
* Thống nhất giữa các mặt đối lập là tương đối, đấu tranh giữa các mặt đối lập
là tuyệt đối, vì ngay trong sự thống nhất của các mặt đối lập cũng hàm chứa những
nhân tố phá vỡ sự thống nhất đó. Mọi sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ có thể xét
8
9
về một mặt nào đó, một phương diện nào đó mà thôi. Đấu tranh của các mặt đối lập
diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động, phát triển của sự vật;
Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
* Theo nghĩa chung nhất mâu thuẫn là sự tác động qua lại của các mặt đối lập.
Theo nghĩa đó, bất kỳ sự vật nào cũng chứa mâu thuẫn. Không ở đâu không có mâu
thuẫn và không bao giờ không có mâu thuẫn.
* Theo nghĩa thứ hai, mâu thuẫn là sự bất đồng, sự không phù hợp, sự mất cân
bằng giữa các mặt đối lập. Mâu thuẫn trong trường hợp này được hiểu là điểm đỉnh
của sự khác biệt giữa các mặt đối lập, là sự phát triển của các yếu tố không phù hợp,
những sự trái ngược giữa chúng.
* Mỗi sự vật không phải chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu
thuẫn và vai trò của các mâu thuẫn này đối với sự phát triển của sự vật không giống
nhau. Vì vậy, triết học mácxít đã chia mâu thuẫn thành các loại khác nhau.
- Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét, người ta chia thành mâu
thuẫn thành bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
- Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, người ta chia
thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.
- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự vận động và phát triển của sự vật
trong một giai đoạn phát triển nhất định, người ta chia thành mâu thuẫn chủ yếu và
mâu thuẫn không chủ yếu.
- Căn cứ vào quan hệ lợi ích, người ta chia thành mâu thuẫn đối kháng và mâu
thuẫn không đối kháng.
Dù hiểu mâu thuẫn theo bất kỳ nghĩa nào thì nó vẫn là nguồn gốc của sự phát
triển. Bởi lẽ, khi các mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật còn là nó. Nhưng khi

+Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng; một đảng có
gan thừa nhận khuyết điểm của mình rồi tìm mọi cách để sửa chữa là một đảng tiến
bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính.
+ Tự phê bình và phê bình là 2 mặt thống nhất của công tác xây dựng đảng
+ Tự phê bình là điều kiện, cơ sở để thực hiện phê bình có hiệu quả
+ hê bình có hiệu quả lại là cơ sở để thúc đẩy tự phê bình tốt hơn
10
11
+ Phê phán quan điểm sai trái chỉ nhấn mạnh tự phê bình không thấy vai trò của
phê bình và ngược lại (liên hệ địa phương); quan điểm dĩ hòa vi quý
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
MÔN TRIẾT HỌC - DVBC
( Tiếp)
Nội dung 4:
Trong "Bút ký triết học", V.I. Lê nin viết: "Phát triển là một cuộc đấu tranh
giữa các mặt đối lập ".
Đồng chí hãy giải thích luận điểm trên và nêu ý nghĩa của vấn đề này trong quá
trình hội nhập quốc tế đối với nước ta hiện nay.
Phần giải thích luận điểm nêu nội dung quy luật mâu thuẫn giống như câu 3
-Ý nghĩa của vấn đề trong hội nhập quốc tế:
Hội nhập quốc tế đối với nước ta hiện nay là quá trình chấp nhận mâu thuẫn và
tích cực giải quyết mâu thuẫn giữa cơ hội và thách thức, giữa nguy cơ và thời cơ, đối
tác và đối tượng, …
- Cơ hội, thời cơ:
+ Lần đầu tiên ta được hưởng qui chế tối huệ quốc, trong quan hệ quốc tế, ta
được bình đẳng không bị phân biệt đối sử; với mức thuế thấp;
+ Hàng vào nước ta nhìn chung rẻ hơn như điện tử, ô tô, …
+ Đầu tư vào nhiều hơn
+ Sự cạnh tranh sẽ thúc đẩy mạnh doanh nghiệp phát triển
+ Thúc đẩy đổi mới cơ chế chính sách trong nước nhanh hơn, thông thoáng hơn;

+ Quan hệ quốc tế và dân tộc; nội lực và ngoại lực,
Nội dung 5 :
Trong bài "Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khoá I trờng Nguyễn Ái Quốc"
ngày 7-9-1957, Bác Hồ viết: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc
căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hớng dẫn thì thành
thực tiễn mù quáng, lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông"
12
13
Đồng chí hãy giải thích luận điểm trên và nêu ý nghĩa của vấn đề này trong đấu
tranh, khắc phục bệnh kinh nghiệm ở cán bộ hiện nay?
- Luận điểm trên có cơ sở lý luận là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn.
- Nêu định nghĩa thực tiễn là gì?
- Đặc trưng của thực tiễn (3 đặc trưng)
Hình thức cơ bản của thực tiễn (3 hình thức)
* Sản xuất vật chất;
* Hoạt động cải tạo xã hội – chính trị cũng như cải tạo các quan hệ xã hội.
* Hoạt động thực nghiệm khoa học.
Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn có vai trò, chức năng riêng không thể thay
thế, nhưng chúng quan hệ mật thiết với nhau, liên hệ tác động lẫn nhau. Trong đó, sản
xuất đóng vai trò quyết định đối với các hình thức khác. Giải thích vì sao?
b. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
* Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức.
- Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho
sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất. Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng.
Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức. Không có thực tiễn không thể có
nhận thức.
- Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời. Nói
khác đi, chính thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết. Trên cơ sở đó
thúc đẩy nhận thức phát triển.

chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thành phát triển lý luận.
* Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận.
* Tránh tuyệt đối hoá thực tiễn và coi thường lý luận vì khi ấy sẽ rơi vào bệnh
kinh nghiệm. Tránh tuyệt đối hoá lý luận và coi thường thực tiễn vì khi ấy sẽ rơi vào
bệnh giáo điều.
- Vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn.
Lý luận là sự phát triển cao của nhận thức con người. Con người muốn biến đổi
được tự nhiên và xã hội thì cần phải có những hiểu biết về chúng, nhưng những hiểu
biết đó không có sẵn trong con người. Muốn có tri thức, con người phải tác động vào
thế giới khách quan bằng hoạt động thực tiễn. Trên cơ sở đó, con người tích lũy được
14
15
những tri thức kinh nghiệm. Những tri thức kinh nghiệm mới chỉ đem lại sự hiểu biết
về từng mặt riêng lẻ, bên ngoài của sự vật, hiện tượng. Để nắm được cái tất yếu sâu
sắc nhất, mối quan hệ bản chất của các sự vật, hiện tượng, con người phải khái quát
những tri thức kinh nghiệm thành lý luận. Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Lý luận là sự tổng kết
những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội
tích trữ lại trong quá trình lịch sử"
(3)
. Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát
kinh nghiệm thực tiễn, song không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là hình thành
được lý luận. Lý luận được hình thành thông qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn của các nhà lý luận. Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn
luôn phải được bổ sung, phát triển bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú.
Do tính độc lập tương đối của mình, lý luận có thể vượt trước các dữ liệu thực tiễn.
Nhưng xét đến cùng, lý luận không thể không dựa trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn.
Vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn thể hiện ở chỗ: Lý luận khoa học
thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách
quan và chính thực tiễn. Nó đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn. Nó
vạch ra phương hướng và phương pháp cho hoạt động thực tiễn, nhằm biến đổi hiện

đội ngũ trí thức; dễ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái. Trong
hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tùy tiện, sự vụ, gặp đâu hay đó, thiếu nhìn xa trông rộng
v.v
Bệnh kinh nghiệm ở nước ta có nhiều nguyên nhân khác nhau: ảnh hưởng tiêu
cực của xã hội nông nghiệp cổ truyền; ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, tư tưởng
tiểu tư sản; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, không nắm được
thực chất mối quan hệ biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận.
Để khắc phục và ngăn ngừa có hiệu quả căn bệnh này phải quán triệt tốt trên
thực tế sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, coi trọng cả lý luận và thực tiễn; coi
trọng công tác tổng kết thực tiễn; nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên và
nhân dân; từng bước khắc phục triệt để tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tư sản.
Đồng thời, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đổi mới công tác lý luận theo tinh thần
Nghị quyết Trung ương năm Khoá IX của Đảng.
Về bệnh giáo điều: Nếu cường điệu lý luận, coi nhẹ thực tiễn, coi lý luận là bất
di bất dịch, tách lý luận khỏi thực tiễn, vận dụng lý luận không căn cứ vào hoàn cảnh
lịch sử - cụ thể sẽ mắc phải bệnh giáo điều. Ở nước ta có hai loại giáo điều, đó là giáo
điều lý luận biểu hiện ở việc học tập lý luận tách rời với thực tiễn, xa rời cuộc sống,
16
17
rơi vào bệnh sách vở, câu chữ, tầm chương trích cú v.v Giáo điều kinh nghiệm biểu
hiện ở việc áp dụng dập khuôn, máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nước mình,
của ngành khác vào ngành mình, của địa phương khác vào địa phương mình v.v
không tính đến những điều kiện lịch sử - cụ thể. Ở nước ta tồn tại chủ yếu là loại giáo
điều kinh nghiệm. Bệnh giáo điều ở nước ta có nhiều nguyên nhân: sự yếu kém về
trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân; tác động tiêu cực của cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp; vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn v.v
Để khắc phục và ngăn ngừa có hiệu quả cả hai loại giáo điều này, chúng ta phải
từng bước nâng cao trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; hoàn
thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; quán triệt tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn v.v

Nội dung 6:
Trong tác phẩm "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán",
V.I.Lênin viết: "Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ
bản của lý luận nhận thức"
Đồng chí hãy giải thích luận điểm trên và nói rõ ý nghĩa của vấn đề này trong
việc khắc phục bệnh giáo điều ở nước ta hiện nay.
Trong luận điểm trên, Lênin nói về vai trò của thực tiễn đối với lý luận nhận thức.
Về thực tiễn: Trình bày như ở câu 5 (Định nghĩa, đặc trưng, hình thức của thực
tiễn; vai trò của thực tiễn đối với nhận thức )
Từ những nội dung trên rút ra quan điểm thực tiễn trong nhận thức. Quan điểm
thực tiễn yêu cầu:
* Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, phải xuất phát
từ thực tiễn. Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành. Phải
chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thành phát triển lý luận.
* Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận.
* Tránh tuyệt đối hoá thực tiễn và coi thường lý luận vì khi ấy sẽ rơi vào bệnh
kinh nghiệm. Tránh tuyệt đối hoá lý luận và coi thường thực tiễn vì khi ấy sẽ rơi vào
bệnh giáo điều.
18
19
- Ý nghĩa của vấn đề này trong việc khắc phục bệnh giáo điều ở nước ta
hiện nay.
Nếu cường điệu lý luận, coi nhẹ thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch, tách lý
luận khỏi thực tiễn, vận dụng lý luận không căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử - cụ thể sẽ
mắc phải bệnh giáo điều. Ở nước ta có hai loại giáo điều, đó là giáo điều lý luận biểu
hiện ở việc học tập lý luận tách rời với thực tiễn, xa rời cuộc sống, rơi vào bệnh sách
vở, câu chữ, tầm chương trích cú v.v Giáo điều kinh nghiệm biểu hiện ở việc áp
dụng dập khuôn, máy móc kinh nghiệm của nước khác vào nước mình, của ngành
khác vào ngành mình, của địa phương khác vào địa phương mình v.v không tính đến
những điều kiện lịch sử - cụ thể. Ở nước ta tồn tại chủ yếu là loại giáo điều kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status