TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ ĐÔNG TÂY TRONG LỊCH SỬ, ĐỀ TÀI: VĂN HÓA HỘI HỌA NHẬT BẢN: TRONG TRƯỜNG HỢP TRANH PHÙ THẾ UKIYÔ – E - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TP. HCM - KHOA VĂN HÓA HỌC
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: QUAN HỆ ĐÔNG - TÂY TRONG LỊCH SỬ
ĐỀ TÀI: VĂN HÓA HỘI HỌA NHẬT BẢN: TRONG TRƯỜNG HỢP TRANH PHÙ
THẾ UKIYÔ – E
GVHD: TS. Đinh Thị Dung
SVTH: Trần Thị Kiều Hoa
MSSV: 1156140023
Khoa: Văn hóa học – K5
TPHCM, 12/2014
Mục lục
I. DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Thứ nhất, Nhật Bản được biết đến là một đất nước có nhiều giá trị văn
hóa truyền thống đặc sắc về nhiều mặt trên tất cả các bình diện văn hóa và trong
số đó nhất là hội họa Nhật Bản – tranh khắc gỗ, một “món ăn tinh thần” và tiêu
biểu người Nhật là không thể thiếu trong văn hóa Nhật.
Thứ hai, trong nghệ thuật ở Nhật Bản thì hội hoạ là một trong những
nghệ thuật cổ xưa và tinh tế nhất với rất nhiều phong cách và chất liệu khác
nhau, mang nét văn hóa riêng và qua đó cũng thể hiện cách ứng xử, lối sống của
người Nhật qua mỗi tác phẩm, mỗi bức tranh với môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội
Thứ ba, là hội họa Nhật Bản có ảnh hưởng đến nghệ thuật của các nước
phương Tây với những trường phái của Phương Tây sẵn có về chất liệu, gam
màu. Phải chăng đây là mối quan hệ văn hóa Đông – Tây, giữa Nhật Bản –
Châu Âu trong lịch sử từ xưa và đến trong xu thế hội nhập ngày nay.
Thứ tư, Tranh Phù thế Nhật Bản (Ukiyô-e) là một dòng tranh truyền
thống của người Nhật Bản, viết về nhiều chủ đề khác nhau của tầng lớp khác
nhau của Nhật Bản và nội dung chủ đề đa dạng, phong phú.
Cuối cùng, đây là một đề tài mang tính mới.

yếu tố nội sinh và ngoại sinh (endogenous >< exogenous). Khái niệm này đã
được lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội chấp thuận với giáo trình Giao thoa
văn hóa ở Việt Nam.
Thuật ngữ này đã xuất hiện trong khoa học nhân văn Âu - Mỹ từ thập kỷ
30 của thế kỷ này và được học giả lớn H. Herkovits định nghĩa như sau: “Dưới
3
từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa
khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn
hóa ban đầu của một hay cả hai nhóm”
1
.
1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề
Trong bài này, chúng tôi không chú trọng đề cập cập đến lịch sử hình
thành và phát triển của Nhật Bản mà chú trọng vào lịch sử của hội họa Nhật
Bản, tiêu biểu là Tranh khắc gỗ - Phù thế Nhật Bản (Ukiyô-e).
Bên cạnh đó, giúp cho người đọc có một cách tiếp cận mới trên bình diện
nghệ thuật hội họa từ góc nhìn về văn hóa. Và qua đó, tìm hiểu trong lịch sử
nghiên cứu những quan điểm lý luận về quá trình giao lưu tiếp biến, giao lưu
tiếp biến và mối quan hệ văn hóa trong lịch sử này.
Nghiên cứu nghệ thuật hội họa Nhật Bản cũng là tìm hiểu giá trị văn hóa
của người Nhật, con người Nhật ở vùng đất nơi này.
Tiếp cận hội họa Nhật qua mối quan hệ văn hóa Đông – Tây trong lịch sử
từ góc nhìn văn hóa. Bên cạnh đó, cũng tìm ra những đặc trưng văn hóa ấy và
thấy được mặt ảnh hưởng của dòng tranh Phù thế Nhật Bản (Ukiyô-e) như thế
nào với các nước Phương Tây trong quá trình giao lưu, giao thoa và tiếp biến
văn hóa lúc bấy giờ và ngày nay.
Khu vực các quốc gia phương Tây có điều kiện tự nhiên, xã hội và những
giá trị văn hóa khác Nhật Bản, Nhật Bản có những đặc trưng riêng, những giá trị
riêng?. Có phải chỉ có Tranh Phù thế Nhật Bản (Ukiyô-e) chỉ ảnh hưởng đến
văn hóa của nước các nước phương Tây hay còn ảnh hưởng đến các nước khác

phát triển của văn hóa Nhật Bản là nước Nhật nằm cách rời lục địa Trung Hoa
bởi một eo biển rộng (700km). Chính điều này làm cho sự giao thông giữa địa
lục giữa Nhật Bản và đại lục Trung Hoa rất khó khăn, tuy nhiên cũng có nhiều ý
kiến cho rằng Nhật Bản là một trong vùng văn minh Đông Á xuất phát từ Bắc
Trung Quốc, nhưng Nhật không chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa không trực
tiếp và có mức sâu rộng như Việt Nam, Triều Tiên… Cũng nhờ sự cách ly này
mà Nhật Bản không chịu sự xâm lăng của Trung Quốc (ngoại trừ hai lần xâm
lược Nguyên Mông ở thế kỷ 13) và khi nhìn nhận lạ lịch sử tiếp thu văn hóa
Trung Quốc, ta có cảm tưởng người Nhật dã điều chỉnh mức độ văn hóa Trung
Quốc tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh lịch sử của mình.
2.1.2. Cư dân người Nhật
Người Nhật tin rằng mình là con cháu của thần Mặt Trời, vị nữ thần có vẻ
đẹp rạng ngời mang lại sức sống cho vạn vật vũ trụ. Điều đó cũng lý giải tại sao
người đứng đầu đất nước mang tước lại Thiên Hoàng. Có nhiều ý kiến cho rằng
chủng tộc Nhật Bản được hình thành từ sự pha trộn giữa những người di cư
Triều Tiên, Mãn Châu và Trung Hoa từ thời đồ đá sau khi Nhật Bản tách khỏi
lục địa.
Nhưng cũng lại có thuyết cho rằng, người Nhật đã sống trên các hòn đảo
Nhật Bản. Nhưng dù thế nào, trước khi có những người di cư đến và hình thành
nên người Nhật sau này (được coi là phân nhóm của người Mongoloid da vàng,
mắt hẹp, tóc đen) thì tộc người Ainu đã sống ở Nhật Bản và sau này, tập trung
chủ yếu trên Hokkido.
 Tuy có nhiều nguồn gốc khác nhau và nhiều tranh cãi nhưng tính cách người
Nhật rất thống nhất. Họ là những người tôn trọng kỷ luật và giữ chữ tín hàng
đầu. Người Nhật cũng là người trầm tính, khoan hòa, với họ, ngôn ngữ của sự
im lặng nhiều khi còn ý nghĩa hơn lời nói. Điều này làm cho những người nước
ngoài thích thú và ấn tượng khi gặp và trò chuyệ n với người Nhật.
II.2. Tổng quan về lịch sử hội họa Nhật Bản
5
Trong các hình thức nghệ thuật ở Nhật Bản thì hội hoạ là một trong

bức tranh mô tả lại những sự tích, những chiến công thần thánh cũng như cuộc
sống dân dã của người dân lao động, mạnh mẽ, phóng khoáng, cho thấy một
không khí hào hùng đậm chất sử thi.
 Thời Kamakura
Vào thời kì Kama Kura (1185-1333) tranh thủy mặc được truyền vào từ
Trung Hoa và phong cách Nhật Bản được hoàn thiện vào thời kì Muromachi
(1333-1573).
 Thời Muômachi (1333 – 1603)
Hội hoạ Nhật Bản lại một lần nữa trải qua những thay đổi lớn.
Trong suốt thế kỷ 14, sự phát triển của Phật giáo ở Kamakura và Kyoto đã có
ảnh hưởng lớn đến hội hoạ.
6
Phong cách: Suibokuga với hai tên tuổi Shubun và Sesshu, hai người có
nét phá cách khác nhau và có sự ảnh hưởng của những bức tranh sơn thuỷ Trung
Hoa.
Từ sau thế kỷ 15, các bức tranh thể hiện sự pha trộn giữa hơi hướng hội hoạ
châu Âu và yamato-e truyền thống. Lúc đầu phần lớn các bức tranh tôn giáo đều
liên quan đến Phái Thiền nhưng sau đó là các bức tranh bắt đầu đề cập đến các
đề tài như phong cảnh, hoa, các loài chim.
 Thời Edo (Tôkugawa : 1603 – 1868)
Thời kỳ Edo mở ra đánh dấu sự xuất hiện của rất nhiều phong cách mới
bên cạnh những phong cách đang tồn tại. Trường phái Namban vẫn tiếp tục phát
triển lên tới đỉnh cao, tập trung ở khu vực cảng Nagasaki. Tranh khắc gỗ, thơ
haiku (hài – cú), truyện văn xuôi, tuồng kabuki (ca – vũ – kỹ)v.v…là những sản
phẩm nghệ thuật thời kỳ này nhưng do “bế quan tỏa cảng” mà có những thay
đổi riêng, tuy nhiên, đời sống tư tưởng vào thời kỳ Tôkugawa rất đa dạng và
mang nhiều sức sống.
Nhưng đã nói đến hội hoạ thời Edo thì không thể bỏ qua dòng tranh khắc
gỗ phù thế Ukiyo-e, đây là phong cách được biết đến rộng rãi nhất cả trong và
ngoài nước lúc bấy giờ. Phần lớn chúng được phổ biến rộng rãi nhờ bản in khắc

rằng tất cả những tài lộc, danh vọng của con người là phù du, tất cả cuối cùng
cũng tan theo mây khói, cốt yếu sống phải biết tận hưởng cuộc đời trong từng
khoảnh khắc).
Những bức tranh khắc gỗ rực rỡ từ sau năm 1860 đã tràn vào châu Âu
góp phần tạo nên phong cách mới của Manet, Monet, Degas và Whistler. Đặc
điểm của tranh khắc gỗ màu cổ điển Nhật là không có một điểm trung tâm trong
tranh và vì thế dẫn người xem tranh nhìn qua toàn bộ bức tranh, nhiều bản khắc
gỗ có góc nhìn lạ thường và có hình dáng bị cắt đi ở rìa bức tranh.
Đề tài của tranh Ukiyô-ê rất đa dạng như các người đẹp, những du nữ ở
Yôhiwara, các diễn viên kabuki, cảnh sinh hoạt, thiên nhiên. Ngày nay có vô số
phiên bản Ukiyô-ê được in qua các phương tiện ấn loát hiện đại.
Trong quá khứ, Nhật Bản từng rất khắt khe trước những vấn đề liên quan
đến tính dục, thế nhưng vẫn có những dòng nghệ thuật vượt ra khỏi quy tắc đó,
hướng tới những chủ đề gây sốc. Một trong số đò là dòng tranh Shunga. Những
bức tranh Shunga xưa thường mô tả chi tiết những bộ phận sinh dục to, khỏe
hay vẽ khá trần trụi cảnh sinh hoạt nam nữ, các tư thế, vẻ mặt của hai người khi
đang giao hoa.
Những bức tranh này ngay lập tức nhận được nhiều ý kiến trái chiều. Một
số nhà nghiên cứu cho rằng chúng là tư liệu quý giá về quá trình phát triển và
quan niệm tình dục của người Nhật xưa. Có thể thấy rõ, bất chấp những quy
định chặt chẽ về khoái lạc tình dục, người Nhật vẫn rất thích nói, nhìn ngắm
những gì liên quan tới tình dục và dòng chảy mãnh liệt này vẫn tiếp diễn để rồi
bùng nổ thành cách mạng sex sau này
Shunga 春 春 hay xuân hoạ, là những bức tranh về “xuân tình” hay nghệ
thuật hoa tình (erotic) của Nhật Bản; shunga tương đương với xuân cung hoạ
của Trung Quốc. Nguồn gốc thể loại shunga khởi đầu với tác phẩm của
Moronobu (khoảng 1660) và gắn liền với thời kì đầu của loại tranh mộc bản
Phù thế hoạ (Ukiyo-e).
Một số hoạ sĩ quan trọng vẽ tranh shunga: Moronobu, Harunobu,
Koryusai, Utamaro, Kiyonaga, Shuncho, Hokusai, Shigenobu, Eisen, Eizan,

sumiita. Cuối cùng, họa sĩ vẽ chính sẽ tiếp tục chỉnh lại, sửa màu cho bức tranh
trước khi đưa. Cuộc sống đầy lạc thú và những khu nhà hát ở Edo cung cấp cho
các hoạ sĩ Ukiyo-e một mảnh đất màu mỡ với các đề tài là geisha và nghệ sĩ
kabuki. Bijin-ga ra đời, ghi lại hình ảnh những người phụ nữ được coi là biểu
trưng của cái đẹp. Người ta thấy trong đó những nghệ sĩ, kỹ nữ, và cả những
nhân vật hư cấu trong các tác phẩm văn học.
Trong các bức tranh về chủ đề hưởng lạc, tất nhiên không thiếu những
bức có chủ đề tình dục, được coi là dung tục ở Nhật thời đó. Chính vì vậy, dòng
tranh bình dân này dấy lên rất nhiều tranh cãi trong dư luận. Bên cạnh dòng
tranh đề tài hưởng thu, giống như các bộ môn nghệ thuật khác của người Nhật,
thiên nhiên luôn được ca ngợi, tiêu biểu là các chủ đề: núi Phú Sỹ, sóng biển,
cây cối, chim, hoa…
3.2. Mối quan hệ và ảnh hưởng của Nhật Bản đến các nước trong khu vực phương
Tây qua tranh khắc gỗ Ukiyo- e
Thi hào Beaudelaire lại tương đắc với cái nhân sinh quan Phù thế -
Ukjyo, trong đó thân phận kỹ nữ khác nào những bông hoa phù dung sớm nở tối
tàn, đời người thấp thoáng như bóng câu qua cửa sổ! Phải chăng Phù thế họa
chính là một biểu hiện của Thời tính vô thường – hay một ý thức giác ngộ về le
fugitif của một thời Ấn tượng nào đó nơi chân trời góc biển Viễn đông?
Trong họa phẩm Chân Dung Cha Tanguy,Van Gogh trang trí nền tranh
toàn là hình kỹ nữ geisha, và đỉnh núi Phú sĩ tuyết trắng tinh ngay sau đỉnh đầu
cha Tanguy, trông như hào quang của một ông thánh! Ông bị quyến rũ nhất là vì
tính trang trí và vẻ kỳ bí Đông phương của nó.
10
Chân Dung Cha Tanguy,Van Gogh
Ukiyo- E là kỹ thuật khắc gỗ của Nhật Bản vào giữa thế kỷ 18 và 19 và
xâm nhập vào Châu Âu vào thập niên 60 của thế kỷ 19 như là một kết quả của
trao đổi thương mại và văn hóa sau hơn hai thế kỉ “bế quan tỏa cảng” ở nước
Nhật. Và “bế quan tỏa cảng” cũng đã làm cho đất nước Nhật chịu những hậu
quả sâu sắc nvề kinh tế, xã hội và cả nghệ thuật nói chung.Những tác phẩm

diệt vong của sự “toàn cầu hóa, hiện đại hóa” hiện nay.
Tranh Phù thế của Nhật Bản là trong những dòng tranh đặc sắc cho văn
hóa Nhật Bản và cần phải bảo tồn, giữ gìn, phát huy chúng để tránh khỏi sự
“hòa nhập” với các loài dòng tranh khác.
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Thị Dung, Bài giảng môn Quan hệ văn hóa Đông – Tây trong lịch sử,
2014.
2. Nguyễn Văn Hiệu, Bài giảng môn Lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hóa,
2014
3. Nguyễn Văn Hoàn, Nhật Bản trong dòng chảy lịch sữ thời cận thế, NXB Lao
Động, 2011.
4. Vĩnh Sinh, Nhật Bản cận đại, NXB Lao Động, 2014.
5.
go=New&page=d&igid=696&iid=16003
6.
7.
8.
ban_6592.html#.VIvXXeh35bp
9.
10.
quat-van-hoa/654-van-ngoc-tan-man-ve-tinh-dan-toc-va-tinh-nhan-loai-trong-
nghe-thuat.html
12
11.

 Phần hình ảnh – phụ lục

Một số hoạ sĩ quan trọng vẽ tranh shunga: Moronobu, Harunobu,
Koryusai, Utamaro, Kiyonaga, Shuncho, Hokusai, Shigenobu, Eisen, Eizan,
Kuniyoshi, Kunisada, Kyosai.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status