dạy học các tác phẩm thơ nguyễn khuyến, tú xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp - Pdf 25


4
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
MỤC LỤC ii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Một số vấn đề thi pháp học 7
1.1.1. Khái niệm về Thi pháp học 7
1.1.2. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học …………… 8
1.2. Thi pháp văn học trung đại ……………………………………….…… 12
1.2.1. Tính ước lệ …………………………………………………….…… 13
1.2.2. Tính quy phạm …………………………………………………… 14
1.2.3. Tính phi ngã ……………………………………………….………… 14
1.2.4. Thiên nhiên trong thơ văn trung đại ……………………………… 14
1.2.5. Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật trong văn
học trung đạị……………………………… …………… ………………… 15
1.2.6 Con người trong văn thơ trung đại …….……… ……………….…… 16
1.3 Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ
Tú Xương ……………………………………………………………….… 18
1.3.1. Một số vấn đề về thi pháp Nguyễn Khuyến……………………….… 18
1.3.2. Một số vấn đề về thi pháp Tú Xương .………… … . 26
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ TRUNG ĐẠI TRONG
NHÀ TRƢỜNG PHỔ THÔNG HIỆN NAY VÀ ĐỊNH HƢỚNG ĐỔI
MỚI TỪ HƢỚNG TIẾP CẬN THI PHÁP…………………………… … 39
2.1 Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường phổ thông hiện nay…. 39
2.1.1. Thực trạng học thơ trung đại nói chung trong nhà trường
phổ thông hiện nay…………………………………………… ……………. 39
2.1.2. Thực trạng dạy học “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến và



6
sát là học sinh…………………………………………………………….…. 98
3.5.3. Đánh giá kết quả………………………………………………… 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ …………………….……….………… 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………… ……………… 103

triển tiếp sau của kiến trúc thượng tầng xã hội. Và trong nhà trường trung học phổ
thông văn học trung đại chiếm một dung lượng khá lớn. Dù vậy, vẫn còn không ít

8
những khía cạnh của văn học trung đại cho đến ngày nay không khỏi làm cho
chúng ta băn khoăn, trăn trở. Để góp phần rút ngắn con đường khám phá giá trị
của văn học trung đại, theo xu hướng chung hiện nay là tiếp cận theo hướng thi
pháp học.
Hiện nay, trong các nhà trường phổ thông đang tiến hành đổi mới phương
pháp dạy học một cách tích cực trong đó việc dạy học văn từ hướng tiếp cận thi
pháp đang diễn ra sâu rộng. Dạy văn theo hướng tiếp cận thi pháp học đang thấm
vào từng tiết học và bước đầu đã có những kết quả. Việc vận dụng phương pháp
này vào dạy văn ở nước ta hiện nay có nhiều điều kiện tốt để thực hiện. Việc phổ
biến tri thức thi pháp học trong nhà trường đã có bề dày khoảng 20 năm. Từ
những vấn đề trên, kết hợp khát khao muốn khám phá cái hay, cái đẹp trong văn
học trung đại qua những tác phẩm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương – là hai cây
đại thụ lớn của văn học trung đại, sáng tác của hai ông đã kết tinh nhiều giá trị
thời đại, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn
Khuyến, Tú Xương ở trung học phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp. Với đề
tài này, chúng tôi muốn tìm đến một cách dạy thích hợp, mang tính khoa học và
nghệ thuật, góp phần nâng cao hiệu quả một giờ giảng dạy văn chương, hình
thành khả năng cảm thụ văn chương một cách toàn diện, từ đó bồi dưỡng cho học
sinh tình yêu đời với môn học này, chúng tôi mong muốn đề tài sẽ góp một phần
nhỏ vào quá trình hiện đại hóa việc dạy học môn Ngữ văn hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đề tài “Dạy học các tác phẩm thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương ở trung học
phổ thông theo hướng tiếp cận thi pháp” được chúng tôi xem xét và nghiên cứu
lịch sử vấn đề theo hai hướng chính sau:
Thứ nhất: tìm hiểu những tài liệu nghiên cứu liên quan đến thi pháp học.
Thứ hai: tìm hiểu các tài liệu nghiên cứu liên quan đến con người và sự

chí Nam Phong và cuốn sách: Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm xuất
bản 1925 cũng đã giới thiệu 7 bài thơ nôm của Nguyễn Khuyến. Từ đó trở đi
Nguyễn Khuyến luôn là một nhà thơ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Tiếp sau Quốc văn trích diễm của Dương Quảng Hàm thì trong cuốn sách nổi

10
tiếng Việt Nam Văn học sử yếu (Nha học chính Đông Pháp xuất bản . H. 1943) đã
xếp Nguyễn Khuyến vào hàng ngũ các nhà thơ trào phúng nổi tiếng của văn học
dân tộc. Hay trong cuốn Văn thơ Nguyễn Khuyến (Bộ Giáo dục xuất bản. H.
1957) còn phong cho ông là một nhà thơ trào phúng Việt Nam có tiếng cười độc
đáo. Bộ sách Văn học sử quan trọng nhất của văn học cổ trung đại Lược thảo lịch
sử văn học Việt Nam (gồm 3 tập của nhóm Lê Quý Đôn, Xây dựng xuất bản. H.
1957) đã dành 20 trang để nghiên cứu về Nguyễn Khuyến với tư cách là một nhà
thơ trào phúng lớn. Bài viết của Nguyễn Huệ Chi cũng có những nhận xét về con
người Tam Nguyên Yên Đổ: con người đó cũng không quên nhìn lại mình tự vấn
mình như một kẻ sỹ chân chính thầm để những giọt nước mắt chảy vào trong và
đành cười nhạo thân phận lơ láo tỉnh say, say tỉnh của mình. Sự đa dạng và thống
nhất trên quá trình chuyển động của một phong cách và dấu hiệu chuyển mình
của tư duy thơ dân tộc. Bài Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hoá xã hội Việt
Nam cuối thế kỷ XIX đầu XX của tác giả Trần Quốc Vượng ( Theo thi hào
Nguyễn Khuyến đời và thơ) cho thấy sau khi chán ngán quan trường, Nguyễn
Khuyến cáo quan về quê làm một cụ nghè sống cuộc đời như “phỗng đá”, “anh
giả điếc”, “mù loà”, “mẹ mốc”, “gái goá”. Sống như vậy dường như nhà thơ
muốn chạy trốn cuộc đời, chạy trốn giai cấp mà ông đã phục vụ quá nửa đời
mình. Riêng về mảnh đất thi pháp học về tác giả, Trần Đình Sử cũng đã có bài
nghiên cứu về nhà thơ Tam nguyên Yên Đỗ đăng trong tập sách “Thế giới nghệ
thuật thơ” của ông. Bài viết của giáo sư Trần Đình Sử có tính chất khoa học sâu
sắc và có ý nghĩa như là bước định hướng về việc nghiên cứu sâu rộng hơn tác giả
Nguyễn Khuyến đối với những ai quan tâm đến tác gia văn học trung đại này. Bài
viết “Thơ Nguyễn Khuyến, từ quan niệm nghệ thuật về con người đến không –

dạy hai bài thơ cụ thể: Thu điếu (Nguyễn Khuyến) và Thương vợ (Tú Xương)
trong chương trình Ngữ văn 11, ban cơ bản.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi xác định đề tài có
những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây:

12
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về thi pháp học, thi pháp thơ trung đại, thi pháp
thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương.
- Tìm hiểu thực trạng dạy học tác phẩm thơ trung đại
- Đề xuất phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận thi pháp.
- Thiết kế thể nghiệm giáo án bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ
của Tú Xương theo hướng tiếp cận thi pháp.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những đặc trưng thi pháp học, thi pháp văn
học trung đại, thi pháp Nguyễn Khuyến và thi pháp Tú Xương.
+ Định hướng đổi mới dạy bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú
Xương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận về dạy học tác phẩm văn chương theo hướng tiếp cận thi pháp.
+ Vận dụng vào dạy Thu điếu của Nguyễn Khuyến và Thương vợ của Tú Xương.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích.
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm .
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng dạy học thơ trung đại trong nhà trường trung học phổ

Phi) định nghĩa “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp, tức là hệ thống
các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ
thuật trong sáng tác văn học. Mục đích của thi pháp học là chia tách và hệ thống
hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuật tham gia vào sự cấu thành thế giới nghệ
thuật, ấn tượng thẩm mĩ và chiều sâu phản ánh của sáng tác nghệ thuật”.[6; 304]
Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể thống nhất cách hiểu về thi pháp
học như sau: thi pháp học là một bộ môn khoa học đặc thù nghiên cứu thi pháp,

14
tức nghiên cứu các phương tiện nghệ thuật tạo nên tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
trong sự thống nhất toàn vẹn của nó.
1.1.2. Các bình diện thi pháp cơ bản trong sáng tạo văn học
Từ cách hiểu về thi pháp học như trên, vậy dạy một tác phẩm văn học theo
hướng thi pháp học cần chú ý 6 bình diện thi pháp trong sáng tạo văn học:
1.1.2.1. Thi pháp nhân vật
Nhân vật là hình tượng trung tâm của tác phẩm. Thi pháp học xem xét nhân
vật ở ba khía cạnh: tính cách nhân vật, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ
thuật tả nhân vật.
+ Nhân vật và sự miêu tả nhân vật: con người là đối tượng miêu tả chủ yếu của
văn học trong các phương thức trữ tình, tự sự và kịch dù trực tiếp hay gián tiếp.
Nhân vật có tên Kiều hoặc Kim Trọng hoặc không có tên như mụ dì ghẻ, tiểu
đồng, ông quán. Nhân vật được sáng tạo, hư cấu để khái quát và biểu hiện tư
tưởng, thái độ đối với cuộc sống. Ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, lên án
nhân vật là phê phán đời. Xót xa cho nhân vật là xót xa đời. Tìm hiểu nhân vật là
tìm hiểu về cuộc đời và con người, tìm hiểu tư tưởng tình cảm của tác giả đối với
con người.
Trong thơ trữ tình, có nhân vật trữ tình: con người tự bộc lộ nỗi niềm trước
cuộc sống. Trong kịch, con người tự bộc lộ qua hành động ngôn ngữ của mình.
Trong tác phẩm tự sự (truyện, kí) nhân vật là con người được kể, tả ra bằng lời
của nhà văn.

chẳng hạn “cao cả, thấp hèn, nông cạn, sâu sắc, thiên vị, chính trực, ngay thẳng,
quanh co, đại lượng, hẹp hòi…”. Người ta đã mượn ý niệm về không gian để
miêu tả con người. Đó là không gian nghệ thuật chung của mọi người. Mỗi nhà
văn nhà thơ lại chọn hoặc sáng tạo cho mình một không gian riêng. Không gian
nghệ thuật gồm có: không gian sự kiện, không gian bối cảnh, không gian tâm lý,
không gian kể chuyện .
1.1.2.3. Thi pháp thời gian nghệ thuật

16
Thời gian kể chuyện gồm có: thời gian được trần thuật (hình tượng thời
gian), và thời gian trần thuật (thời gian kể chuyện). Tìm hiểu hình tượng thời
gian, cần quan tâm ý nghĩa của các thời: quá khứ, hiện tại, tương lai, độ đo thời
gian của các nhân vật… Tìm hiểu thời gian trần thuật, cần lưu ý cấp độ thời gian
như: trật tự kể với thời gian sự kiện, thời lưu (độ dài các sự kiện được tính bằng
câu), tần xuất (số lần lặp lại). Các thủ pháp thời gian như: trì hoãn, giãn cách, đảo
tuyến, chêm xen, hoán vị, đồng hiện, bỏ lửng, che giấu, đón trước.
1.1.2.4. Thi pháp kết cấu văn bản
Kết cấu tác phẩm thực chất là tác giả mở lối cho người đọc đi vào dòng sự
kiện, dòng đời. Bố trí điểm nhìn cho công chúng sao cho dễ thấy được chiều rộng
và chiều sâu của câu chuyện nhằm thấy được ý nghĩa nhân sinh cần thiết cho con
người. Nói chung, nghệ thuật kết cấu tác phẩm văn học có mấy phương tiện sau:
+ Hệ thống hình tượng nhân vật, sự kiện và các chi tiết. Đó là sự sắp xếp tương
quan nhân vật chính phụ, chính diện – phản diện, lựa chọn và sắp xếp chi tiết,
tình tiết, hoàn cảnh, đồ vật sao cho ý nghĩa hình tượng nổi lên.
+ Hệ thống điểm nhìn và tổ chức văn bản. Tổ chức cái nhìn và hệ thống điểm
nhìn, trước hết cho chính mình. Điểm nhìn nghĩa là: câu chuyện diễn ra dưới con
mắt của ai (nhà văn/ nhân vật trữ tình/ nhân vật chính/ nhân vật phụ hoặc phối
hợp hai người kể). Mỗi điểm nhìn có ý nghĩa khác nhau mặc dù cùng một câu
chuyện ấy thôi. Hệ thống điểm nhìn đặt trong không gian và thời gian (nhìn từ
hiện tại hay quá khứ, nhìn về quãng thời gian nào? Thậm chí còn đứng ở tương

Lời văn nghệ thuật là thứ ngôn ngữ đặc biệt, được chưng cất hiện thực ngôn
ngữ toàn dân. Lời văn nghệ thuật khác với lời nói bình thường (phi nghệ thuật).
Lời văn nghệ thuật có tính hình tượng, mỗi lời đều là lời sáng tạo của nhà văn
nhằm hiện thực ý muốn của mình. Lời văn nghệ thuật có tính tổ chức cao, được
lựa chọn theo ý thích, thói quen và khả năng của nhà văn, từ âm thanh, từ ngữ,
nhịp điệu, đoạn và cả bài. Các phương diện của lời văn nghệ thuật là ngữ âm, từ
vựng, cú pháp, biện pháp tu từ.

18
Đặc điểm của lờ văn nghệ thuật nhà văn có một lời văn riêng. Đó là thi
pháp của tác giả, nghĩa là lời văn đã tạo ra một hệ thống lời văn độc đáo. Truyền
thống thi pháp cổ khi bình giảng họ chỉ đi tìm những “nhãn tự, thần cú” – có vẻ
ngẫu nhiên may mắn tác giả viết được câu hay, từ đắt mà làm cho bài thơ, văn
hay. Đến thi pháp học hiện đại lại đi tìm quan niệm của lối sử dụng lời văn ấy –
vì sao tác giả sáng tạo như thế?
Khi phân tích ngôn ngữ thơ, cần lưu ý nhạc điệu, các phương tiện và biện pháp tu
từ, cách dùng từ… Mỗi thể thơ đều có những quy định riêng về bút pháp thể hiện,
ví dụ trong thơ Đường luật đặc biệt là thơ thất ngôn tứ tuyệt, do đặc trưng là dung
lượng ngắn nên ngôn ngữ cực kì hàm súc, và thường có hiện tượng “nhãn tự”
(con mắt thơ- từ ngữ hay, “đắt”).
1.2. Thi pháp văn học trung đại
Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và
dân tộc. Văn học trung đại là một giai đoạn lớn trong lịch sử văn học nhân loại và
dân tộc. Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là giai
đoạn hình thành và phát triển rực rỡ nhất của văn học Việt Nam, là giai đoạn hình
thành các truyền thống lớn về tưởng và nghệ thuật. Văn học trung đại Việt Nam
chiếm một phần không nhỏ trong chương trình phổ thông. Việc dạy văn học trung
đại sao cho có hiệu quả đang là mục tiêu phấn đấu của giáo viên các cấp. Để hiểu,
truyền thụ cái hay, cái đẹp của một tác phẩm văn học trung đại là một việc không
mấy dễ dàng. Để khám phá giá trị của một tác phẩm văn học trung đại đòi hỏi

Nói chung văn chương thời ấy đa số ước lệ, ít tả thực. Nếu có tả thực thì
chỉ dùng cho những nhân vật phàm tục, phản diện, phi mĩ học như Sở Khanh, Tú
Bà.
1.2.2. Tính quy phạm
Người trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, đi hết một vòng rồi lại
quay trở về gốc. Vì thế, người ta hết sức coi trọng quá khứ, coi trọng sự khởi đầu,
coi trọng người già, người lớp trước (cổ nhân, tiền bối, tiên sinh). Xã hội hoàng
kim phải là thời Nghiêu Thuấn, chuẩn mực cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá
khứ. Vì thế, văn học trung đại đầy rẫy điển cố, điển tích. Mẫu mực của văn

20
chương là các tác giả đời trước như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Đó là tinh
thần sùng cổ, sùng thượng, sùng ngoại, suy tôn Thánh hiền, do vậy tạo tính quy
phạm trong văn học. Việc sử dụng những điển tích trên cũng nhằm mục đích lấy
xưa để nói nay, dùng việc cũ, người cũ để nói việc mới, chuyện nay. Khi sáng tác,
các tác giả cũng vay mượn đề tài, cốt truyện, môtip, có khi cải biên cốt truyện để
tạo nên một tác phẩm mới. Đây là sự tuân theo những kiểu mẫu, khuôn mẫu sẵn
có đó thành công thức.
1.2.3. Tính phi ngã
Thời phong kiến ý thức cá nhân chưa phát triển. Con người luôn được đặt
trong quan hệ ràng buộc với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp. Chính vì thế, hôn nhân
không phải là chuyện riêng tư, tự nguyện của hai người mà là vấn đề môn đăng
hộ đối của hai gia đình, dòng họ. Người có văn hóa, giáo dục là người biết thu
nhỏ, hạ thấp “cái tôi” cá nhân của mình lại. Vì thế, trong văn học, yếu tố cá nhân
cũng bị dấu đi, khiến văn chương có tính phi ngã không có dấu ấn “cái tôi” cá
nhân. Nhà văn hiếm khi xưng “tôi”, xưng “ta”, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà
dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Nói chung, họ thường sử dụng các công thức
có sẵn để sáng tác. Tả anh hùng thì phải râu hùm, hàm én, vai năm tấc rộng, thân
mười thước cao, tả mĩ nhân thì làn thu thuỷ nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn
1.2.4. Thiên nhiên trong thơ văn trung đại

trong thế đối sánh để làm nổi bật những nỗi niềm, triết lí, hoặc bi kịch của đời
người. Người xưa quan niệm thời gian tuyến tính là thời gian của cuộc đời trần
thế, phàm tục, chứa đầy hình ảnh, màu sắc cụ thể; thời gian chu kỳ là thời gian
của cõi trời, cõi tiên, thế giới thanh cao và bất tử, thấm đẫm tính chất đạo lý, triết
lý.
1.2.5.2. Không gian nghệ thuật
Không gian cũng như thời gian là hình thức tồn tại của thế giới và cuộc
đời. Trong ca dao, không gian chủ yếu là cảnh làng quê, bến nước, gốc đa, hàng
dâm bụt, cảnh sinh hoạt gần gũi thân thiết giản dị.
Trong thơ ca bác học, không gian trở nên trừu tượng hoặc ước lệ. Đó là
không gian vũ trụ vô tận mà cõi trần chỉ là nhỏ bé chật hẹp. Thiếu vắng không

22
gian xã hội cộng đồng và không gian lịch sử. Họ đi tìm núi cao, đám mây trôi,
một con hạc cô đơn, một tiếng chim hót báo hiệu vũ trụ, một bông hoa, một mái
chùa… còn thi nhân/ nhân vật trữ tình thì cô đơn, ngồi lặng, bó gối, hoặc tưới
hoa, ôm cần câu… Không gian tùy thuộc cảm hứng. Càng về sau, nhất là đến cuối
thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, không gian thơ mở rộng dần cho nhập cư thêm đủ
mọi loại người bình thường, tầm thường lẫn sang trọng trong xã hội, chẳng hạn
thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương.
Xét về kích thước không gian trong thơ cổ điển ta có thể phân loại như
sau: không gian lên cao - nơi thi nhân đến cho tâm hồn phóng khoáng, ý chí cao
xa, lánh cõi tục nhất thời để được tự do tư tưởng; không gian lữ thứ - quán trọ,
đường xa, cũng lánh đời, tự thử thách rèn luyện bản thân. Không gian nhỏ hẹp:
phòng văn, con thuyền cô độc, tấm rèm, song mai, song trúc. Thi nhân sống một
mình nhưng vẫn nghe ngóng, liên lạc với cuộc đời.
1.2.6. Con người trong văn thơ trung đại
Người xưa quan niệm con người là một phần của thế giới trong trục thiên –
địa – nhân. Vì thế cá nhân được thể hiện trong quan hệ với vũ trụ hơn là trong
quan hệ với xã hội. Thi đề quen thuộc của thơ trữ tình là con người một mình đối

Xƣơng
Nếu Nguyễn Khuyến giống như một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ
điển có sức làm lay động lòng người của văn học trung đại vào giai đoạn cuối
cùng của thời kỳ văn học trung đại Việt Nam thì Tú Xương là người đầu tiên và
cũng là người cuối cùng, đã đưa được không khí thị dân tiền tư bản vào thơ. Là
người chập chững nghiên cứu “thi pháp học”, vì vậy trong luận văn này chỉ là
nghiên cứu bước đầu về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú Xương.
Vì vậy, tôi không tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Khuyến và thi pháp thơ Tú
Xương với tất cả những phạm trù thi pháp của nó, mà chỉ xoay quanh những
phạm trù mang tính đặc trưng.
1.3.1. Một số vấn đề về thi pháp thơ Nguyễn Khuyến
Là nhà thơ có tài năng về nhiều mặt đồng thời sống trong giai đoạn đất nước
có nhiều biến động, nhưng tài năng thơ văn của Nguyễn Khuyến vẫn tỏa sáng trên

24
thi đàn dân tộc. Đọc thơ Nguyễn Khuyến chúng ta sẽ cảm nhận sâu sắc về một
tâm hồn yêu nước sâu nặng nhưng cũng rất thầm kín và chân thành. Đóng góp
của ông tuy không rực rỡ như người anh hùng Nguyễn Trãi cũng không vang dội
như tên tuổi của đại thi hào Nguyễn Du với tuyệt tác Truyện Kiều nhưng cái tên
Nguyễn Khuyến đã gắn liền với “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” và
những dấu ấn riêng trong sáng tác của ông nhất là mảng thơ Nôm đường luật tạo
thành một dấu son trong nền văn học trung đại Việt Nam. Với phạm vi nghiên
cứu của đề tài, dựa trên kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Dục tôi xin được
trình bày một số vấn đề sau về thi pháp Nguyễn Khuyến trong mảng thơ Nôm
đường luật.
1.3.1.1. Quan niệm nghệ thuật về con người
Trước hết, là một nhà thơ của văn học trung đại Việt Nam, nên quan niệm
nghệ thuật về con người của Nguyễn Khuyến không vượt ra khỏi phạm trù thi
pháp này của thơ ca thời đại ông. Thơ ông vẫn có con người vũ trụ lấy thiên nhiên
làm chuẩn mực của cái đẹp, con người của lí tưởng thẩm mĩ phong kiến và con

Không còn con người vũ trụ, chẳng còn con người lí tưởng nho học mà chỉ
còn con người trống rỗng. Cho nên, con người đời thường cũng chẳng tốt đẹp gì
hơn. Trong thơ với cái nhìn sâu sắc tận ngọn nguồn bản chất con người thời đại,
Nguyễn Khuyến đã trưng ra trên bề mặt trang thơ của mình hình tượng những con
người gia tộc và con người xã hội đang có sự băng hoại mọi giá trị đạo đức và
rỗng toang, rỗng tuếch về tâm hồn và lí trí. Mừng ông lên lão bảy mươi thì: Tính
ông hay, hay tửu hay tăm, hay nước chè đặc, hay nằm ngủ trưa, dù đã bảy mươi
còn khoẻ mạnh, Nhà ông có, có bầu có bạn, có ván cơm xôi, có nồi cơm nếp, mở
ra một tiệc thấy linh đình. Bên cạnh đó ta lại bắt gặp trong thơ Nguyễn Khuyến
hình ảnh con người lo toan hạn hán, mất mùa, nước lụt, nợ nần. Cho dù họ nhẫn
nại số phận vẫn không mỉm cười với họ, ngược lại càng nhấn sâu thêm họ vào
vòng eo nghèo túng quẫn. Công nợ trả chưa xong thì lại phải rối bời trước thiên
tai:

26
Quai Mễ Thanh Liêm đã lụt rồi
Làng ta thôi cũng lụt mà thôi
( Nước lụt Hà Nam ).
Nguyễn Khuyến đã lí giải và đưa ra trong thơ mình một quan niệm con người mới
mẻ. Con người lí tưởng thì trống rỗng, con người đời thường thì bị quay mòng
trong vòng đen tối của đồng tiền thiên tai. Tuy vậy, trong cái nhìn nghệ thuật về
con người của nhà thơ vẫn ánh lên niềm tin về bản chất tốt đẹp của con người.
Đáng quý ở đây là, dù thế nào đi nữa con người ấy vẫn mãi là con người dân tộc.
Con người lặng lẽ giữa chốn thu quê nhà để cảm nghe sắc thu, gió thu, nhạc thu,
hồn thu đất nước trong “Năm gian nhà cỏ thấp le te” (Thu ẩm). Con người cũng
rất mộng mơ thả hồn nương theo bầu trời thu xanh ngắt, hoà nhịp cùng “lá vàng
trước gió khẽ đưa vèo” (Thu điếu), chập chờn chấp chới cùng “đóm lập loè” nơi
ngõ tối giữa đêm sâu.
Con người dân tộc là con người trọng tình. Có lẽ thế mà ta không ngạc
nhiên gì khi con người trong thơ Nguyễn Khuyến là con người thấm đẫm tình

mặc. Màu cảm xúc mơ màng và nhuốm tâm trạng bâng khuâng man mác. Có khi
bức tranh linh hoạt đổi màu từ sáng đến tối hoặc nửa sáng nửa tối gây cảm giác
mơ hồ, nhưng lột tả những biến thái tinh vi trong tâm hồn nhà thơ. Tâm hồn nhà
thơ như chông chênh giữa đôi bờ hư thực. Giữa gam màu nhạt ánh sáng u trầm,
nhà thơ chen ngang, điểm vài nét loè loẹt, đậm sáng khiến bức tranh linh hoạt, có
hồn nhưng ý nghĩa nghệ thuật là gây cảm giác nỗi buồn lan thấm vào cảnh vật.
Đó là chiếc lá vàng thu, ánh trăng loe, đóm lập loè trong những bài thơ thu:
Làn áo lóng lánh ánh trăng loe
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
(Thu ẩm )
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
(Thu điếu )
1.3.1.3. Thời gian nghê
̣
thuật
Tương ứng với không gian nghệ thuật và quan niệm con người đã trình bày
trên, trong thơ Nguyễn Khuyến vẫn tồn tại một thời gian vũ trụ và thời gian đời

28
thường.
- Thời gian chảy trôi miên viễn:
Nghĩ lại bực cho dòng nước chảy,
Đi đâu mà chảy cả ngày đêm
(Chơi chùa Long Đội )
Nhà thơ hoài niệm về một thời vàng son của triều đại phong kiến:
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ
Ấy hồn Thục đế chết bao giờ
Năm canh máu chảy đêm hè vắng
Sáu khác hồn tan bóng nguyệt mờ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status