Đề tài khoa học cấp cơ sở Phân tích tác động của cấu trúc cạnh tranh ngành đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2000 -2012 - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
  
ĐOÀN VIỆT DŨNG
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC
CẠNH TRANH NGÀNH ĐẾN HIỆU QUẢ
TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 200-2012
tế Vi mô)
Mã số: KTQD/V2013
Chủ nhiệm đề tài: Đoàn Việt Dũng
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS PHẠM VĂN MINH
2. PGS.TS TÔ TRUNG THÀNH
HÀ NỘI - 2014
MỤC LỤC
tế Vi mô) i
Mã số: KTQD/V2013 i
2. PGS.TS TÔ TRUNG THÀNH i
HÀ NỘI - 2014 i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT xxii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
Từ những vấn đề trên nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Phân tích tác động của cấu trúc cạnh
tranh ngành đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn
2000-2012” với mục tiêu đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu cấu trúc cạnh
tranh ngành có ảnh hưởng như thế nào tới hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại
Việt Nam 2
2.Mục đích, nội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
Nghiên cứu một cách khoa học cơ sở lý luận về lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành ngân

ii
kém đe dọa sự an toàn của toàn hệ thống và ảnh hưởng tới sự phát triển của toàn bộ nền
kinh tế. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
hoạt động ở Việt Nam. Hiệu quả hoạt động thể hiện ở việc ngân hàng sử dụng các kết hợp
đầu vào để tạo đầu ra hiệu quả, tìm ra các nhân tố và phân tích định lượng ảnh hưởng của
nó đến hiệu quả hoạt động này của các NHTM Việt Nam 3
Phạm vi nghiên cứu: Trong những bài nghiên cứu của các tác giả trước thường tập trung
nghiên cứu vào một vài NHTMNN hoặc các ngân hàng lớn, do đó không phản ánh một
cách đầy đủ năng lực cạnh tranh và hiệu quả tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam.
Trong khi đó, những năm vừa qua tốc độ gia tăng nhanh chóng của các NHTMCP đã tác
động mạnh mẽ đến hệ thống ngân hàng. Do đó, để làm rõ bức tranh toàn cảnh hoạt động
của hệ thống NHTM Việt Nam, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu vào các NHTMCP. Bên
cạnh đó, luận án sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu để thể hiện rõ 2 giai đoạn phát triển của
hệ thống ngân hàng theo giai đoạn phát triển kinh tế 4
Từ năm 2000 - 2007, đây là thời kỳ Việt Nam đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, với vai trò là cầu nối của các thành phần kinh tế các ngân hàng đẩy nhanh quá trình cải
cách, sự thành lập của các ngân hàng mới không ngừng gia tăng để chuẩn bị cho sự cạnh
tranh khi hội nhập 4
Tuy nhiên, từ năm 2008 - 2012, môi trường vĩ mô không mấy thuận lợi tác động tới hoạt
động của các NHTM, lạm phát gia tăng (năm 2008 là 19,89%, năm 2011 là 18,58%, đến
năm 2012 còn 6,81%), cán cân thương mại thâm hụt lớn, thị trường tài chính trong nước và
quốc tế diễn biến phức tạp, lãi suất, tỉ giá, giá vàng biến động mạnh Trong giai đoạn này,
nền kinh tế trong nước chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu, bên cạnh đó vấn đề lạm phát cao và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
trong nước. Đối với hệ thống ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính nên cũng chịu
sự tác động, môi trường kinh doanh và hoạt động gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng
tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Trong giai đoạn
2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng
nợ xấu bình quân 51%, đến năm 2012 tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 8,91%. Có thể
nói giai đoạn 2008-2012 là giai đoạn đầy khó khăn và thách thức, đòi hỏi các ngân hàng

hàng để phân tích thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam 6
Trên cơ sở lý luận về cầu trúc cạnh tranh ngành, đề tài phân tích thực trạng và đánh giá
hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thông qua phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên
(SFA) và hàm Tobit để chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kĩ thuật, những điểm
mạnh và yếu của các NHTM Việt Nam. Ngoài ra việc quan sát xu hướng biến động hiệu
quả kĩ thuật, cùng với bảng xếp hạng các ngân hàng giúp các nhà quản lí có cái nhìn tổng
quan về thực trạng hiệu quả kĩ thuật cùng với các nhân tố tác động tới hiệu quả kĩ thuật của
các ngân hàng, từ đó đưa ra kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả kĩ thuật của hệ thống
NHTM Việt Nam 6
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề tài đưa ra các kiến nghị đối với Chính phủ và NHNN
nhằm hoàn thiện khung chính sách và điều hành hệ thống NHTM Việt Nam. Bên cạnh đó,
dưới góc độ vi mô, đề tài sẽ giúp các NHTM nâng cao hiệu quả hoạt động trong giai đoạn
hội nhập kinh tế quốc tế 6
5.Kết cấu của đề tài 6
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận; đề tài chia làm 3 chương: 6
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận 6
Chương 2: Thực trạng cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng và hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại Việt Nam 6
Chương 3: Kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam 6
CHƯƠNG 1 7
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
Đối với các nước trên thế giới, việc nghiên cứu đã được vận dụng nghiên cứu về mặt định
lượng từ rất lâu. Việc nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
hay hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất ở các nước phát triển và đang phát triển được
nhiều tác giả đề cập đến. Nhiều tác giả đã sử dụng DEA để phân tích sâu về mức độ hiệu
quả cũng như nguyên nhân dẫn đến sự phi hiệu quả của các doanh nghiệp như Pitt and Lee
(1981); Changanti and Damanpour (1991); Prada và cộng sự (1997), Deyoung và Nolle
(1996) 8
Trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chính, đặc biệt có khá nhiều các phân tích áp dụng phương

Gilbert and Wilson (2000) nghiên cứu các ngân hàng ở Hàn Quốc cũng sử dụng các
phương pháp tương tự. Chen & Pan (2012) đã điều tra trên 34 ngân hàng thương mại Đài
Loan giai đoạn 2005 – 2008, dựa trên các thổng số rủi ro tín dụng với phương pháp tiếp
cận bao dữ liệu. Nghiên cứu sử dụng giá trị trung bình rủi ro tín dụng (hiệu quả kĩ thuật
CR-TE) tại m—i ngân hàng kết hợp với chỉ số thu nhập trên m—i cổ phiếu (EPS) để phân
loại các NHTM thành 4 nhóm. Liu et.al (2007) sử dụng phương pháp DEA với đường biên
hiệu quả và đường biên phi hiệu quả kết hợp phương pháp TOPSIS nhằm đưa ra cách xếp
hạng dựa trên các tiêu chí này. Nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp này cho xếp hạng
15 công ty trong top 500 công ty toàn cầu 8
1.2. Tổng quan về ngân hàng thương mại 10
1.2.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại 10
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam có quy định: tổ chức tín dụng là doanh nghiệp
được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp
luật để hoạt động ngân hàng 10
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng
thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM). Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung
gian mà qua đó các nguồn tiền nhàn r—i trong xã hội được tập trung lại và h— trợ tài chính
cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động của mình
các ngân hàng còn cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của mình đáp ứng nhu cầu
của các thành phần kinh tế trong xã hội nhằm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng 10
1.2.2. Chức năng của ngân hàng thương mại 10
v
Trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu
là chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho
tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2)
các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các
khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại

nhờ thu, các loại thẻ…cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp
tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua
ngân hàng Trung ương hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Nhiều hình thức thanh
toán đã được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các
ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm
thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, biến
ngân hàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả. [15, tr.15-16] 12
1.3. Cơ sở lý luận về cấu trúc cạnh tranh ngành 12
1.3.1. Cơ sở lý luận về cấu trúc cạnh tranh ngành 12
M—i lực lượng này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác mà bản thân các yếu tố đó
cũng cần phải được nghiên cứu để tạo ra một bức tranh đầy đủ về sự cạnh tranh trong một
vi
ngành. Sự tác động qua lại giữa các lực lượng quyết định một ngành hấp dẫn như thế nào
đối với các doanh nghiệp ở trong đó. Thực tế, giá trị của mô hình 5 lực lượng không phải ở
ch— cung cấp những dự đoán cho m—i kiểu ngành mà ở ch— cung cấp cho các nhà quản lý
một danh mục đầy đủ có thể sử dụng để xác định những đặc điểm quan trọng nhất của sự
cạnh tranh trong ngành. Các đặc điểm này tạo ra xuất phát điểm để các doanh nghiệp có
thể xây dựng chiến lược cạnh tranh 13
Các yếu tố quyết định sức mạnh của người mua gồm: 18
1.3.3. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cấu trúc cạnh tranh ngành và hiệu quả tài chính 23
Hầu hết các nghiên cứu trong lĩnh vực này tập trung giải thích các lực lượng ảnh hưởng
đến hoạt động của ngành cũng như của các doanh nghiệp (Bain, 1951, Hall & Weiss, 1967;
Buzzell & Gale, 1987; Kmenta, 1986). Khoảng từ hơn nửa thế kỷ trước, có khá nhiều mô
hình lý thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa cạnh tranh và các nhân tố ngoại sinh ảnh
hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp (Kholi, Venkatraman & Grant, 1990; Martel,
1974; Chung, 2000). Các nghiên cứu này cũng ghi nhận các quan hệ kinh tế giữa các
ngành (Chamberlain, 1933; Bain, 1951, Buzzell, Gale & Sultan, 1975; Gale, 1972;
Shepherd, 1972; Buzzell & Gale, 1987, Jacobson & Aaker, 1985). Việc tìm kiếm mối quan
hệ này đã dẫn đến việc xem xét các yếu tố cấu trúc và kinh tế có tác động như thế nào đến
vị thế của một doanh nghiệp trên thị trường. Hướng nghiên cứu mà nhiều nhà nghiên cứu

và mới nổi cũng như bất ổn chính trị của nhiều nước. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
có nhiều xáo trộn, nền kinh tế Việt Nam không đạt được một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô theo
kế hoạch: GDP đạt khoảng 5,14%, mức thấp nhất kể từ năm 2000; tỷ lệ thâm hụt ngân sách
cao hơn con số kế hoạch 4,8%; tỷ lệ thất nghiệp, hàng tồn kho tăng cao và ngành ngân
hàng cũng không phải là một ngoại lệ. Với vai trò là trung gian tài chính đảm bảo cho nền
kinh tế một quốc gia hoạt động một cách nhịp nhàng, trong bối cảnh kinh tế như hiện nay,
hiệu quả hoạt động của ngân hàng không chỉ ảnh hưởng tới chính hệ thống ngân hàng mà
còn tác động tới nhiều ngành nghề khác của nền kinh tế. Do đó, theo đề án cơ cấu lại hệ
thống tổ chức tín dụng theo quyết định số 254/QĐ –TTg của Thủ tướng Chính phủ, các
ngân hàng phải không ngừng đổi mới để nâng cao năng lực của mình góp phần phát triển
của toàn bộ nền kinh tế. Việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
trong thời gian qua sẽ giúp chúng ta thấy được những tồn tại để hoạch định chính sách và
quản trị ngân hàng một cách hiệu quả hơn. Chương này sẽ đánh giá tổng quan chung về
ngành ngân hàng Việt Nam, phân tích cấu trúc cạnh tranh của ngành thông qua mô hình 5
lực lượng cạnh tranh của Michael Porter và sau đó, định lượng mối quan hệ giữa cấu trúc
cạnh tranh của ngành đến năng lực cạnh tranh của các NHTM (thông qua các biến số đo
lường hiệu quả) 40
2.1. Tổng quan về ngành ngân hàng Việt Nam 41
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng 41
Cùng với từng giai đoạn phát triển của đất nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng có
những bước chuyển biến phù hợp với tình hình kinh tế trong nước và thế giới. Vào giai
đoạn những năm 1988 trở về trước, hệ thống ngân hàng Việt Nam được tổ chức là hệ thống
ngân hàng một cấp gồm Ngân hàng Nhà nước và hệ thống chi nhánh từ trung ương đến địa
phương phân bổ theo địa giới hành chính. Trong giai đoạn này Ngân hàng Nhà nước vừa
đảm nhận chức năng quản lý nhà nước, vừa thực hiện chức năng kinh doanh của một ngân
hàng thương mại. Từ năm 1988 đến 1990 theo Nghị định 53 của Hội đồng Bộ trưởng đã
tách chức năng kinh doanh của Ngân hàng Nhà nước và trao cho các ngân hàng chuyên
doanh. Với mô hình tổ chức này các ngân hàng đã bắt đầu chú ý đến hiệu quả hoạt động và
tăng trưởng tín dụng. Thời điểm này hoạt động cho vay vốn lưu động đã chiếm khoảng
95% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế 41

chiều hướng gia tăng qua các năm, tuy nhiên đến năm 2012 do hiệu quả hoạt động của một
số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém buộc phải sáp nhập, hợp nhất dẫn đến số lượng
các ngân hàng thương mại cổ phần sụt giảm. Trong khi đó, sau khi được phép thành lập
ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã có 5 ngân hàng tham gia vào thị trường ngân hàng
Việt Nam. Điều đó khẳng định hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng khốc
liệt giữa các đối thủ trong ngành 42
Bảng 2.1 : Số lượng các ngân hàng thương mại qua các năm 43
Nguồn: Báo cáo Ngân hàng Nhà nước 43
Có thể thấy trước năm 2007, đây là giai đoạn mà các ngân hàng thương mại Việt Nam
tương đối phát triển. Đối với ngân hàng thương mại Nhà nước giai đoạn này đẩy nhanh
quá trình tái cơ cấu toàn diện theo đề án tái cơ cấu lại ngân hàng thương mại Nhà nước
được Chính phủ phê duyệt tháng 10/2001 nhằm cơ cấu lại bộ máy tổ chức, phân biệt chức
năng cho vay của ngân hàng chính sách với chức năng kinh doanh tiền tệ của ngân hàng
thương mại. Trong khi đó, ngân hàng thương mại cổ phần được củng cố và phát triển theo
hướng tăng cường năng lực quản lý tài chính, giải thể, sát nhập, hợp nhất để nâng cao hiệu
quả hoạt động. Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng các ngân hàng thương mại vẫn thể hiện
rõ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, từ năm 2008 trở đi do ảnh hưởng của
cuộc khủng khoảng toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng không tránh khỏi ảnh hưởng và
các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Có thể thấy, giai
đoạn này các ngân hàng thương mại đã có nhiều thay đổi trong hoạt động 43
2.1.2. Đặc điểm của hệ thống ngân hàng sau năm 2007 43
Đối với quy mô vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng là thước đo tỷ lệ an
toàn vốn tối thiểu cũng như tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Trong giai đoạn này, để đáp ứng chỉ
tiêu an toàn vốn theo thông lệ Basel II, ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các ngân hàng
thương mại tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng do đó các ngân hàng cũng được mở rộng
tương đối vốn chủ sở hữu. Đồ thị 2.1 cho thấy, từ năm 2008 vốn chủ sở hữu của các ngân
hàng tăng lên nhanh chóng. Nguyên nhân dẫn đến việc tăng lên nhanh chóng là do việc
chấp hành yêu cầu của ngân hàng Nhà nước thông qua nguồn thặng dư từ cổ phiếu và lợi
nhuận tích lũy trong giai đoạn tăng trưởng cao của lợi nhuận. Trong suốt giai đoạn từ 2008
– 2011 vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại đều tăng, nhưng đến năm 2012

Trước năm 2007 thị phần chủ yếu tập trung vào các ngân hàng thương mại Nhà nước thì từ
năm 2008 trở đi khoảng cách huy động vốn giữa các khối ngân hàng đã được thu hẹp. Đồ
thị 2.4 chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các NHTMCP và NHTMNN tăng
nhanh và khoảng cách được thu hẹp, thậm chí có giai đoạn tốc độ tăng trưởng của khối
NHTMCP cao hơn khối NHTMNN. Số dư huy động của NHTMCP đã vượt NHTMNN
vào năm 2011. Trong giai đoạn từ năm 2009 – 2011, huy động vốn của các NHTMCP nhờ
việc sử dụng công cụ lãi suất trong cạnh tranh huy động vốn nên tăng lên nhanh chóng.
Tuy nhiên, bước sang năm 2012 do NHNN áp dụng công cụ trần lãi suất đã ảnh hưởng tới
việc huy động vốn của các NHTMCP làm cho tốc độ tăng trưởng huy động vốn chững lại.
Lúc này nguồn vốn huy động từ dân cư có xu hướng chuyển sang các ngân hàng có uy tín
lâu năm. Bên cạnh đó, do một số tác động từ những tiêu cực liên quan đến các NHTMCP
càng làm dịch chuyến nguồn vốn huy động từ khối NHTMCP sang khối các NHTMNN.
Đối với khối ngân hàng nước ngoài, tốc độ tăng trưởng vốn huy động của các ngân hàng
này cũng tăng trong giai đoạn 2008 – 2011 mặc dù không cao so với các khối ngân hàng
còn lại, nhưng cũng có chiều hướng đi ngang khi bước sang năm 2012 theo xu hướng
chung của nền kinh tế. Có thể thấy, các NHTMCP đã có những bước tiến đáng kể trong
việc thay đổi phương thức hoạt động để có thể chiếm lĩnh được thị phần tăng khả năng thu
hút nguồn vốn từ khách hàng về phía mình 46
Đơn vị: tỷ đồng 47
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước 47
Về hoạt động tín dụng giữa các khối ngân hàng được phản ánh trong đồ thị 2.5. Trước năm
2008, thị phần tín dụng của các ngân hàng thuộc khối NHTMNN gấp khoảng 4 lần so với
khối các NHTMCP và 7 lần so với các Ngân hàng nước ngoài. Sang giai đoạn 2008 – 2012
x
khoảng cách này đã được thu hẹp lại. Trong những năm này các NHTMCP đã có những
định hướng phát triển thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, nhờ vậy mà tốc độ tăng tưởng tín
dụng tăng cao. Đặc biệt, năm 2009 – 2010 đã tạo ra tăng trưởng nóng dẫn đến lạm phát
năm 2011 tăng cao lên 18%. Điều này buộc ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt bằng đặt trần lãi suất huy động và hạn mức tăng trưởng tín dụng dẫn đến
tốc độ tăng trưởng tín dụng chững lại 47

hàng tồn kho gia tăng gây nợ xấu tăng theo. Cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
diễn ra đã tác động tới nền kinh tế của quốc gia và các doanh nghiệp nội tại, từ đó ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường 49
50
2.2. Những hạn chế của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 50
Trước năm 2007, chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của hệ thống ngân hàng Việt Nam
về cả quy mô và hiệu quả hoạt động. Sau khi gia nhập WTO môi trường và thể chế hoạt
động của NHTM Việt Nam có những chuyển biến tích cực để phù hợp trong môi trường
quốc tế. Tuy nhiên, việc gia nhập WTO các ngân hàng gặp nhiều thách thức trong cạnh
tranh, bên cạnh đó giai đoạn này cũng chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, từ
xi
đó có thể thấy những bất cập của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong việc chống đỡ của sự
biến động của môi trường bên trong và bên ngoài 50
2.2.1. Cơ chế và thể chế còn nhiều hạn chế 50
Ngân hàng Nhà nước với vai trò là ngân hàng đứng đầu trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam. Điều này thể hiện vai trò to lớn trong việc kích thích, kiểm soát toàn bộ hệ thống
ngân hàng. Nhưng vai trò của Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự đủ mạnh để thức hiện
chức năng, nhiêm vụ của mình. Hay nói cách khác NHNN chưa có được tính độc lập trong
mối quan hệ với Chính phủ để có được vị thế trong xây dựng và vận hành chính sách tiền
tệ một cách hiệu quả, cũng như không đảm bảo thực hiện được một số chính sách với ngân
hàng thương mại 50
Vấn đề tồn tại của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua là tình
hình nợ xấu ở mức cao ảnh hưởng tới hoạt động của toàn hệ thống. Để tháo gỡ vấn đề nợ
xấu ngoài những công cụ h— trợ cần thiết phải xem xét các thể chế có tính ràng buộc để
tháo gỡ các rào cản tìm kiếm các nguồn lực từ bên ngoài. Theo quyết định số 88/2009/QĐ
– Ttg ban hành kèm Quy chế góp vốn thì những khống chế về mức sở hữu 30% cổ phần
đối với nhà đầu tư ngoại đã được xóa bỏ theo cam kết với tổ chức thương mại thế giới
nhưng vẫn còn ngoại lệ đối với một số trường hợp. Tuy nhiên, có thể thấy mức khống chế
này còn hạn chế nhiều các nguồn vốn ngoại trong giai đoạn các tổ chức tín dụng Việt Nam
đang cần vốn để xử lý các vấn đề nội tại 51

biến đổi không ngừng. Điều này tác động tới ngân hàng và phản ánh năng lực quản trị của
các ngân hàng chưa cao do đó khó có khả năng chống chọi với các biến động kinh tế.
Trong giai đoạn này có thể thấy chất lượng tín dụng của các ngân hàng giảm sút thể hiện ở
các khoản nợ xấu gia tăng (Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ từ 2,17% năm 2008 lên 6,0% năm
2012). Việc nâng cao vai trò của Hội đồng quản trị trong việc điều hành và tăng cường sự
kiểm soát độc lập của ngân hàng thương mại Nhà nước thông qua Nghị định 59/2009/NĐ –
CP về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thương mại đã giúp các ngân hàng thương mại
nâng phần nào cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, vấn đề nội tại trong quản trị ngân hàng
chưa được quan tâm đúng mức như quản trị nguồn nhân lực, quản trị rủi ro, quản trị
thương hiệu, quản trị khách hàng…Sở dĩ việc quan tâm đến quản trị của ngân hàng không
được đúng mức cũng là do nền tảng công nghệ ngân hàng không đồng bộ từ đó dẫn đến
thông tin không kịp thời, gây hao phí về thời gian và độ chính xác không cao 52
2.2.4. Trình độ cán bộ nhân viên ngân hàng chưa cao 53
Mặc dù trong những năm vừa qua các ngân hàng đã quan tâm nhiều hơn tới trình độ của
nhân viên để đáp ứng tới xu hướng phát triển trong giai đoạn hội nhập. Việc tăng cường
kiểm tra trình độ chuyên môn và nâng cao đào tạo năng lực từng năm. Tuy nhiên, với tốc
độ phát triển ngày càng nhanh của hoạt động ngân hàng như: công nghệ ngày một hiện đại,
việc phát triển các sản phẩm dịch vụ được mở rộng hơn hay tiếp cận với các tổ chức nước
ngoài gia tăng đã đòi hỏi cán bộ nhân viên phải có trình độ nhất định. Nhưng việc đáp ứng
nhu cầu của nguồn nhân lực các ngân hàng chưa thực sự đồng đều dẫn gia tăng chi phí từ
đó ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Ngoài ra, trình độ cán bộ công
nhân viên không chỉ thể hiện ở trình độ chuyên môn mà còn thể hiện ở thái độ, kinh
nghiệm, kiến thức khi tiếp xúc với khách hàng vì nó có khả năng tăng hoặc giảm chất
lượng sản phẩm dịch vụ khi cung ứng cho khách hàng. Đối với văn hóa kinh doanh của
ngân hàng còn yếu kém từ đó tác động tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng 53
2.2.5. Năng lực cạnh tranh còn yếu 53
Sau khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã gặt hái được nhiều
thành công tuy nhiên cũng gặp phải nhiều khó khăn và thách thức. Đối với ngành ngân
hàng, cơ hội phát triển là rất cao nhưng cũng không ít trở ngại buộc các ngân hàng phải
tăng cường năng lực của mình để cạnh tranh với các đối thủ. Tiến trình hội nhập tài chính

Sự khác biệt về sản phẩm và chi phí chuyển đổi của khách hàng: Có thể thấy đối với các
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là tương tự nhau vì vậy khả năng thay thế là rất cao dẫn
đến cầu về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là tương đối co giãn. Do đó, khi có sự biến
động nhỏ về giá sẽ dẫn đến lượng cầu thay đổi mạnh. Đơn cử như đối với hoạt động thu
hút vốn của ngân hàng có nhiều biến động cùng với sự thay đổi của lãi suất ngân hàng.
Năm 2008 có thể coi là năm của lãi suất khi lãi suất biến động trái chiều với một biên độ
lớn chỉ trong vòng 12 tháng. Diễn biến lãi suất trong năm 2008 gồm 2 giai đoạn chính:
cuộc đua lãi suất của các ngân hàng trong nửa đầu năm 2008 và một cuộc đua khác theo
chiều hướng ngược lại, đua giảm lãi suất dù kém quyết liệt hơn. Từ mức lãi suất 8,5% vào
tháng 1 đã tăng lên 18,5% vào tháng 6. Có một làn sóng ồ ạt người dân rút tiền của ngân
hàng có lãi suất thấp và chuyển sang ngân hàng có lãi suất cao. 6 tháng cuối năm các ngân
hàng lại vào cuộc đua mới với lãi suất giảm mạnh. Việc điều chỉnh lãi suất huy động giảm
mạnh cung dẫn đến lãi suất cho vay cũng giảm theo. Thêm vào đó lượng vốn huy động từ
đầu năm khá lớn nên các ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay để kích thích người tiêu
dùng trong hoạt động sản xuất cũng như cho các doanh nghiệp vay để đầu tư. Bên cạnh đó,
chi phí chuyển đổi của khách hàng là không cao không tạo rào cản chuyển đổi của khách
hàng sang các ngân hàng khác. Từ đó có thể thấy việc cạnh tranh của các ngân hàng ngày
càng gia tăng 54
Hàng rào rút khỏi ngành cao: Bắt đầu từ năm 2004 các ngân hàng hoạch định mở rộng
mạng lưới chi nhánh là một trong những ưu tiên hàng đầu của các NHTM. Việc mở rộng
mạng lưới cho thấy chi phí mua sắm hay thuê mướn mặt bằng đều khá cao so với ngành
nghề kinh doanh khác. Thêm vào đó đặc thù của ngân hàng khi mở rộng các điểm giao
dịch là các địa điểm phải nằm ở những vị trí dễ giao dịch, dễ quảng bá thương hiệu nên chi
phí thường cao. Tại m—i điểm giao dịch dù lớn hay nhỏ đều phải bỏ chi phí tương tự: đầu
tư trụ sở, đầu tư tài sản cố định, xe cộ, máy móc thiết bị, quảng bá, điện nước,…Đi kèm
với chi phí điểm giao dịch là chi phí về nhân sự. Đây là khoản chi phí rất lớn của các ngân
hàng thương mại. Việc cạnh tranh của các ngân hàng sẽ có xu hướng gia tăng khi do chi
phí cao khi rút lui khỏi ngành 55
2.3.2. Mối đe dọa của những người gia nhập tiềm năng 55
Chính sách của Chính phủ là rào cản đầu tiên đối với việc hình thành các ngân hàng mới.

Những bất lợi về chi phí mà không phụ thuộc về quy mô: các ngân hàng thương mại hiện
tại có những lợi thế về chi phí do vậy các đối thủ tiềm năng của ngân hàng khó có thể sao
chép. Các lợi thế này gồm có: Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch nhiều tập trung khu
đông dân cư; duy trì được mối quan hệ với khách hàng truyền thống; được hưởng lợi từ sự
h— trợ của Chính phủ; bản quyền về công nghệ sản phẩm… Từ những lợi thế này, các đối
thủ tiềm năng muốn gia nhập sẽ bị rào cản về chi phí cao do đó sẽ phải cân nhắc khi cạnh
tranh với các đối thủ trong ngành ngân hàng 57
2.3.3. Mối đe dọa của các sản phẩm thay thế: 57
Với xu thế chung thị trường tài chính ngày càng phát triển, đồng hành với sự phát triển sẽ
xuất hiện ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ mới đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Có thể thấy, trong giai đoạn hiện nay thay vì gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất theo
gói truyền thống, khách hàng có thể tối đa hóa nguồn tiền gửi thông qua nhiều hình thức
khác nhau. Các sản phẩm thay thế bất hợp pháp như: các dịch vụ cho vay nhỏ lẻ, cho vay
nặng lãi và chơi hụi. Hoặc các kênh đầu tư như: đầu tư trên thị trường chứng khoán; đầu tư
trên thị trường vàng; đầu tư bất động sản; tham gia các quỹ đầu tư…Đối với đối tượng cần
vay vốn cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn thông qua các kênh huy động khác ngoài ngân
hàng như: vay từ các dịch vụ nhỏ lẻ ngoài ngân hàng; phát hành cổ phiếu; trái phiếu trên
thị trường chứng khoán; thuê mua tài chính…Các sản phẩm, dịch vụ thay thế ngày càng
hấp dẫn, giá cả cạnh tranh dẫn đến việc cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ngày
càng trở nên gay gắt 57
2.3.4. Sức mạnh người mua 58
xv
Trong lĩnh vực ngân hàng, đối tượng mua hay sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
bao gồm các cá nhân và tổ chức. Đối với dân cư: tham gia vào thị trường tài chính thông
qua việc sử dụng hiệu quả hơn lợi ích từ sự phát triển của thị trường sản phẩm dịch vụ
ngân hàng như các hình thức tiền gửi, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, tín
dụng tiêu dùng, tín dụng trả góp, vay vốn thành lập doanh nghiệp, vay đi du học… Đối với
các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế xã hội: đây là đối tượng quan trọng trong việc cầu về
sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ của các đối tượng này sẽ
ngày càng gia tăng cùng với tốc độ phát triển kinh tế. Vì vậy, sức mạnh của đối tượng này

đối tượng cung ứng mặt bằng sẽ có sức mạnh tương đối đối với ngân hàng trong việc cung
ứng mặt bằng 59
Trong quá trình toàn cầu hóa, yếu tố thời gian và tính tiện ích của các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đặc biệt quan trọng trong việc thu hút khách hàng tăng doanh thu và giảm chi
phí của các ngân hàng. Do đó, để có thể tồn tại và nâng hiệu quả trong hoạt động các ngân
hàng phải hiện đai hóa hoạt động của ngân hàng. Quá trình hiện đại hóa phải dựa trên nền
tảng công nghệ thông tin để đáp ứng tối đa hiệu quả hoạt động. Trên thị trường có nhiều
đối tượng cung ứng nền tảng công nghệ thông tin cho các ngân hàng, tuy nhiên đối với
công nghệ thông tin ứng dụng trong ngân hàng đòi hỏi tính hiện đại và độ an toàn cao do
xvi
đó các ngân hàng thường tiếp cận với các nhà cung ứng lớn có uy tín trên thị trường. Do
đó, đối với đối tượng cung ứng này có sức mạnh tương đối với các ngân hàng thương mại
Việt Nam. Chẳng hạn như đối với LienVietPostBank ngay từ những ngày đầu chuẩn bị
thành lập đã xây dựng một chiến lược đầu tư công nghệ bài bản để hướng tới trở thành
ngân hàng số 1 Việt Nam về hiện đại hóa. Ngân hàng LienVietPostBank ứng dụng Ngân
hàng lõi (CoreBanking) Flexcube do nhà cung cấp giải pháp công nghệ thông tin lĩnh vực
dịch vụ tài chính hàng đầu thế giới I-Flex Solutions (nay là Oracle Financial Services
Limited). Flexcube là giải pháp Ngân hàng được ưa chuộng nhất trên thế giới theo bảng
xếp hạng của IBS Sales league Table của International Banking System trong 4 năm liền
(2002 -2005). Với giải pháp CoreBanking tích hợp toàn diện, ngân hàng này đáp ứng được
toàn diện nhu cầu dịch vụ Tài chính – Ngân hàng hiện đại. Hoặc như ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Á ký hợp đồng với tập đoàn GRG mua 250 bộ máy ATM đời mới
H68N cho phép nạp tiền. Nhận thấy ứng dụng khoa học công nghệ trong ngân hàng đặc
biệt quan trọng, các ngân hàng đã không ngừng nâng cấp hệ thống ngân hàng điện tử.
Nhiều ngân hàng đã trở thành thành viên chính thức của Visa và MasterCard. Có thể thấy,
mức độ tập trung của các nhà cung ứng dẫn đến xu hướng tạo cho họ sức mạnh từ đó tác
động tới các NHTM Việt Nam 59
2.4. Cấu trúc ngành ngân hàng và hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại 60
Từ khung cơ sở lý luận, phần này sẽ định lượng mối quan hệ giữa đặc điểm cấu trúc ngành
ngân hàng (dựa trên mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Micheal Porter) và năng lực

74
Đồ thị 2.7: Mối quan hệ giữa thị phần và hiệu quả kỹ thuật năm 2012 74
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa trên BCTN của các NHTM 74
75
Đồ thị 2.8: Mối quan hệ giữa VCSH, TTS và hiệu quả kỹ thuật năm 2012 75
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa trên BCTN của các NHTM 75
Bên cạnh đó với giả thuyết 4 cũng có thể thấy được vốn chủ sở hữu, tổng tài sản của các
ngân hàng ảnh hưởng dương tới hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam 75
75
Đồ thị 2.9: Mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và tăng trưởng năm 2012 75
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa trên BCTN của các NHTM 75
Giả thuyết 2 chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tăng
trưởng tương đối của ngân hàng. Điều này cũng đã được thể hiện trên mô hình kiểm định
phần trên 76
76
Đồ thị 3.10: Mối quan hệ giữa tăng trưởng tương đối, lợi nhuận và hiệu quả năm 2012 76
Nguồn: Nhóm tác giả tính toán dựa trên BCTN của các NHTM 76
Cũng có thể thấy, đối với đồ thị thì tốc độ tăng trưởng tương đối tăng sẽ tác động làm tăng
lợi nhuận và hiệu quả của các ngân hàng thương mại 76
Kết quả tính toán của các năm trước cũng đưa ra xu hướng biến động tương tự năm 2012
(phụ lục) 76
Tóm lại, việc kiểm định các giả thuyết đề ra để chỉ ra được mối tương quan giữa các biến
tác động để từ đó chỉ ra được phương hướng điều chỉnh góp phần tìm kiếm mục tiêu tối ưu
của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn tới 76
Kết luận: Chương 2 đã khái quát tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam trong giai đoạn 2008 – 2012. Nhìn chung, cùng với xu thế chung của của khủng
hoảng kinh tế thế giới hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng bị ảnh
hưởng. Điều đó thể hiện rõ nét trong sự thay đổi của quy mô vốn chủ sở hữu, tổng tài sản
và hiệu quả của các ngân hàng. Tuy nhiên, trong đó vẫn có những ngân hàng đạt được hiệu
quả trong hoạt động thể hiện khả năng chống đỡ trước khủng hoảng. Từ đó chỉ ra những

là cơ hội để tăng đầu tư của tư nhân, thực hiện việc chuyển đổi mô hình phát triển, cơ cấu
lại vốn đầu tư xã hội, nhằm phát triển đất nước một cách bền vững. Để bảo đảm ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, ngăn chặn suy giảm kinh tế và thâm hụt ngân sách, tạo
việc làm, chúng ta cần xây dựng và duy trì mối quan hệ hợp lý giữa đầu tư công và đầu tư
tư nhân.Chẳng hạn, sự gắn kết giữa cắt giảm đầu tư công với thúc đẩy đầu tư tư nhân chưa
được xem xét và đặt trong mối quan hệ tương tác biện chứng, trong đó cắt giảm đầu tư
công là quá trình thực hiện trong ngắn hạn, trực tiếp và trực diện, còn thúc đẩy đầu tư tư
nhân cần xem xét trong một thời gian dài với các biện pháp tác động gián tiếp cùng với cơ
chế, chính sách đồng bộ. Bên cạnh đó, Chính phủ cần tăng cường công tác thanh tra, giám
sát để giảm thiểu sự thất thoát lãng phí, tối thiểu hóa chi phí quản lý, ngăn ngừa tham
nhũng và tiêu cực 83
Phương pháp thứ hai là chuyển nợ quá hạn, nợ xấu thành cổ phần. Đồng thời, chuyển vị
thế các ngân hàng đang là chủ nợ thành cổ đông lớn nắm đa số cổ phần nếu nhận thấy sau
tái cấu trúc doanh nghiệp có khả năng tồn tại và phát triển. Để các điều kiện cơ bản để tiến
trình chứng khoán hóa được thành công, trong vai trò đồng chủ nợ các ngân hàng cần tích
cực nâng cao tính cộng đồng hơn nữa, phối hợp với doanh nghiệp để xử lý nợ xấu. Đồng
thời, các ngân hàng nên sử dụng các công ty con của mình như công ty quản lý mua bán
nợ, công ty chứng khoán hay công ty quản lý quỹ để tham gia chủ động vào tiến trình
chứng khoán hóa 83
3.1.2. Giải pháp từ Ngân hàng Nhà nước 84
Một là, Ngân hàng Nhà nước cần tích cực, chủ động giám sát hoạt động của hệ thống theo
nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế và không can thiệp sâu bằng các mệnh lệnh hành chính.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực thể chế, rà soát các cơ chế chính sách theo hướng thị
trường, tạo môi trường lành mạnh cho hệ thống ngân hàng. Như là: Xây dựng khung pháp
lý về thành lập ngân hàng theo hướng một cách chặt chẽ, hợp lý; sửa đổi; cho phép ngân
hàng được phép tịch biên tài sản; nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực về phân loại nợ và
trích dự phòng rủi ro theo chuẩn quốc tế; rà soát vốn thực có của các NHTM để giám sát tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu, thực hiện quản trị rủi ro theo Basel II 84
Trong đó, các văn bản pháp luật và các công cụ phải phù hợp với chuẩn mực quốc tế vừa
phải phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam để các NHTM chủ động thực hiện chính

quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc ngân hàng Nhà nước nhằm nâng cao an
toàn cho toàn hệ thống 86
3.2. Nhóm kiến nghị đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam 86
Trong nghiên cứu của chương trước có thể thấy, các ngân hàng thương mại Việt Nam sử
dụng các nguồn lực còn nhiều lãng phí từ đó hiệu quả hoạt động của các ngân hàng chưa
đạt tối ưu 86
Như vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động từ đó đẩy cao năng lực cạnh tranh của các ngân
hàng thương mại Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế cần đẩy mạnh việc thay
đổi theo chiều sâu hoạt động của các ngân hàng 86
3.2.1. Phát triển theo định hướng thị trường mục tiêu 87
3.2.3. Tăng cường năng lực tài chính và tự chủ tài chính 88
Năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam không cao so với các nước
trong khu vực. Do vậy, để đảm bảo các ngân hàng thương mại có đủ năng lực tài chính đáp
ứng nhu cầu mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả theo chuẩn mực
quốc tế thì các ngân hàng phải xử lý dứt điểm nợ xấu và lành mạnh hóa báo cáo tài chính.
Các ngân hàng thương mại cần đảm bảo tăng cường mức vốn chủ sở hữu phù hợp với quy
mô tài sản trên cơ sở thực hiện tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu từ mức trên 12%, tỷ lệ nợ quá
hạn dưới 3% và các chuẩn mực theo Basel II và III. Đối với các ngân hàng, uy tín là đặc
biệt quan trọng do đó cần phải xây dựng lòng tin từ phía khách hàng để thu hút nguồn vốn
xx
dưới nhiều hình thức khác nhau. NHNN ban hành thông tư 07 về kiểm soát đặc biệt đối với
các ngân hàng. Thông tư này nêu rõ NHNN sẽ công khai danh tính đơn vị thuộc diện kiểm
soát đặc biệt do mất khả năng chi trả, nguy cơ mất an toàn hệ thống. Do vậy với các ngân
hàng yếu kém cần chủ động đẩy mạnh liên doanh, liên kết trong hệ thống ngân hàng để tận
dụng nguồn vốn, trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý từ các nước tiên tiến trên thế giới.
Tuy nhiên, trong việc lựa chọn các đối tác chiến lược cần lựa chọn các đối tác phù hợp với
mục tiêu của từng ngân hàng. Cùng với mục tiêu an toàn, hiệu quả cần xem xét tiến hành
sát nhập các ngân hàng yếu kém để nâng cao vị thế đủ năng lực cạnh tranh trong môi
trường hội nhập quốc tế 88
Các ngân hàng thương mại phải tự chủ tài chính và hoạt động kinh doanh để phát huy khả

hàng có thể gửi niềm tin vào ngân hàng. Không những vậy việc xây dựng môi trường hoạt
động có văn hóa còn là động lực giữ chân nhân viên, thúc đẩy năng suất lao động, giảm
thiểu chi phí vô ích của các ngân hàng 90
3.2.5. Phát triển đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ theo hướng phát triển chiều sâu 90
Trong xu hướng hiện đại hóa ngân hàng, sự phát triển của sản phẩm dịch vụ ngân hàng
ngày càng tích cực. Tuy nhiên vẫn còn manh mún và chưa đồng bộ, thêm vào đó việc tiến
xxi
tới phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt buộc phải có chính sách phát triển
thị trường thẻ để tạo tiện ích thu hút khách hàng 90
Để hoàn thiện thị trường thẻ cần phải tiến hành giải quyết các vấn đề sau: 90
PHẦN KẾT LUẬN 94
Phụ lục 3: Lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng thương mại Việt Nam 2008 -2012 103
Phụ lục 4 : ROE của các ngân hàng thương mại Việt Nam 2008 – 2012 105
Phụ lục 5: Mối quan hệ Tăng trưởng tương đối, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, thị phần và
hiệu quả 107
107
107
108
108
109
109
110
110
111
111
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên tiếng Việt
ABBank Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam

CIEM Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế
CONS Không đổi theo quy mô
DEA Phương pháp phân tích bao dữ liệu
DRS Giảm theo quy mô
EPS Hệ số thu nhập/cổ phiếu
GDP Tổng sản phẩm trong nước
IRS Tăng theo quy mô
NHLD Ngân hàng liên doanh
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
NIM Thu lãi biên ròng
NOM Thu ngoài lãi biên ròng
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PE Hiệu quả quy mô.
ROA Thu nhập ròng/ Tổng tài sản
ROE Thu nhập ròng/ Vốn chủ sở hữu
xxiii
Tên viết tắt Tên tiếng Việt
SE Hiệu quả kỹ thuật thuần túy.
SFA Phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên
TCTD Tổ chức tín dụng
TDND Tín dụng nhân dân
TE Tổng hiệu quả kỹ thuật.
TFP Chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp
TNHĐB Thu nhập hoạt động biên
xxiv
DANH MỤC CÁC BẢNG

cạnh tranh ngành ngân hàng tác động tới hiệu quả tài chính 2
Nghiên cứu một cách khoa học cơ sở lý luận về lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành ngân
hàng và lý thuyết năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở đó xây dựng mối quan hệ giữa cấu trúc
cạnh tranh ngành ngân hàng tác động tới hiệu quả tài chính 2
Dựa trên mô hình lý thuyết phân tích thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam và
phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân
hàng 2
Dựa trên mô hình lý thuyết phân tích thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam và
phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân
hàng 2
Từ đó, đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.2
Từ đó, đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam.2
Để có thể đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, đề tài này cần trả lời được các câu hỏi
nghiên cứu cụ thể sau đây: 2
xxv


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status