BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐOÀN VIỆT DŨNG
LÝ THUYẾT CẤU TRÚC CẠNH TRANH NGÀNH
VỚI VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Kinh tế học ( Kinh tế Vi mô)
Mã số: 62.31.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS PHẠM VĂN MINH
2. PGS.TS TÔ TRUNG THÀNH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận án xin trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo và các thầy cô giáo
Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Khoa Kinh tế học, cán bộ Viện Sau đại học của
trường. Tác giả đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới tập thể
giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Phạm Văn Minh và PGS.TS. Tô Trung Thành đã
nhiệt tình hướng dẫn và ủng hộ tác giả hoàn thành luận án.
Tác giả xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và những người thân trong gia đình
đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và luôn động viên tác giả trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành bản luận án này.
Xin trân trọng cảm ơn.
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả
Đoàn Việt Dũng
tiêu đóng góp một phần nhỏ trong việc nghiên cứu cấu trúc cạnh tranh ngành có ảnh hưởng
như thế nào tới hiệu quả tài chính, cũng như năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương
mại Việt Nam. Thông qua nghiên cứu này giúp các ngân hàng thương mại có cái nhìn tổng
quan nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để tăng khả năng cạnh tranh trong môi trường
kinh tế mở 2
1.2.Mục đích, nội dung, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án 2
1.2.1.Mục đích nghiên cứu của luận án 2
Nghiên cứu một cách khoa học cơ sở lý luận về lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành ngân
hàng và lý thuyết năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở đó xây dựng mối quan hệ giữa cấu trúc
cạnh tranh ngành ngân hàng tác động tới năng lực cạnh tranh 2
Dựa trên mô hình lý thuyết phân tích thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam và
phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các ngân
hàng 2
Từ đó, đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam.
2
Để có thể đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận án này cần trả lời được các câu
hỏi nghiên cứu cụ thể sau đây: 3
iv
NHTM Việt Nam thuộc cấu trúc thị trường nào? 3
Những nhân tố nào quyết định tới cấu trúc cạnh tranh ngành và thông qua đó tác động tới
hiệu quả tài chính của NHTM Việt Nam? 3
Cần làm rõ các giả thuyết nghiên cứu sau để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên: 3
Có mối quan hệ cùng chiều giữa thị phần và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương
mại 3
1.2.2.Nội dung nghiên cứu 3
Luận án bao gồm các nội dung sau: 3
Khái quát lý thuyết về cấu trúc cạnh tranh ngành và năng lực cạnh tranh của các NHTM
Việt Nam 3
Nghiên cứu tổng quan về đặc điểm của các NHTM Việt Nam và năng lực cạnh tranh tác
động tới hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 - 2012. 3
năm 2012 còn 6,81%), cán cân thương mại thâm hụt lớn, thị trường tài chính trong nước và
quốc tế diễn biến phức tạp, lãi suất, tỉ giá, giá vàng biến động mạnh Trong giai đoạn này,
nền kinh tế trong nước chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu, bên cạnh đó vấn đề lạm phát cao và suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
trong nước. Đối với hệ thống ngân hàng với tư cách là trung gian tài chính nên cũng chịu
v
sự tác động, môi trường kinh doanh và hoạt động gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng
tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Trong giai đoạn
2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng
nợ xấu bình quân 51%, đến năm 2012 tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng đạt 8,91%. Có thể
nói giai đoạn 2008-2012 là giai đoạn đầy khó khăn và thách thức, đòi hỏi các ngân hàng
phải có một nội lực mạnh mẽ, phản ứng nhanh nhạy trước diễn biến phức tạp của tình hình
kinh tế, đồng thời không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh, năng lực cạnh tranh để có
thể tồn tại và phát triển trước sự sàng lọc ngày càng khắt khe của thị trường tài chính trong
thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, trong giai đọa này tốc độ tăng trưởng hệ thống
ngân hàng là tương đối nhanh nhưng sự tăng trưởng về số lượng không gắn liền với một
cấu trúc hợp lí và chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng tăng trưởng
nhanh, quy mô tín dụng so với GDP tăng nhanh làm cho hệ thống ngân hàng dễ bị tổn
thương từ những sự thay đổi bất lợi của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của các NHTM
gặp nhiều bất cập, từ đó phải có cái nhìn toàn diện hơn nữa về hệ thống NHTM. Hơn nữa,
nguồn số liệu của thời kỳ nghiên cứu này bảo đảm tính đồng bộ hơn, đầy đủ hơn, có độ tin
cậy cao hơn, cập nhật và phản ánh tốt việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTMVN
ở Việt Nam 4
Trong luận án này, do đặc thù của ngành ngân hàng là một tổ chức tài chính quan trọng của
nền kinh tế nên tác giả chia các NHTM thành 2 nhóm theo chủ sở hữu 5
Nhóm 1: các Ngân hàng thương mại Nhà nước 5
Nhóm 2: các Ngân hàng thương mại cổ phần 5
1.3. Phương pháp nghiên cứu và số liệu 5
Luận án nghiên cứu cấu trúc ngành tác động tới năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt
Nam, do vậy để phù hợp với nội dung và mục đích của luận án đề ra ngoài phương pháp
1.5. Kết cấu của luận án 6
Chương 1: Mở đầu 7
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận 7
Chương 3: Thực trạng cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng và hiệu quả hoạt động của các
ngân hàng thương mại Việt Nam 7
Chương 4: Kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt
Nam 7
Phần kết luận 7
CHƯƠNG 2 8
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 8
Đối với các nước trên thế giới, việc nghiên cứu đã được vận dụng nghiên cứu về mặt định
lượng từ rất lâu. Việc nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối
hay hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất ở các nước phát triển và đang phát triển được
nhiều tác giả đề cập đến. Nhiều tác giả đã sử dụng DEA để phân tích sâu về mức độ hiệu
quả cũng như nguyên nhân dẫn đến sự phi hiệu quả của các doanh nghiệp như Pitt and Lee
(1981); Changanti and Damanpour (1991); Prada và cộng sự (1997), Deyoung và Nolle
(1996) 9
Trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chính, đặc biệt có khá nhiều các phân tích áp dụng phương
pháp DEA cho khu vực Bắc Mỹ chẳng hạn như Miller và Noulas (1996), Berger và Mester
(2001). Kết quả nghiên cứu thu được từ khu vực này có nhiều nét tương đồng dù các
nghiên cứu có cách tiếp cận thời gian và số liệu khác nhau. Điều này có thể lý giải bởi cơ
chế hoạt động của các ngân hàng Bắc Mỹ có sự tương đồng; lợi nhuận ngân hàng không có
nhiều biến động và ít cơ hội gia tăng lợi nhuận từ việc cạnh tranh với các đối thủ khác. Hay
Alam (2001) và Mukherjee et.al (2001) sử dụng Malmquist để nghiên cứu các ngân hàng
thương mại Hoa Kỳ trong những năm 1980. Tương tự như vậy, DEA cũng được sử dụng
để rà soát hiệu quả trong lĩnh lực ngân hàng của cá quốc gia thuộc của Cộng đồng kinh tế
châu Âu. Nhiều người cho rằng, việc đánh giá các ngân hàng ở châu Âu sẽ thu được mức
chênh lệch hiệu quả rất lớn, lí do ở khác biệt cấu trúc và qui mô ngân hàng. Phân tích của
Casu và Molyneux (2000) cho thấy rằng: qua các năm, có một cải thiện nhỏ trong hiệu quả
ngân hàng nhưng sự khác biệt xuất phát từ tiềm lực kinh tế của quốc gia khác nhau vẫn dẫn
được thành lập theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp
luật để hoạt động ngân hàng 11
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngân hàng
thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân hàng
và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính
phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM). Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung
gian mà qua đó các nguồn tiền nhàn r¥i trong xã hội được tập trung lại và h¥ trợ tài chính
cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động của mình
các ngân hàng còn cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng của mình đáp ứng nhu cầu
của các thành phần kinh tế trong xã hội nhằm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng 11
2.2.2. Chức năng của ngân hàng thương mại 11
Trung gian tài chính: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu
là chuyển tiền tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho
tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2)
các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các
khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Sự tồn tại hai loại
cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền chuyển từ
nhóm (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực
tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm này. Nếu dòng tiền dòng tiền di chuyển với
điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì
đó là quan hệ tín dụng. Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát hoặc hùn vốn. Tuy nhiên,
quan hệ trực tiếp giữa hai nhóm bị giới hạn do sự không phù hợp về qui mô, thời gian,
không gian…Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trung
gian tài chính. Ngân hàng thương mại chính là một định chế tài chính trung gian thực hiện
chức năng này. [8, tr.13-14] 11
Tạo phương tiện thanh toán: Tiền có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh
toán. Các ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại nhưng các ngân hàng tạo phương tiện
thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát
viii
đối với các doanh nghiệp ở trong đó. Thực tế, giá trị của mô hình 5 lực lượng không phải ở
ch¥ cung cấp những dự đoán cho m¥i kiểu ngành mà ở ch¥ cung cấp cho các nhà quản lý
một danh mục đầy đủ có thể sử dụng để xác định những đặc điểm quan trọng nhất của sự
cạnh tranh trong ngành. Các đặc điểm này tạo ra xuất phát điểm để các doanh nghiệp có
thể xây dựng chiến lược cạnh tranh 14
Các yếu tố quyết định sức mạnh của người mua gồm: 19
2.3.2. Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 22
2.3.2.1. Các khái niệm về năng lực cạnh tranh 22
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay có rất nhiều quan điểm khác
nhau. Dưới đây là một số cách tiếp cận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 22
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu
lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng
lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi”
của các doanh nghiệp. Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của
Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước
như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế). Cách quan niệm như vậy
tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách
ix
quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng
lực kinh doanh của doanh nghiệp 22
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của
doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa:
năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Ủy
ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng
lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định
lượng 22
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu
nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh
Thương mại Liên bang Mỹ (FTC) đã chỉ ra rằng các ảnh hưởng của cấu trúc thị trường là
những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận của một doanh nghiệp, trong khi
các yếu tố hành vi của doanh nghiệp như chiến lược chỉ chiếm một phần nhỏ trong biến
động lợi nhuận. Trong một nghiên cứu gần đây, McGahan và Porter (1997) cho thấy các
tác động của hành vi doanh nghiệp chiếm 32% trong tổng số biến động về lợi nhuận, trong
x
khi tổng các tác động của cấu trúc thị trường tương ứng với 19% biến động lợi nhuận của
các doanh nghiệp. Điều này hàm ý rằng ngay cả khi các doanh nghiệp ở trong cùng một
ngành, các đặc tính về nguồn lực của họ dẫn đến các kết quả hoạt động khác nhau
(Schmalensee, 1989). Những nghiên cứu này đều cho rằng để hiểu đúng về sự cạnh tranh
trong một ngành, điều quan trọng là phải xem xét cả ảnh hưởng ở cấp độ thị trường như
tăng trưởng kinh tế vĩ mô, cũng như ảnh hưởng của các yếu tố cấu trúc thị trường mà có
tác động đến các doanh nghiệp (Jacobson, 1988) 35
Để có thể phân tích một cách rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu cạnh tranh của một
ngành cũng như tác động của chúng đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp trong
ngành và năng lực cạnh tranh, cần phải xem xét một cách cụ thể từng nhân tố - hàng rào
gia nhập thị trường, sự cạnh tranh, tăng trưởng và thị phần; đồng thời xây dựng các giả
thuyết nghiên cứu tương ứng với từng nhân tố 36
2.3.4.1. Hàng rào gia nhập 36
CHƯƠNG 3 50
THỰC TRẠNG CẤU TRÚC CẠNH TRANH NGÀNH 50
NGÂN HÀNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC 50
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 50
Đến thời điểm năm 2012 kinh tế thế giới vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn do cuộc
khủng hoảng nợ công Châu âu, suy thoái kéo dài của cả nền kinh tế các quốc gia phát triển
và mới nổi cũng như bất ổn chính trị của nhiều nước. Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu
có nhiều xáo trộn, nền kinh tế Việt Nam không đạt được một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô theo
kế hoạch: GDP đạt khoảng 5,14%, mức thấp nhất kể từ năm 2000; tỷ lệ thâm hụt ngân sách
cao hơn con số kế hoạch 4,8%; tỷ lệ thất nghiệp, hàng tồn kho tăng cao và ngành ngân
hàng cũng không phải là một ngoại lệ. Với vai trò là trung gian tài chính đảm bảo cho nền
Việt Nam có bước chuyển biến rõ rệt. Chính Phủ ban hành 2 Pháp lệnh về ngân hàng vào
tháng 5 năm 1990 quy định hệ thống ngân hàng Việt Nam chia làm 2 cấp có chức năng,
nhiệm vụ phân định rõ ràng: Ngân hàng Trung ương cũng là cơ quan phát hành tiền tệ và
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ - tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân
hàng. Ngân hàng Trung ương là cơ quan tổ chức việc điều hành chính sách tiền tệ, lấy
nhiệm vụ giữ ổn định giá trị đồng tiền làm mục tiêu chủ yếu và chi phối căn bản các chính
sách điều hành cụ thể đối với hệ thống ngân hàng 2 cấp. Còn các ngân hàng thương mại
thực hiện chức năng kinh doanh, trung gian tài chính. Hệ thống ngân hàng hai cấp tiếp tục
được quy định trong 02 luật: Luật các tổ chức tín dụng và Luật Ngân hàng Nhà nước có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998 tạo khung pháp lý cho quá trình phát triển lâu dài
của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tiến trình đổi mới. Về cơ bản hệ thống ngân hàng
theo pháp lệnh năm 1990 đã tháo bỏ được tính độc quyền Nhà nước trong lĩnh vực hoạt
động ngân hàng bằng cách cho phép thành lập các ngân hàng thương mại theo nhiều loại
hình sở hữu khác nhau. Bên cạnh đó, việc cho lập các ngân hàng liên doanh và chi nhánh
ngân hàng nước ngoài đã thu hút được vốn đầu tư, đổi mới công nghệ trong lĩnh vực ngân
hàng và thúc đẩy quá trình cạnh tranh trong toàn hệ thống. Sau khi gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được điều
chỉnh theo xu hướng chung của thế giới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép
thành lập. Có thể khái quát hệ thống các tổ chức tín dụng theo sơ đồ sau: 51
52
Sơ đồ 3.1: Hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam 52
Trải qua hơn 10 năm cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, có thể thấy hệ thống đã trở
nên đa dạng hóa về hoạt động ngân hàng về hình thức sở hữu cũng như số lượng ngân
hàng. Bảng 3.1 cho thấy sự phát triển về số lượng và hình thức sở hữu ngân hàng thương
mại. Số lượng các ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài có
chiều hướng gia tăng qua các năm, tuy nhiên đến năm 2012 do hiệu quả hoạt động của một
số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém buộc phải sáp nhập, hợp nhất dẫn đến số lượng
các ngân hàng thương mại cổ phần sụt giảm. Trong khi đó, sau khi được phép thành lập
ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã có 5 ngân hàng tham gia vào thị trường ngân hàng
Việt Nam. Điều đó khẳng định hoạt động cạnh tranh của các ngân hàng ngày càng khốc
Đồ thị 3.1: Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2008 – 2012 54
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước 54
Đối với tổng tài sản của các ngân hàng thương mại: Đồ thị 3.2 cho thấy từ năm 2008 đến
2011, tổng tài sản của các ngân hàng đều có xu hướng gia tăng. Đặc biệt, khối ngân hàng
thương mại cổ phần có sự đột biến. Nguyên nhân chính là do các ngân hàng thương mại cổ
phần mở rộng mạnh mẽ mạng lưới chi nhánh dẫn đến tốc độ tăng trưởng vượt bậc về huy
động vốn và khai thác hiệu quả nguồn vốn trong dân cư. Trong khi đó, các ngân hàng nước
ngoài do hạn chế do quy mô phát triển mạng lưới chậm hơn so với các ngân hàng trong
nước và khách hàng chưa phát triển được đa dạng. Nhưng đến năm 2012, đối với khối
ngân hàng thương mại cổ phần quy mô tổng tài sản có xu hướng sụt giảm 55
Đơn vị: tỷ đồng 55
55
Đồ thị 3.2 : Tổng tài sản của các ngân hàng thương mại giai đoạn 55
2008 – 2012 55
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước 55
Tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tín dụng toàn hệ thống: Trong nền kinh tế Việt Nam
thì ngành ngân hàng là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất so với nhiều ngành nghề
khác. Đồ thị 3.3 cho thấy tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tín dụng qua các năm, có thể
thấy trước năm 2008 tốc độ tăng trưởng huy động vốn và tín dụng ở mức cao. Tuy nhiên,
do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ngành ngân hàng Việt Nam cũng bị ảnh hưởng dẫn
đến tốc độ tăng trưởng huy động và tín dụng có xu hướng giảm xuống từ năm 2009. Điều
đó cũng phản ánh các ngân hàng thương mại bị động trong việc đối phó với khủng khoảng.
55
Đơn vị: % 56
56
Trước năm 2007 thị phần chủ yếu tập trung vào các ngân hàng thương mại Nhà nước thì từ
năm 2008 trở đi khoảng cách huy động vốn giữa các khối ngân hàng đã được thu hẹp. Đồ
thị 3.4 chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng huy động vốn của các NHTMCP và NHTMNN tăng
nhanh và khoảng cách được thu hẹp, thậm chí có giai đoạn tốc độ tăng trưởng của khối
xiii
đi lợi nhuận của có xu hướng sụt giảm. Điều này tương đồng với tình hình khó khăn chung
của nền kinh tế thế giới nói riêng và của Việt Nam nói chung. Phần lớn các ngân hàng có
vốn chủ sở hữu lớn đã đạt được lợi nhuận lớn từ đó có thể thấy được tính tương đồng với
ROE của các ngân hàng trong ngành (phụ lục 5). Từ đó có thể thấy các ngân hàng có vốn
chủ sở hữu lớn thường có bề dày kinh nghiệm trong hoạt động tác động tích cực tới việc sử
dụng hiệu quả đồng vốn. Mặc dù vậy ROE của nhiều ngân hàng thương mại Việt Nam
cũng chưa phải là cao thể hiện khả năng sử dụng vốn vay của nhiều ngân hàng còn hạn
chế. Bên cạnh đó cũng có thể thấy khi khủng hoảng kinh tế xảy ra với chiều hướng ngày
càng xấu của nền kinh tế thì các ngân hàng đã vấp phải rất nhiều cản trở từ đó ảnh hưởng
tới hiệu quả tài chính 58
Tình hình nợ xấu: Tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam ngày càng
nóng bỏng, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế, ảnh
hưởng tiêu cực tới các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp. Đồ thị 3.6 cho thấy nợ xấu
của NHTM Việt Nam từ năm 2005 đến 2012 có nhiều biến động. Sau khi thực hiện phân
loại nợ theo quyết định 493/2005/QĐ – NHNN có thể thấy tổng nợ xấu có xu hướng tăng
lên. Trong 3 năm từ 2005 đến 2007 tổng nợ xấu biến động không nhiều, tuy nhiên bước
sang năm 2008 kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế tốc độ tăng nợ xấu là tương đối nhanh.
xiv
Tính đến năm 2012 theo công bố của NHNN tổng nợ xấu của các NHTM Việt Nam là
185.205 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ là 6%. Tuy nhiên, theo Ủy ban giám
sát tài chính quốc gia đưa ra tỷ lệ nợ xấu là 11,8% tương đương 270.000 tỷ đồng. Một
trong những nguyên nhân quan trọng khiến tình hình nợ xấu ngày một gia tăng là do một
số nguyên nhân trong việc cấp tín dụng: giai đoạn 2007 -2010 chứng kiến sự bùng nổ của
thị trường bất động sản và chứng khoán, các dự án đầu tư về bất động sản đầu tư ồ ạt bất
chấp sự mất cân bằng cung cầu trên thị trường. Thêm vào đó, đối với tài sản đảm bảo chủ
yếu là bất động sản khi thị trường sụt giảm dẫn đến giá trị tài sản đảm bảo giảm, cùng với
hàng tồn kho gia tăng gây nợ xấu tăng theo. Cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
diễn ra đã tác động tới nền kinh tế của quốc gia và các doanh nghiệp nội tại, từ đó ảnh
hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường 59
60
Có thể nói, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng trong thời gian qua tăng lên tương đối thể hiện
các ngân hàng đã có chiến lược cụ thể trong việc phát triển sản phẩm dịch vụ để thu hút
khách hàng. Tuy nhiên, có thể thấy các sản phẩm dịch vụ mới phát triển về số lượng mà
chưa chất lượng. Bên cạnh đó các sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng thương mại Việt
Nam chưa đồng bộ gây khó khăn cho khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm dịch vụ.
xv
Đơn cử như, việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt là xu thế của các quốc gia trên
thế giới nhưng ở Việt Nam việc thực hiện là tương đối khó khi các ngân hàng chưa phát
triển đồng bộ giữa phát hành thẻ và công cụ sử dụng thẻ. Với dân số 90 triệu dân thì việc
thúc đẩy về số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ sẽ góp phần thu hút khách hàng
nhưng nhiều sản phẩm dịch vụ mới ở mức độ trên truyền thống và chưa phát triển tương
xứng với tiềm năng vốn có của ngân hàng. Không những thế việc tiếp cận giữa khách hàng
và ngân hàng chưa thuận tiện, ngân hàng chưa tạo niềm tin cho khách hàng bằng thương
hiệu mạnh dẫn đến khách hàng hạn chế trong việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng 61
3.2.3. Năng lực quản trị và công nghệ còn nhiều hạn chế 62
Ngân hàng thương mại được coi là mạch máu của nền kinh tế, do đó nêu ắc tách sẽ gây hệ
lụy tới toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, một ngân hàng hoạt động hiệu quả thì vấn đề
quản trị ngân hàng đặc biệt quan trọng. Một ngân hàng có năng lực quản trị tốt sẽ tác động
tực tiếp tới vị thế của các ngân hàng và thúc đẩy các doanh nghiệp mà ngân hàng cho vay.
Năng lực quản trị ngân hàng sẽ giúp các ngân hàng xác định mức chịu đựng của rủi ro và
chống đỡ trước các biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn năng lực quản trị ngân
hàng ở Việt Nam còn nhiều bất cập. Có thể thấy từ cuối năm 2008, nền kinh tế đối mặt với
nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ đó tác động tới các
ngành nghề làm cho tốc độ tăng trưởng không cao, hiệu quả đầu tư thấp kém, lạm phát
biến đổi không ngừng. Điều này tác động tới ngân hàng và phản ánh năng lực quản trị của
các ngân hàng chưa cao do đó khó có khả năng chống chọi với các biến động kinh tế.
Trong giai đoạn này có thể thấy chất lượng tín dụng của các ngân hàng giảm sút thể hiện ở
các khoản nợ xấu gia tăng (Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ từ 2,17% năm 2008 lên 6,0% năm
2012). Việc nâng cao vai trò của Hội đồng quản trị trong việc điều hành và tăng cường sự
các điều kiện của tổ chức thương mại thế giới thì ngành ngân hàng cũng phải mở cửa toàn
bộ. Các ngân hàng 100% vốn nước ngoài lúc này được phép hoạt động tại thị trường Việt
Nam gây áp lực trong cạnh tranh gia tăng. Thực tế cho thấy, trong giai đoạn vừa qua các
ngân hàng thương mại Việt Nam đã bộc lộ những yếu kém trong năng lực cạnh tranh với
các đối thủ khi tham gia vào thị trường tài chính quốc tế. Đối với các ngân hàng thương
mại Việt Nam chỉ có được ưu điểm về hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch phủ rộng khắp
cả nước và nắm bắt được văn hóa bản địa. Nhưng so với các đối thủ cạnh tranh từ ngân
hàng nước ngoài, các ngân hàng Việt Nam kém về năng lực nguồn vốn, trình độ quản trị
ngân hàng, công nghệ ngân hàng và tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ. Hơn thế nữa trong
quá trình tái cơ cấu để nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh thì hệ thống
ngân hàng Việt Nam còn gặp phải vấn đề lớn là tình trạng tham nhũng gia tăng, vấn đề này
không chỉ ảnh hưởng tới các ngân hàng mà còn liên lụy đến toàn bộ nền kinh tế 63
3.3. Thực trạng cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng Việt Nam 64
Dựa trên khung lý thuyết năm lực lượng cạnh tranh của Micheal Porter, phần này sẽ đánh
giá thực trạng cấu trúc cạnh tranh ngành trên 5 yếu tố: i) Mức độ cạnh tranh của các đối
thủ hiện tại, ii) Mối đe dọa của những người gia nhập tiềm năng, iii) Mối đe dọa của các
sản phẩm thay thế, iv) Sức mạnh người mua, v) Sức mạnh nhà cung ứng 64
3.3.1. Mức độ cạnh tranh của các đối thủ hiện tại: 64
Tốc độ tăng trưởng của ngành ngân hàng Việt Nam: Kể từ năm 2000 tốc độ tăng trưởng
tín dụng của ngành là rất cao, đặc biệt giai đoạn từ 2006 đến 2010 tốc độ tăng trưởng tín
dụng lên tới 35% và tốc độ tăng trưởng huy động cũng lên tới 28%. Có thể thấy qua các
năm tốc độ tăng trưởng tín dụng thường cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động làm cho các
ngân hàng phụ thuộc vào nguồn vốn của NHNN và huy động vốn từ thị trường liên ngân
hàng để tài trợ thanh khoản thiếu hụt hoặc tạo nguồn mở rộng tín dụng. Từ đó, làm gia
tăng chi phí của các ngân hàng ảnh hưởng tới lợi nhuận và mức độ cạnh tranh gia tăng 64
Sự khác biệt về sản phẩm và chi phí chuyển đổi của khách hàng: Có thể thấy đối với các
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là tương tự nhau vì vậy khả năng thay thế là rất cao dẫn
đến cầu về sản phẩm dịch vụ của ngân hàng là tương đối co giãn. Do đó, khi có sự biến
động nhỏ về giá sẽ dẫn đến lượng cầu thay đổi mạnh. Đơn cử như đối với hoạt động thu
hút vốn của ngân hàng có nhiều biến động cùng với sự thay đổi của lãi suất ngân hàng.
hàng có rào cản không cao. Chỉ có năm 2012 số lượng các NHTMCP giảm xuống do hoạt
động của một số ngân hàng trong hệ thống không hiệu quả buộc phải tiến hành sát nhập. 66
Yêu cầu về vốn: Để đáp ứng chỉ tiêu an toàn vốn theo thông lệ Basel II, Ngân hàng Nhà
nước đã yêu cầu các NHTM tăng vốn điều lệ lên 3000 tỷ đồng từ đó các NHTM mở rộng
tương đối vốn chủ sở hữu (đồ thị 3.1). Việc các ngân hàng nội tại có nguồn vốn lớn sẽ đáp
ứng được nhu cầu đầu tư tài chính lớn để có thể cạnh tranh từ đó hình thành rào cản cho
các đối thủ cạnh tranh tiềm năng 66
Sự khác biệt về sản phẩm dịch vụ: Bên cạnh những sản phẩm dịch vụ truyền thống như
tiền gửi và cho vay, đã xuất hiện nhiều sản phẩm mới có nhiều tiện ích cho khách hàng như
tăng tiện ích tài khoản cá nhân, phát triển dịch vụ thẻ, phát triển các dịch vụ ngân hàng
hiện đại như internet banking, phone banking…Hoạt động huy động vốn ngày càng đa
dạng hơn về hình thức để người gửi tiền có nhiều lựa chọn có lợi cho mình. Ngoài các sản
phẩm tiền gửi tiết kiệm có lãi suất cố định truyền thống, các ngân hàng còn đưa ra các sản
phẩm tiền gửi được hưởng lãi suất biến động theo tỷ lệ lạm phát, đảm bảo giá trị theo vàng,
…Nhiều dịch vụ phát triển thẻ đa tiện ích đã được cung cấp cho khách hàng. Mặc dù sản
phẩm dịch vụ là khá đa dạng, nhưng nhìn chung các sản phẩm ngân hàng là tương tự nhau
và có khả năng thay thế cao. Chẳng hạn như, dù được đặt tên khác nhau nhưng tài khoản
tiết kiệm ở các ngân hàng hầu như là giống nhau. Điểm quan trọng là khi các ngân hàng
tạo được lòng tin của khách hàng đối với sản phẩm của mình sẽ tạo được rào cản khi gia
nhập của các ngân hàng mới 66
Tính kinh tế của quy mô: một ngân hàng đạt tính kinh tế của quy mô thì việc mở rộng sản
lượng sẽ làm giảm được chi phí bình quân. Khi đó, việc cung cấp sản phẩm cho một lượng
lớn khách hàng sẽ cho phép ngân hàng giảm chi phí và đưa ra mức giá hợp lý. Điều này
các hãng mới muốn gia nhập thị trường sẽ bị cản trở do chi phí cao ảnh hưởng tới lợi
nhuận kỳ vọng 67
Những bất lợi về chi phí mà không phụ thuộc về quy mô: các ngân hàng thương mại hiện
tại có những lợi thế về chi phí do vậy các đối thủ tiềm năng của ngân hàng khó có thể sao
chép. Các lợi thế này gồm có: Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch nhiều tập trung khu
đông dân cư; duy trì được mối quan hệ với khách hàng truyền thống; được hưởng lợi từ sự
xviii
tác động tới sự phát triển của thị trường tài chính nói chung và đối với ngân hàng nói riêng.
Trong trường hợp giá cả các loại dịch vụ tài chính quá cao, khách hàng mua sẽ gặp khó
khăn trong việc tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ tài chính. Bên cạnh đó, đối với các sản
phẩm dịch vụ ngân hàng ít có điểm khác biệt như các dịch vụ trao đổi ngoại tệ, chiết khấu
thương phiếu, cho vay thương mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật giá trị, tài trợ các hoạt động
Chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch, cung cấp dịch vụ ủy thác, cho vay tiêu dùng
quản lý tiền mặt, dịch vụ thuê mua thiết bị, cho vay tài trợ dự án, bán các dịch vụ bảo
hiểm,… và chi phí chuyển đổi không cao mà động cơ của khách hàng mua dịch vụ là tối đa
hóa lợi ích của mình do đó khách hàng nhạy cảm hơn về giá sẽ dẫn đến sự dịch chuyển của
khách hàng đến ngân hàng có giá cả thấp hơn 68
Sức mạnh của bên mua còn được thể hiện thông qua mức độ về mặc cả: trong thời đại
công nghệ thông tin ứng dụng cao, việc cập nhật thông tin của người mua về các ngân
hàng là rất thuận tiện và nhanh chóng. Cùng với đó các sản phương dịch vụ của các ngân
hàng có tính tương đồng cao tạo ra sự thay thế ở mức độ cao của các sản phẩm dịch vụ.
Điều đó dẫn đến khách hàng đi mua có khả năng mặc cả cao hơn trong thị trường tài chính.
69
3.3.5. Sức mạnh của người cung ứng 69
xix
Người cung ứng đối với ngân hàng trước hết phải nói đến khách bao gồm các cá nhân và
tổ chức là người cung ứng nguồn vốn cho ngân hàng để kinh doanh. Với các đối tượng này
do hiện tại ở Việt Nam có hơn 100 ngân hàng hoạt động trong ngành vì vậy khách hàng có
thể dễ dàng lựa chọn đối tác để cung ứng nguồn vốn. Hơn nữa chi phí chuyển đổi là thấp
dẫn đến đối tượng này dễ dàng trong việc thay đổi đối tượng cung ứng 69
Đối tượng cung ứng thứ hai mà ngân hàng cần quan tâm là người cung ứng mặt bằng cho
các ngân hàng. Với đặc thù về đối tượng khách hàng nên các ngân hàng cần phải hoạt động
tại các khu vực đông dân cư và thuận tiện trong việc tiếp xúc với khách hàng. Vì vậy, với
đối tượng cung ứng mặt bằng sẽ có sức mạnh tương đối đối với ngân hàng trong việc cung
ứng mặt bằng 69
Trong quá trình toàn cầu hóa, yếu tố thời gian và tính tiện ích của các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng đặc biệt quan trọng trong việc thu hút khách hàng tăng doanh thu và giảm chi
động của các biến số phản ánh cấu trúc ngành đến hiệu quả kỹ thuật của ngành 70
3.4.1. Ước lượng hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại 71
3.4.1.1. Ước lượng hiệu quả kỹ thuật với phương pháp bao dữ liệu (DEA) 71
DEA được gọi là phương pháp bao dữ liệu bởi nó sử dụng những biến tốt nhất ứng với
mức đầu vào xác định để tạo thành một đường bao biên 71
xx
71
Đồ thị 3.7 : Đường bao dữ liệu (DEA) 71
Đánh giá hiệu quả kỹ thuật qua phương pháp DEA: 76
Từ số liệu thu thập thông qua báo cáo thường niên của các ngân hàng qua các năm, tác giả
đã chạy mô hình DEAP cho từng năm của các ngân hàng (phụ lục 3) và có bảng tóm tắt kết
quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2008 –
2012 như sau: 76
Nguồn: Kết quả tính toán của tác giả 76
Dựa trên kết quả tính toán đã phản ánh toàn cảnh hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2012. Nhìn chung, trong giai đoạn từ
năm 2008 đến năm 2012 hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ đạt mức
trung bình. Tuy nhiên có thể thấy hiệu quả có xu hướng gia tăng dù tốc độ không cao. Duy
nhất năm 2009, hiệu quả tăng mạnh từ 0,610 năm 2008 lên 0,801 nhưng ngay năm sau hiệu
quả lại giảm về 0,613. Điều đó cho thấy các ngân hàng vẫn chưa sử dụng hiệu quả các
nguồn lực hiện có để nâng cao hiệu quả hoạt động. Từ những con số này, có thể thấy các
ngân hàng thương mại còn rất nhiều cơ hội điều chỉnh hoạt động để nâng cao hiệu quả hoạt
động thuần túy hóp phần gia tăng lợi nhuận. Có thể thấy, hiệu quả kỹ thuật (TE) được hình
thành từ hiệu quả kỹ thuật thuần túy (PE) và hiệu quả quy mô (SE). Do đó, dựa vào kết quả
tính toán, có thể thấy được nên điều chỉnh yếu tố nào để nâng cao hiệu quả kỹ thuật của
các ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn này, hiệu quả quy mô thường cao hơn hiệu quả
kỹ thuật thuần túy. Vậy phần đóng góp chính trong hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô.
Đối với hiệu quả kỹ thuật thuần túy có mức tăng giảm thất thường qua các năm, thấp nhất
năm 2008 với PE đạt 0,682 và cao nhất năm 2009 với PE đạt 0,856. Mặc dù PE trong giai
đoạn ở trên mức trung bình nhưng có thể thấy thực trạng hoạt động của các ngân hàng
tập trung nâng cao trình độ quản lý và cải tiến công nghệ một cách triệt để để nâng cao hơn
nữa hiệu quả hoạt động. Nhìn chung, các ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu tập
trung phát triển mạng lưới theo chiều rộng mà chưa chú trong tới phát triển chiều sâu dẫn
đến việc sử dụng các yếu tố đầu vào chưa tối ưu. Vậy tiềm lực nội tại còn nhiều tiềm ẩn
cần được phát huy để đạt hiệu quả cao hơn. Để có cái nhìn sâu hơn về tình hình biến động
của nền kinh tế và những tồn tại dẫn đến hiệu quả chưa cao, tác giả sẽ đi vào phân tích tình
hình biến động của hiệu quả kỹ thuật qua từng năm của các ngân hàng 78
Năm 2008: Trước năm 2008 tình hình chung của nền kinh tế khá thuận lợi sau hơn 20 năm
đổi mới. Năm 2007 tổng sản phẩm trong nước(GDP) theo giá so sánh 1994 tăng 8,48% so
với năm 2006. Tăng trưởng đạt tốc độ cao so với các nước trong khu vực. Đối với hệ thống
ngân hàng đã đáp ứng có hiệu quả nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và các thành phần
kinh tế. Hệ thống các ngân hàng hoạt động tương đối hiệu quả và nâng cao được hiệu quả
hoạt động. Tuy nhiên, bước sang năm 2008 khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, ngoài
những thuận lợi thì cũng gặp không ít thách thức. Bên cạnh đó, năm 2008 đứng trước bối
cảnh tình hình kinh tế thế giới nhiều biến động phức tạp thì nền kinh tế Việt Nam cũng
không phải ngoại lệ chịu sự ảnh hưởng. Tổng sản phẩm trong nước( GDP) năm 2008 theo
giá so sánh 1994 tăng 6,18% so với năm 2007, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao 19,89%. Đối
với hoạt động ngân hàng năm 2008 đã trải qua những biến động lớn như: chính sách tiền tệ
từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm 2008 chuyển dần sang nới lỏng một cách
thận trọng những tháng cuối năm. Cơ chế lãi suất cho vay theo trần lãi suất, từ đó dẫn đến
lãi suất huy động và cho vay nhiều biến động. Năm 2008 cho phép thành lập lại ngân hàng
mới từ đó đón nhận thêm 2 ngân hàng mới là Ngân hàng Liên Việt và Ngân hàng Tiên
Phong. Nợ xấu ngân hàng có xu hướng gia tăng do các khoản vay từ kinh doanh chứng
khoán và đầu tư bất động sản. Mặc dù vậy tốc độ tăng trưởng tín dụng trong năm này là
tương đối cao. Từ những biến động này, có thể thấy đã phản ánh tương đối đầy đủ trong
hiệu quả kỹ thuật trung bình của toàn hệ thống ngân hàng là 0,610, con số này chỉ đạt mức
trung bình. Trong đó, hiệu quả kỹ thuật thuần túy đạt 0,682 và hiệu quả quy mô đạt 0,906.
Vậy có thể thấy phần đóng góp chính trong hiệu quả kỹ thuật là do hiệu quả quy mô. Hiệu
quả kỹ thuật thấp ngoài ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu còn do các
ngân hàng chưa chú trọng phát triển trình độ công nghệ, trình độ nhân viên, trình độ quản
thuật thuần túy tăng mạnh từ 0,682 năm 2008 lên 0,856 năm 2009. Trong khi đó hiệu quả
quy mô vẫn ở mức cao và tương đối ổn định. Năm 2009 có bước đột phá trong xếp hạng
của các ngân hàng thương mại, có 19 ngân hàng xếp hạng A, 9 ngân hàng xếp hạng B và 3
ngân hàng xếp hạng C. Điều này phản ánh, mặc dù rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới nhưng được sự h¥ trợ của Chính Phủ và Ngân hàng Nhà nước, cùng với sự điều chỉnh
hợp lý trong chính sách điều hành của từng ngân hàng dẫn đến hiệu quả của hệ thống ngân
hàng gia tăng 80
Năm 2010: Tình hình kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đã dần phục hồi sau cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, còn tiềm ẩn nhiều bất ổn từ đó ảnh hưởng tới nền kinh
tế nước ta. Trong năm này, Việt Nam là nước sớm vượt qua khó khăn và phục hồi nhanh
sau cuộc khủng hoảng. Tổng sản phẩm trong nước(GDP) năm 2010 ước tính tăng 6,78% so
với năm 2009. Kết quả trên phản ánh đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp ngăn chặn
suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô của Chính Phủ. Mặc dù vậy, đối với ngành ngân
hàng khi mà chính sách h¥ trợ lãi suất 4% kết thúc, hoạt động của các ngân hàng lại rơi
vào tình trạng bế tắc, hiệu quả hoạt kỹ thuật của các ngân hàng giảm sút về 0,613. Trong
đó hiệu quả quy mô sụt giảm về 0,813 nhưng vẫn đóng góp chủ yếu trong tổng hiệu quả,
hiệu quả kỹ thuật thuần túy giảm về 0,764. Điều này được minh chứng trong một năm có
nhiều thay đổi pháp lý quan trọng, nhiều biên động của thị trường , ngân hàng và doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn. Hệ thống lãi suất ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí và
lợi nhuận của một ngân hàng. Do đó, với hiện tượng lãi suất biến động bất thường. Từ
tháng 6, Chính Phủ nhấn mạnh đến định hướng hạ lãi suất VND và được ghi nhận
11%/năm của lãi suất huy động. Tuy nhiên, do lạm phát gia tăng và cuộc đua lãi suất bùng
phát vào cuối năm nên trung tuần tháng 12 Ngân hàng Nhà nước thắt chặt tiền tệ, tăng lãi
suất chủ chốt, rút bớt kỳ hạn và nâng cao lãi suất chào mua trên thị trường mở. Năm 2010,
tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 29,81%; trong đó tín dụng VND tăng 25,3%; tín
dụng ngoại tệ tăng 49,3%. Giai đoạn này, Ngân hàng hạ dự trữ bắt buộc, mở rộng đối
tượng cho vay và đặc biệt chênh lệch lớn về lãi suất tạo nên sự bùng nổ về tín dụng ngoại
tệ. Tốc độ tăng trưởng huy động cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng trong phần lớn thời
gian nhưng trong hai tháng cuối năm thì có xu hướng biến động ngược lại. Đặc biệt hoạt
xxiii
hiện Nghị quyết 11/NQ-CP tốc độ tăng trưởng tài sản và tín dụng của các ngân hàng sụt
giảm do phải tuân thủ giới hạn tăng trưởng dưới 20% và nhu cầu vay vốn kinh doanh, tiêu
dùng giảm. Ngoài ra, ngày 1/3/2011 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Chỉ thị số
01/CT-NHNN quy định đến ngày 30/6/2011 tỷ trọng dư nợ cho vay lĩnh vực phi sản xuất
so với tổng dư nợ tối đa phải là 22% và đến 31/12/2011 tối đa 16%. Chỉ thị này đã tác
động mạnh đến hoạt động của các ngân hàng thương mại buộc các ngân hàng phải đóng
băng tín dụng tiêu dùng, hệ lụy tới thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Bên
cạnh đó lãi suất cho vay tăng cao (lên tới 25%/năm) đã vượt quá khả năng của các khách
hàng. Trong bối cảnh nhiều biến động từ các thị trường khác nhau dẫn đến chất lượng tín
dụng suy giảm mạnh, các khoản nợ xấu có xu hướng gia tăng từ đó bộc lộ mặt yếu kém
trong quản trị rủi ro của các ngân hàng. Trước tình hình khó khăn chung của nền kinh tế và
của hệ thống ngân hàng dẫn đến khả năng sinh lời của hệ thống sụt giảm. Năm 2011 đã có
sự hợp nhất của một số ngân hàng do rơi vào tình trạng mất thanh khoản tạm thời do sử
dụng nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn 83
Năm 2012: Kinh tế xã hội nước ta tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn kinh tế thế giới do
khủng hoảng kinh tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được giải quyết.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình đốn, hàng tồn kho tăng cao.
xxiv
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 theo giá so sánh 1994 tăng 5,03% so với năm
2011. Đối với hoạt động ngân hàng, năm 2012 hầu hết các ngân hàng đều không đạt chỉ
tiêu kế hoạch kinh doanh. Tổng tài sản cả hệ thống nói chung và riêng nhiều thành viên sụt
giảm. Lãi suất ngân hàng dịu song, ngày 21/12/2012 lần thứ 6 trong năm Ngân hàng Nhà
nước giảm các lãi suất điều hành, hạ lãi suất trần huy động và cho vay, thanh khoản hệ
thống ổn định. Tỷ giá sau nhiều bất ổn từ năm 2008 -2011 đến năm 2012 khá ổn định.
Nhưng tín dụng tăng trưởng khó khăn,nhiều ngân hàng tăng trưởng âm. Đầu năm Ngân
hàng Nhà nước dự kiến tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 15 -17% nhưng thực tế chỉ đạt
khoảng 5%. Nhiều ngân hàng dư thừa vốn nhưng cũng rất nhiều ngân hàng thiếu hụt vốn.
Vấn đề nợ xấu tăng cao đã ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống của các ngân hàng. Cùng với nợ
xấu, vấn đề sở hữu chéo đã đến mức báo động và là một nguy cơ tiềm ẩn tạo nên rủi ro
trong toàn hệ thống ngân hàng. Có thể thấy hiệu quả của các ngân hàng không biến động
hàng thương mại trong giai đoạn 2008 – 2012 86
3.4.2. Cấu trúc cạnh tranh ngành ngân hàng và hiệu quả kỹ thuật 96
Để kiểm nghiệm các giả thuyết trong mô hình lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành và hiệu
quả tác giả sử dụng hàm Tobit và Hồi qui tuyến tính để ước lượng hiệu quả kỹ thuật của
các ngân hàng theo các biến số phản ánh cấu trúc cạnh tranh ngành như thị phần tín dụng,
xxv