Bộ giáo dục và đào tạo Bộ y tế
Trờng đại học y Hà Nội Phan thu phơng
Nghiên cứu dịch tễ học bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính trong dân c ngoại thành
thành phố Hà Nội và tỉnh bắc giang
Chuyên ngành : Nội hô hấp
M số : 62.72.20.05
luận án tiến sỹ y học
Ngời hớng dẫn khoa học:
PGS.TS Ngô Quý Châu
GS.TS Dơng Đình Thiện
Chơng 2: 43Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1. Đối tợng nghiên cứu 43
2.1.1. Tiêu chuẩn xác định ngời mắc BPTNMT 43
2.1.2. Tiêu chuẩn xác định ngời mắc VPQMT đơn thuần 43
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ 43
2.1.4. Thời gian nghiên cứu 44
2.2. Phơng pháp nghiên cứu 44
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 44
2.2.2. Lấy mẫu 44
2.2.3. Chọn mẫu 45
2.2.4. Phơng tiện và các kỹ thuật thu thập thông tin 47
2.2.5. Khám lâm sàng và đo chức năng thông khí phổi 49
2.2.6. Đánh giá kết quả chức năng thông khí phổi 52
2.3. Xử lý số liệu 53
2.4. Đạo đức nghiên cứu 54
Chơng 3 : 56kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm của đối tợng nghiên cứu 56
3.2. Kết quả về tỉ lệ mắc BPTNMT 59
3.3. Liên quan giữa các yếu tố ảnh hởng với BPTNMT 64
3.3.1. Liên quan giữa tuổi với BPTNMT 64
3.3.2. Liên quan giữa giới tính với BPTNMT 65
3.3.3. Liên quan giữa hút thuốc với BPTNMT 66
3.3.4. Liên quan giữa phơi nhiễm với khói bếp với BPTNMT 67
3.3.5. Liên quan giữa phơi nhiễm với bụi nghề nghiệp với BPTNMT 68
3.4. Các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng của BPTNMT 70
3.4.1. Các triệu chứng lâm sàng 70
3.4.2. Kết quả CNTK của đối tợng nghiên cứu và của bệnh nhân mắc
BPTNMT.
73
Bảng 1.2. So sánh sự khác nhau giữa các thể lâm sàng của BPTNMT 34
Bảng 3.1. Phân bố đối tợng nghiên cứu theo giới, tuổi 56
Bảng 3.2. Tiếp xúc với các yếu tố ảnh hởng mắc BPTNMT của các đối tợng
nghiên cứu 57
Bảng 3.3. Mức độ hút thuốc của các đối tợng trong mẫu nghiên cứu 58
Bảng 3.4. Mức độ tiếp xúc khói bếp của các đối tợng trong mẫu nghiên cứu .58
Bảng 3.5. Tiếp xúc với nhiều yếu tố ảnh hởng 59
Bảng 3.6. Tỉ lệ mắc BPTNMT 60
Bảng 3.7. Tỉ lệ mắc BPTNMT theo nhóm tuổi và giới tính 61
Bảng 3.8. Tuổi trung bình của nhóm mắc BPTNMT 62
Bảng 3.9. Số đối tợng mắc các triệu chứng VPQMT 63
Bảng 3.10. Liên quan giữa tuổi với BPTNMT 64
Bảng 3.11. Liên quan giữa giới tính với mắc các triệu chứng hô hấp 65
Bảng 3.12. Liên quan giữa giới tính với BPTNMT 65
Bảng 3.13. ảnh hởng của hút thuốc với mắc các triệu chứng hô hấp 66
Bảng 3.14. Liên quan giữa khói thuốc với BPTNMT 66
Bảng 3.15. ảnh hởng của khói bếp với mắc các triệu chứng hô hấp 67
Bảng 3.16. Liên quan giữa phơi nhiễm với khói bếp 30 năm với BPTNMT 67
Bảng 3.17. Liên quan giữa phơi nhiễm với bụi nghề nghiệp 20 năm với
BPTNMT
68
Bảng 3.18. Phân tích đa biến hồi quy Logistic các yếu tố nguy cơ liên quan
đến BPTNMT
69
Bảng 3.19. Tỉ lệ mắc các triệu chứng hô hấp cơ năng ở đối tợng nghiên cứu 70
Bảng 3.20. Tỉ lệ mắc BPTNMT theo giai đoạn của GOLD 2006 71
Bảng 3.21. Biểu hiện của các triệu chứng thực thể của nhóm mắc BPTNMT 72
Bảng 3.22. Kết quả CNTK của đối tợng nghiên cứu 73
Bảng 3.23. Kết quả CNTK trung bình ở nam giới 74
Với tất cả lòng kính trọng, tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu trờng Đại
học Y Hà Nội, Phòng sau Đại học, Bộ môn Nội trờng Đại học Y Hà Nội,
Ban Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai đã hết
sức giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới các Giáo s, các
nhà khoa học trong hội đồng thông qua đề cơng và hội đồng bảo vệ cấp bộ
môn đã cho tôi những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo s - Tiến
sĩ Dơng Đình Thiện, ngời thầy đã trực tiếp hớng dẫn và chỉ bảo tận tình
cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo s -
Tiến sĩ Ngô Quý Châu, ngời thầy đã trực tiếp hớng dẫn, chỉ bảo tận tình,
hết sức giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu để hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể bác sĩ và
nhân viên khoa Hô hấp, các bác sĩ nội trú và cao học chuyên ngành Nội
Trờng Đại học Y Hà Nội đã hết sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể bác sĩ và
nhân viên trạm Y tế các xã thuộc Huyện Sóc Sơn và Huyện Lạng Giang đã tận
tình giúp đỡ trong công tác tổ chức và khám bệnh tại cơ sở để tôi thu thập
đợc số liệu trong luận án này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, ngời thân và bạn
bè là những ngời tạo điều kiện thuận lợi, động viên khích lệ tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu.
Hà nội, ngày 28 tháng 10 năm 2010
Nghiên cứu sinh
Phan Thu Phơng
Lời cam đoan
(Khuyếch tán CO)
ĐTĐ : Điện tâm đồ
ĐTB : Đại thực bào
ERS : European Respiratory Society
(Hội Hô hấp châu Âu)
EPHX : Microsomal epoxide hydroxylase
FEV1 : Forced expiration volume in one second
(Thể tích thở ra tối đa giây đầu tiên)
FRC : Function residual capacity
(Dung tích cặn chức năng)
FVC : Forced ventilation capacity
(Dung tích sống thở mạnh)
FEF
25-75%
: Forced expiratory flow from 25% to 75% of the FVC
(Lu lợng thở ra tối đa ở nửa giữa của FVC)
FEV
1
/FVC : Chỉ số Gaensler
FEV
1
/VC : Chỉ số Tiffeneau
GOLD : Global Initative for Chronic Obstructive Pulmonarry
Disease
GPN : Giãn phế nang
GSTs : Glutathiodissea (Các yếu tố chuyển Glutathione S)
HPPQ : Hồi phục phế quản
HRCT : High resolution computed tomography
Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
RLTKHH : Rối loạn thông khí hỗn hợp
RLTKTN : Rối loạn thông khí tắc nghẽn
ROS : Reactive oxygen species (Các gốc oxy hoạt động)
RV : Residual volume (Thể tích khí cặn)
SLT : Số lý thuyết
TALĐMP : Tăng áp lực động mạch phổi
TBBM : Tế bào biểu mô
TGHH : Trung gian hoá học
TNF -
:
Tumor necrosis factor - (Yếu tố hoại tử u - )
TPM : Tâm phế mạn
TTHH : Trung tâm hô hấp
VPQMT : Viêm phế quản mạn tính
TCYTTG : Tổ chức Y tế thế giới 27,50,51,55,59,62,71,72,73,77 mau
1-8,9-26,28-49,53-54,56-58,60,61,63-70,74-76,78-135 den tran
.g
Các công trình nghiên cứu khoa học
liên quan đến luận án đ công bố
1. Phan Thu Phng, Ngụ Quý Chõu, Dng ỡnh Thin (2009) "Nghiờn
cu dch t hc bnh phi tc nghn mn tớnh trong dõn c huyn Lng
Giang tnh Bc Giang". Tp chớ Y hc thc hnh - B Y t, 694, tr. 12 -16.
2. Phan Thu Phng, Ngụ Quý Chõu, Dng ỡnh Thin (2009) "Nghiờn
cu dch t hc bnh phi tc nghn mn tớnh ngi trờn 40 tui ti 05
xó ca huyn Súc Sn
thnh ph H Ni", tp chớ Y hc lõm sng - Bnh
các nguyên nhân gây tử vong và là nguyên nhân gây tàn phế đứng hàng thứ
mời hai. Dự đoán trong thập kỷ này số ngời mắc BPTNMT sẽ tăng gấp 3 - 4
lần và đến năm 2020 bệnh sẽ đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân gây tử
vong và đứng hàng thứ năm trong gánh nặng bệnh tật toàn cầu.
Tại Mỹ, theo Điều tra về sức khỏe Quốc gia lần thứ ba từ năm 1988 -
1994 (The Third National Health and Examination Survey - NHANES III,
1988 - 1994) về tỉ lệ mắc BPTNMT bằng bộ câu hỏi, khám lâm sàng và đo
chức năng thông khí, kết quả có 23,6 triệu ngời mắc BPTNMT trong đó có
2,6 triệu ngời mắc bệnh ở giai đoạn nặng. Ước tính mức độ lu hành của
BPTNMT vào khoảng 10% dân số Hoa Kỳ [84], [95].
Tại Vơng quốc Anh (2000) có khoảng 15 - 20% nam trên 40 tuổi và
10% nữ trên 45 tuổi có triệu chứng ho và khạc đờm mạn tính, khoảng 3,4 triệu
ngời đợc chẩn đoán là mắc BPTNMT (bằng 6,4% dân số của Anh và xứ
Wales) trong đó có khoảng 4% nam và 3% nữ (lứa tuổi trên 45) đợc chẩn đoán
mắc BPTNMT. Bệnh ngày càng có xu hớng tăng lên ở quốc gia này [93].
Tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ (khói thuốc lá, thuốc lào, khói bếp, bụi
nghề nghiệp, nhiễm khuẩn hô hấp khi còn nhỏ ) làm tăng tỉ lệ mắc
2
BPTNMT. Ngày nay với tình trạng hút thuốc ngày càng gia tăng, sự già đi của
dân số thế giới cùng với sự phát triển của nền công nghiệp, đặc biệt ở các nớc
đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là điều kiện thuận lợi làm cho tỉ lệ
mắc BPTNMT ngày càng gia tăng.
Với tính chất phổ biến, tiến triển kéo dài, chi phí điều trị lớn nh vậy,
BPTNMT đang trở thành mối lo ngại về sức khoẻ của nhiều quốc gia trên thế
giới. Để có thể ngăn chặn sự diễn tiến của bệnh chúng ta cần phải nhận thức
rõ về gánh nặng bệnh tật, các yếu tố nguy cơ gây bệnh và trên cơ sở này đề
xuất những giải pháp phòng ngừa, quản lý và điều trị BPTNMT.
ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại đã có một vài nghiên cứu về dịch
tễ học BPTNMT trong cộng đồng với kết quả cho thấy tiến triển của BPTNMT
rằng BPTNMT có tình trạng rối loạn thông khí tắc nghẽn. Năm 1958, hội nghị
chuyên đề CIBA đã thống nhất đa ra thuật ngữ viêm phế quản mạn tính
(VPQMT) và khí phế thũng (KPT) [131].
Thuật ngữ BPTNMT lần đầu tiên đợc sử dụng ở Mỹ vào năm 1964 để
mô tả tình trạng tắc nghẽn đờng thở tiến triển từ từ và không hồi phục hoàn
toàn [131]. Trong khi đó các quốc gia khác ở châu Âu lại sử dụng danh từ
viêm phế quản mạn tính (VPQMT) và khí phế thũng (KPT). Theo thời gian
thuật ngữ BPTNMT đã đợc sử dụng rộng rãi và dần thay thế cho cụm từ
VPQMT và KPT [94]. Sự không thống nhất về thuật ngữ của bệnh nh vậy
trong thời kỳ đầu là một trong những nguyên nhân khách quan làm cản trở
việc thu thập thông tin đầy đủ về BPTNMT. Hội nghị lần thứ 10 vào năm 1992
của Tổ chức Y tế thế giới đã nhất trí dùng thuật ngữ BPTNMT trong chẩn đoán và
thống kê bệnh tật [131].
Năm 1995, Hội Lồng ngực Hoa Kỳ (ATS) đã đa ra định nghĩa:
BPTNMT là một bệnh lý đặc trng bởi tình trạng tắc nghẽn lu lợng thở. Sự
4
tắc nghẽn này có tính tiến triển và không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một
phần, thờng phối hợp tăng phản ứng đờng thở do VPQMT hoặc KPT gây ra.
- Viêm phế quản mạn tính đợc định nghĩa là tình trạng ho khạc đờm
kéo dài liên tục ít nhất 3 tháng trong một năm và ít nhất trong 2 năm liên tiếp,
mà sự ho khạc này không do một bệnh tim hay phổi nào khác gây ra
(TCYTTG - 1983). Đây là một định nghĩa có tính chất lâm sàng.
- Khí phế thũng (Emphyseme) là tình trạng căng giãn bất thờng và
vĩnh viễn của các khoảng chứa khí tận cùng của các tiểu phế quản tận, kèm
theo sự phá huỷ các vách phế nang mà không gây xơ hoá. Đây là một định
nghĩa về mặt giải phẫu bệnh lý.
Năm 1997, Viện Tim mạch, Phổi và Huyết học Hoa Kỳ (National
Heart, Lung and Blood Institute - NHLBI) phối hợp với TCYTTG đã đề ra
chơng trình khởi động toàn cầu về phòng chống BPTNMT viết tắt là GOLD
tỉ lệ mắc BPTNMT giữa các quốc gia trên thế giới. Kết quả của các nghiên
cứu về dịch tễ học BPTNMT còn bị ảnh hởng bởi phơng pháp chọn mẫu, sự
tham gia của các đối tợng nghiên cứu và chất lợng của kỹ thuật đo chức
năng thông khí.
Số liệu thu đợc từ các nghiên cứu về dịch tễ học BPTNMT là thấp hơn
so với thực tế vì các nghiên cứu có thể bỏ sót những bệnh nhân mắc bệnh ở
giai đoạn sớm do họ không có triệu chứng lâm sàng của BPTNMT hoặc chỉ có
triệu chứng ho và khạc đờm mạn tính và bệnh chỉ đợc chẩn đoán khi ngời
bệnh có các triệu chứng rõ rệt. Gần đây, việc áp dụng kỹ thuật đo chức năng
thông khí vào chẩn đoán BPTNMT giúp các nghiên cứu về tỉ lệ mắc BPTNMT
tại các quốc gia cho kết quả chính xác hơn. Với lý do trên nên các nghiên cứu
về tỉ lệ mắc BPTNMT trên thế giới với tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa
vào các triệu chứng lâm sàng thờng có số liệu thấp dới 6%, bởi vì những
nghiên cứu này bỏ sót chẩn đoán những bệnh nhân mắc bệnh ở giai đoạn nhẹ
6
không có triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ có triệu chứng ho và khạc đờm mạn
tính. Ngợc lại, một số nghiên cứu chẩn đoán bệnh dựa vào triệu chứng lâm
sàng và kết quả đo chức năng thông khí có rối loạn thông khí tắc nghẽn đã đa ra
kết quả khoảng 25% đối tợng trên 40 tuổi đợc chẩn đoán BPTNMT [38], [84].
Với những lý do trên, các nghiên cứu về tỉ lệ mắc BPTNMT nên đợc
tiến hành trên một nhóm đối tợng đại diện cho quần thể chung, nhóm đối
tợng này đợc thu thập các triệu chứng hô hấp mạn tính, các yếu tố nguy cơ
của bệnh nhờ một bảng câu hỏi chuẩn và các đối tợng đợc đo chức năng
thông khí với test hồi phục phế quản để xác định rối loạn thông khí tắc nghẽn
(RLTKTN) không hồi phục hoàn toàn.
Một nghiên cứu về BPTNMT (2003) tại 12 nớc thuộc vùng Châu á
Thái Bình Dơng với mục đích ớc tính tỉ lệ BPTNMT ở những đối tợng từ
30 tuổi trở lên dựa vào mức độ phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã
cho kết quả là tỉ lệ mắc BPTNMT rất khác nhau giữa các nớc trong đó thấp
Tại Tây Ban Nha, một nghiên cứu cho kết quả tỉ lệ mắc BPTNMT là
9,1%, trong đó tỉ lệ mắc ở những ngời hút thuốc là 15%, ngời bỏ thuốc là
12,8% và 4% ở những ngời không hút thuốc [84].
Một nghiên cứu về BPTNMT tại Nhật Bản trên 12.760 đối tợng cho
thấy tỉ lệ mắc BPTNMT là 3,6%, trong đó nam chiếm 4,5% và nữ chiếm
1,8%, lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất ở nam là 50 - 60 tuổi và lứa tuổi gặp nhiều
nhất ở nữ là trên 60 tuổi [130].
Tại Cộng hoà Czech (2002) có 1.666 ngời chết vì BPTNMT, tỉ lệ tử
vong vì BPTNMT với nam là 21,3/100.000 dân và với nữ là 11,6/100.000 dân,
mức độ lu hành của bệnh là 7,7% dân số [83].
Tại úc (2004) BPTNMT là bệnh gây gánh nặng bệnh tật về sức khỏe
đứng hàng thứ ba và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ t, một
nghiên cứu trên toàn quốc cho thấy tỉ lệ mắc BPTNMT là 3% và tỉ lệ mắc
bệnh tăng theo lứa tuổi, với 2,8 % ở những bệnh nhân thuộc lứa tuổi 45 - 54 và
8,8% ở những đối tợng trên 75 tuổi [103].
8
Trung Quốc là nớc có tỉ lệ mắc BPTNMT cao nhất so với các nớc
khác trong cùng khu vực (26,2/1.000 dân ở nam và 23,7/1.000 dân ở nữ)
[143]. Một nghiên cứu gần đây tiến hành trên 20.245 đối tợng từ 40 tuổi trở
lên sống ở trên 7 tỉnh và thành phố cho kết quả tỉ lệ mắc BPTNMT là 8,2%
(trong đó ở nam là 12,4% và nữ là 5,1%) và bệnh nhân BPTNMT gặp nhiều ở
khu vực nông thôn, có tiền sử hút thuốc, nhiều tuổi và trình độ văn hóa thấp.
BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ t ở các thành phố lớn
và là bệnh đứng hàng đầu ở khu vực nông thôn Trung Quốc [149]. Theo đánh
giá của Hội Lồng ngực Đài Loan (1994) có tới 16% dân số Đài Loan trên 40
tuổi mắc BPTNMT, tỉ lệ tử vong do BPTNMT là 16,16/100.000 dân và
BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ sáu ở Đài Loan [149].
1.2.2. Tình hình dịch tễ BPTNMT ở Việt Nam
ở Việt Nam, nghiên cứu tại Khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai từ năm
vong do các bệnh khác nh tiêu chảy và các bệnh khác liên quan đến HIV có xu
hớng giảm [93], [133], [143].
Tỉ lệ tử vong vì BPTNMT rất khác nhau giữa các quốc gia, tỉ lệ này dao
động từ 10/100.000 dân đến 500/100.000 dân với khoảng 6% nam và 2 - 4%
nữ. Sự khác biệt này do nhiều yếu tố cấu thành: tiêu chuẩn chẩn đoán, thói
quen hút thuốc, ô nhiễm môi trờng hoặc các yếu tố di truyền, mức độ quan
tâm đối với bệnh và nguyên nhân tử vong do BPTNMT hay do các bệnh khác
phối hợp [93].
Để đánh giá mức độ thiệt hại gây ra do tàn phế và tử vong của bệnh tật
một cách chính xác, các chuyên gia thiết kế một phơng pháp đo lờng thiệt
hại bắt nguồn từ đánh giá mức độ tàn phế và tử vong do bệnh tật, đó là chỉ số
DALYs (The disability - adjusted life year), DALYs là đơn vị tính số năm còn
lại của bệnh nhân sống trong tàn phế và số năm bệnh nhân phải tử vong sớm
vì bệnh tật. Năm 1990, một nghiên cứu của TCYTTG đánh giá chỉ số DALYs
do BPTNMT thấy bệnh này đứng hàng thứ 12, năm 1996 BPTNMT đợc đánh
giá gây mức độ tàn phế đứng hàng thứ tám ở nam và thứ bảy ở nữ và dự đoán
10
đến năm 2020 sẽ tăng lên đứng hàng thứ năm trong số các nguyên gây tàn phế
vì bệnh sau bệnh thiếu máu cơ tim, suy nhợc nặng, tai nạn giao thông và
bệnh mạch máu não [84], [95], [107]. Đánh giá mức độ tàn phế của BPTNMT
cũng gặp nhiều khó khăn do bệnh thờng không đợc phát hiện ở giai đoạn
nhẹ và trung bình, các bệnh phối hợp cũng ảnh hởng đến tình trạng sức khỏe
chung hoặc ngợc lại những bệnh nhân ở giai đoạn nặng tàn phế do BPTNMT
nhng lại có thể bị quy cho các bệnh phối hợp. Đánh giá mức độ tàn phế do
BPTNMT còn bị ảnh hởng bởi nhiều yếu tố khác (ví dụ: tỉ lệ nằm viện do
BPTNMT còn phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận bệnh nhân điều trị của bệnh
viện vì có thể có sự hạn chế của giờng nằm) [84], [95].
Nghiên cứu về gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (Global burden of
disease study) dới sự bảo trợ của TCYTTG và Ngân hàng thế giới tiến hành