Đặt vấn đề
I. Cơ sở lý luận.
Địa lý là ngành khoa học có phạm trù rộng lớn và mang tính ứng dụng.
Học tập và giảng dạy và nghiên cứu Địa lí đòi hỏi có những kĩ năng nhất định.
Trong số các kĩ năng Địa lí, có những kĩ năng cơ bản đợc vận dụng phổ biến
trong học tập và nghiên cứu Địa lí. Những kĩ năng này đợc trang bị và rèn luyện
ngay trong quá trình học tập Địa lí ở nhà Trờng phổ thông nhằm giúp ngời học dễ
dàng tiếp thu kiến thức, hiểu biết sâu sắc, nâng cao trình độ t duy, khả năng thực
hành Địa lí và phục vụ cho các kỳ thi, đặc biệt là kỳ thi đối với những lớp cuối
cấp.
Tuy nhiên việc rèn luyện kĩ năng Địa lí trong quá trình giảng dạy trong
nhà trờng không phải là sự tóm tắt nội dung tri thức của khoa học Địa lí. Ngoài
những tri thức Địa lí mà môn học này còn bao gồm nhiều trí thức khác giúp việc
học tập, nâng cao hiểu biết thêm về những kiến thức tự nhiên, KT - XH và những
kĩ năng về bản đồ mà không một môn học nào đề cập tới.
Rèn luyện kĩ năng học và khai thác bản đồ không những giúp cho học sinh
lĩnh hội đợc kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và ghi nhớ lâu
bền mà còn là một phơng tiện đặc biệt quan trọng để phát triển năng lực t duy nói
chung và năng lực t duy Địa lí nói riêng. Trong khi tập sử dụng bản đồ, học sinh
phải luôn luôn quan sát, tởng tợng, phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, khái
quát hoá, xác lập các mối liên hệ Địa lí t duy của các em luôn luôn hoạt động và
phát triển.
Vậy rèn luyện kĩ năng học và khai thác bản đồ cho học sinh không phải
ngày một, ngày hai mà cả một quá trình lâu dài, phức tạp, liên tục từ lớp này qua
lớp khác, đòi hỏi nhiều công sức và sự phố hợp chặt chẽ giữa các lớp nhằm đạt đ-
ợc mục tiêu cuối cùng là biết sử dụng bản đồ nh là một nguồn cung cấp kiến thức
mới ở Trờng phổ thông.
Cơng vị là một giáo viên giảng dạy ở TT GDTX bản thân tôi cũng rất băn
khoăn về việc rèn luyện kĩ năng bản đồ cho học sinh đặc biệt phù hợp với đối t-
1
ợng học sinh cũng nh phù hợp với phát triển về KT - XH thế giới bùng nổ về
Qua thực tế tôi nhận thấy kết quả thu đợc tơng đối khả quan kể cả giáo
viên và học sinh đều nhận thấy rằng việc rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến
thức từ bản đồ cho học sinh là rất cần thiết. Từ đó học sinh có thể nhận biết, đọc
và mô tả khai thác tri thức từ bản đồ một cách dễ dàng. Từ thực tế nh vậy tôi xin
đợc rút ra một vài kinh nghiệm nhỏ.
Do điều kiện, thời gian, nhiệm vụ chuyên môn và khuôn khổ đề tài tôi áp
dụng, tổng hợp thành kinh nghiệm trên cơ sở giảng dạy bộ môn Địa lí ở TT
GDTX Tỉnh Vĩnh Phúc. Để từ đó rèn luyện cho các em những kĩ năng học và
khai thác kiến thức trên bản đồ để học sinh chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri
thức.
3. Phơng pháp tiến hành.
Quá trình giảng dạy các bớc nh sau:
Bớc 1: Phát hiện những hạn chế của học sinh khi học bộ môn Địa lí.
Bớc 2: áp dụng biện pháp cụ thể và sử dụng những hình ảnh minh họa để
kích thích những học sinh nhằm khắc phục những hạn chế của học sinh.
Bớc 3: Tổng hợp, đúc rút thành kinh nghiệm, biện pháp cụ thể.
3
Giải quyết vấn đề
I. Các giải pháp thực hiện.
Việc rèn luyện kĩ năng học và khai thác kiến thức Địa lí trên bản đồ giúp
cho học sinh lĩnh hội đợc kiến thức Địa lí một cách nhẹ nhàng, nhanh chóng và
ghi nhớ lâu bền. Chẳng hạn khi học về vị trí Địa lí của một châu lục, nếu chỉ
nghe một cách thụ động mà giáo viên mô tả thì khó mà lĩnh hội và ghi nhớ đợc,
nhng nếu tự mình đợc xác định trên bản đồ các điểm cực Bắc, cực Nam, cực
Đông, cực Tây, tìm xem có những đại dơng, những biển những vịnh nào bao
quanh, những châu lục nào tiếp cậnthì học sinh sẽ hiểu đợc ngay và nhớ đợc
lâu hơn vì đã qua một quá trình suy nghĩ, tìm tòi, đối chiếu phân tích, so sánh.
Cách học tập tích cực chủ động nh vậy, năm nay qua năm khác ở nhà Trờng phổ
thông, chẳng những phơng pháp học tập nghiên cứu Địa lí. Những kiến thức về
Địa lí đại cơng lĩnh hội gắn với bản đồ dần dần sẽ hình thành nên trong kí ức của
Vậy cách thức tiến hành mà trớc hết giáo viên cần phải phát âm rõ ràng,
rành mạch địa danh vừa chỉ trên bản đồ, học sinh theo dõi trên bản đồ treo tờng,
đối chiếu với lợc đồ và SGK hoặc bản đồ trong át lát để tìm ra đối tợng, sau đó
giáo viên tiếp tục viết rõ ràng và bằng chữ to địa danh lên bảng vào một góc riêng
rồi phát âm lại một cách thong thả và chỉ định một vài nhắc lại, sau đó học sinh
ghi vào vở Địa lí. Qua đó học sinh vừa nghe, vừa nhận, vừa phát âm, vừa viết, các
giác quan đều hoạt động nên địa danh dễ đợc ghi vào trí nhớ. Nh vậy chúng ta
mới chỉ đạt yêu cầu là làm cho hoặc sinh đọc đúng và ghi nhớ địa danh.
Bớc tiếp theo và cũng rất khó khăn là học sinh chỉ xem bản đồ và làm thế
nào để nhận biết và tìm ra đối tợng địa lí cần phải chỉ. Để giúp cho học sinh nhận
biết và tìm ra đợc dễ dàng các đối tợng địa lý trên bản đồ thì giáo viên cho học
sinh nắm đợc điểm hình thù hoặc kích thớc của đối tợng vằ đặt câu hỏi:
Giống cái ghì? Chẳng hạn, bán đảo Xcăngđinavi có hình thù nh một con
hổ, bán đảo Apenin cùng với đảo XiXin giống nh một chiếc ủng, bán đảo
Camsatka nh chiếc đuôi của con cáo, Grơnlen là đảo lớn nhất thế giới và có băng
5
quanh n¨m, ViÖt Nam cã h×nh ch÷ S. Liªn Bang Nga lµ l·nh thæ lín nhÊt thÕ
giíi…
6
7
Tuy nhiên không phải là tất cả các đối tợng địa lí đều có những đặc điểm
dễ nhận thấy nh vậy. Vì thế biện pháp trên cũng rất hạn chế.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy khi tách riêng một đối tợng địa lí và vẽ lên
bảng hoặc trên giấy, chẳng hạn một con sông, một hòn đảo, một cái hồ, thì học
sinh rất khó nhận ra. Sở dĩ nh vậy là vì khi tri giác một đối tợng địa lí trên bản đồ,
ngời ta luôn luôn gắn nó với các đối tợng khác ở xung quanh, nó luôn đợc tri giác
trong mối quan hệ với các đối tợng khác, trong môi trờng riêng của nó. Tách
nó ra và biểu hiện nó một cách riêng lẻ thì nó sẽ trở nên khó nhận ra.
Ví dụ: Khi quan sát sông Vônga trên bản đồ, hình ảnh của nó luôn luôn
gắn với toàn bộ hệ thống các sông nhánh của nó, với đồng bằng Nga nơi nó chảy
trong trờng hợp này các em mất nhiều thời gian hơn.
Nh vây, có thể nói càng tích luỹ đợc nhiều điểm tựa thị học sinh càng dễ
tìm ra đối tợng cần tìm trên bản đồ, tức là càng đọc bản đồ thành thạo hơn. Việc
hớng dẫn học sinh cách nhận biết, tìm ra và ghi nhớ các đối tợng địa lí trên bản
đồ nh trình bày ở trên giúp các em luuon luôn củng cố đợc cái cũ, nắm vững cái
mới và không ngừng mở rộng vốn hiểu biết bản đồ của minh.
Từ những điều đã nói trên đây có thể rút ra quy trình rèn luyện kĩ năng
nhận biết, chỉ và đọc các đối tợng địa lí trên nh sau:
- Giáo viên đọc rõ ràng, rành mạch, chính sác địa danh và chỉ đối tợng trên
bản đồ treo tờng.
- Cho học sinh đối chiếu tìm trên bản đồ trông SGK hoặc atlat.
- Giáo viên viết thật rõ ràng địa danh lên bảng đen ở một góc riêng.
- Yêu cầu một số học sinh phát âm lại rõ ràng, to tát địa danh, và khi cần,
cho phát âm tập thể.
- yêu cầu học sinh ghi chép chính xác địa danh vào sổ tay địa lí.
- Hớng dẫn học sinh ghi chép đặc điểm hình thù hoặc kích thớc của đối t-
ợng địa lí đợc biểu hiện trên bản đồ.
9
- Hớng dẫn học sinh nhận xét mối quan hệ vị trí của đối tợng với những vật
khác ở xung quanh (dùng làm điểm tựa) để sau này dễ nhận ra và tìm đợc đối t-
ợng trên bản đồ.
- Hớng dẫn cách chỉ đối tợng địa lí trên bản đồ
Ví dụ : Xác định một số quốc gia trên bản đồ Châu Âu
10
2. Rèn luyện kĩ năng mô tả các đối tợng địa lí trên bản đồ
a. Rèn luyện kĩ năng mô tả địa hình trên bản đồ
Nh chúng ta đã biết địa hình là một tác nhân phi địa đới nó có thể hạn chế,
cản trở, vô hiệu hoá thậm trí phá huỷ quy luật địa đới, tạo ra một kiểu khí hậu
riêng, khí hậu địa phơng. Những sơn nguyên giữa núi nh ơ Tây Nam á(Sơn
nguyên YRan, Sơn nguyên Anatôli) Trên hệ coocđie (sơn nguyên cô oôrađô,
Việc rèn luyện kĩ năng có thể theo các bớc nh sau:
- Giáo viên mô tả mẫu địa hình của một châu lục, vừa mô tả, vừa hớng dẫn
học sinh cách thức, trình tự mô tả.
- Cho học sinh ghi dàn ý mô tả vào sổ tay địa lý, khuyến khích học sinh
học thuộc dàn ý đó.
- Cho học sinh tập mô tả địa hình châu lục, bắt đầu bằng một châu lục có
địa hình đơn giản.
- Cho học sinh tập mô tả từng dạng địa hình theo dàn ý đã ghi trong sổ tay
địa lý.
- Cho học sinh tập mô tả địa hình của một nớc nào đó.
b. Rèn luyện kĩ năng mô tả khí hậu trên bản đồ
Khí hậu là một yếu tố hình thành hết sức quan trọng của tự nhiên, nó chi
phối những nét đặc trng của tự nhiên ở từng nơi. Chế độ nớc của sông ngòi, đặc
điểm thổ nhỡng, thực vật, động vật đều phụ thuộc vào khí hậu. Sinh hoạt và các
hoạt động sản xuất của con ngời cũng chịu ảnh hởng rõ rệt của khí hậu.
Kĩ năng mô tả khí hậu trên bản đồ cho phép phân tích, phát hiện đợc đặc
điểm khí hậu của mỗi địa phơng và từ đấy tìm ra những nét chung về tự nhiên của
nơi đó.
Để mô tả khí hậu của bất kỳ một lãnh thổ nào (một châu lục, một khu vực
của một nớc), đều phải đề cập đến 3 yếu tố: nhiệt độ trung bình tháng 7 (tức là
tháng nóng nhất ở bán cầu bắc, và tháng lạnh nhất ở bán cầu Nam), chữ số màu
đen chỉ nhiệt độ trung bình tháng 1 (tháng lạnh nhất ở bán cầu Bắc, tháng nóng
nhất ở bán cầu nam). Những nơi có cùng nhiệt độ đợc nối với nhau bằng những
13
đờng cong gọi là đờng thẳng nhiệt. Thờng ngời ta dùng các đờng đẳng nhiệt
trung bình tháng 7, màu đỏ và các đờng đẳng nhiệt trung bình tháng 1, màu đen,
đôi khi cũng dùng đờng đẳng nhiệt trung bình năm. Để biểu hiện lợng ma và
phân bố ma trên bản đồ, ngời ta dùng màu sắc khác nhau để khoanh vùng, chẳng
hạn vùng tô màu vàng nhạt có lợng ma trung bình năm dới 300mm, vùng tô màu
vàng thẫm có lợng ma trung bình năm từ 300 500mm Các gió thịnh hành
C). Các đờng đẳng nhiệt thấp nhất chạy qua
những vùng nào? (Đờng đẳng nhiệt -15
0
C chạy từ Bắc xuống Nam ở phía cực
Đông, đờng đẳng nhiệt -10
0
C chạy trên bán đảo Xcăngđinavi, vòng thẳng xuống
vùng Đông Nam rồi chuyển xuống hớng Đông).
Sự phân bố nh trên của các đờng đẳng nhiệt mùa hạ và mùa Đông trên lãnh
thổ châu Âu cho ta thấy khí hậu châu Âu có đặc điểm chung (Không nóng lắm
về mùa hạ và không quá lạnh về mùa Đông). Vùng nào có mùa Đông ẩm nhất, vì
14
sao (vùng Nam Âu, vì ở vĩ độ thấp nhất) những vùng nào có mùa Đông lạnh nhất
(vùng Đông và Đông Nam, vì chịu ảnh hởng nhiều của lục địa).
Căn cứ vào nhiệt độ ghi bằng chữ số ở các địa điểm Luân Đôn, VácXaVa,
Matxcơva, ta có nhận xét gì? (Biên độ nhiệt trong năm tăng dần từ Tây sang
Đông và Đông Nam) Vì sao? Vì các ở phía Đông và Đông Nam, ảnh hởng của
biển và của dòng biển Bắc Đại Tây Dơng càng yếu đi và ảnh hởng của lục địa
càng mạnh lên).
Gió thịnh hành trong năm là loại gió nào, có ảnh hởng gì đến khí hậu?
(Gió tây ôn đới thổi hầu nh quanh năm, cả mùa hạ và mùa đông, đem hơi ẩm vào
sâu trong đất liền và gây ma).
Đại bộ phận lãnh thổ châu Âu có lợng ma là bao nhiêu (500 1000mm)
do gió tây mang lại, những vùng nào có ma nhiều, vì sao (Vùng bờ biển phía tây
của bán đảo Xcăngđinavi, mặt phía Tây của quần đảo Anh Ailen có lợng ma
lớn do phía Tây mang đầy hơi ẩm chút xuống nhất là trên sờn tây của dãy núi
Xcăngđinavi. Vùng Núi Anpơ cũng có lợng ma khá lớn do các sờn phía Tây hứng
gió Tây từ biển vào). Những vùng nào có ma ít nhất, vì sao? (vùng Đông Nam
châu Âu ven biển Cátxbi chỉ có lợng ma tới 300mm vì gió Tây mùa hạ khi đến đ-
ợc đây đã chút hết gần hơi nớc ở dọc đờng và lại gặp không khí nóng nên không
C, Hà Nội 23,4
0
C, Vinh
23,9
0
C, Huế 25,2
0
C, Nha Trang 26,3
0
C, TP HCM 26,9
0
C.
- Nhìn vào biến trình của nhiệt độ trong năm thể hiện ở các biểu đồ, chúng
ta thấy ở Lạng Sơn nhiệt độ tháng lạnh nhất xuống tới dới 14
0
C, ở Hà Nội khoảng
14
0
C, ở Vinh khoảng 18
0
C, Huế 19
0
C, Nha Trang 23
0
C, TP HCM 25
0
C. Nh vậy ở
miền Bắc, có một mùa Đông lạnh, càng đi về phía Nam càng đỡ lạnh, ở Miền
Nam không có màu đông lạnh.
- Nhìn vào các vùng khí hậu đợc thể hiện bằng màu sắc trên bản đồ, átlát,
nửa phần phía bắc của đất nớc, lợng ma hàng năm tơng đối lớn, trải ra khắp lãnh
thổ.
Qua những ví dụ trên đây, có thể rút ra quy trình rèn luyện kĩ năng mô tả
khí hậu trên bản đồ nh sau:
- Làm cho học sinh hiểu rõ mô tả khí hậu có nghĩa là mô tả những yếu tố
thành phần của nó tức là nhiệt độ, ma, gió và phát hiện mối liên hệ giữa chúng
với nhau cũng nh với những yếu tố tự nhiên khác.
- Giới thiệu cho các em các yếu tố trên bản đồ khí hậu.
- Cung cấp cho học sinh dàn ý mô tả khí hậu trên bản đồ.
- Hớng dẫn các em dựa vào dàn ý cho sẵn để mô tả khí hậu trên bản đồ bắt
đầu từ châu lục rồi chuyển sang một khu vực, một quốc gia.
c. Rèn luyện kĩ năng mô tả sông ngòi trên bản đồ
Nhìn mạng lới sông ngòi bản đồ một khu vực có thể thấy ngay trên bản đồ
một khu vực có thể thấy ngay trên những nét lớn đặc điểm khí hậu, địa hình, thực
19
vật, động vật và phân bố dân c ở khu vực đó. Nh vậy việc mô tả sông ngòi của
chúng ta thấy rõ không những đặc điểm về thuỷ văn của mỗi khu vực mà cả mặt
khác về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Tất cả những kĩ năng đã đợc học nh mô tả địa hình, xác định phơng hớng
giúp cho học sinh mô tả đợc dể dàng sông ngòi trên bản đồ. Chỉ cần cung cấp
cho các em một dàn ý và dựa vào đấy cho các em miêu tả.
Dàn ý mô tả có thể nh sau:
Nêu lên những nét chung của sông ngòi:
- Sông chảy theo những hớng nào hoặc đỗ vào biển, đại dơng nào, vì sao?
- Nguồn cung cấp nớc cho sông(ma, tuyết, băng hà,hay nớc ngầm) và chế
độ nớc.
Các hệ thống sông chính:
Ví dụ:
Sông chính lớn hay nhỏ, chảy theo hớng nào, đỗ vào đâu, sông dai hay
ngắn có nhiều hay ít các sông nhánh, các sông chảy từ đâu đến, nguồn tiếp nớc
nguồn trên lãnh thổ trung quốc, chảy về gần đến thị xã tuyên quang thì nhận đợc
phụ lu sông gâm, về tới đoan hùng nhận đợc phụ lu sông chảy. Sông chảy cũng là
sông có nhiều ghềnh, nh ghềnh bà.
21
Hệ thống sông Hồng có ý nghĩa lớn về kinh tế, trớc hết về mặt thuỷ lợi. Nó
cung cấp nớc cho mạng lới kênh máng, cho phép giữ chủ động trong canh tác,
tăng vụ, nâng cao sản lợng nông nghiệp. Giá trị về mặt thủy điện cũng rất quan
trọng, trữ lợng khá lớn nhng cha khai thác đợc bao nhiêu, ngoài trung tâm thủy
điện hoà bình trên sông đà, trung tâm thủy điện thác bà trên sông chảy. Hệ thống
sông hồng nối liền với hệ thống sông thái bình tạo thành một mạng lới giao thông
đờng thông hết sức quan trọng trải ra các hớng trên lãnh thổ bắc bộ.
Việc rèn luyện kĩ năng mô tả sông ngòi trên bản đồ có thể theo quy trình
nh sau:
- Hớng dẫn học sinh mô tả một con sông dựa trên dàn ý cho sẵn.
- Khi học sinh đã năm đợc cách mô tả một con sông, chuyển sang hớng
dẫn các em mô tả một hệ thống sông.
- Cuối cùng hớng dẫn các em tập mô tả sông ngòi của một nớc.
II - Kết qủa.
Qua một thời gian giảng dạy tại TT GDTX Tỉnh Vĩnh Phúc với đối tợng
học sinh đầu vào thấp thì tôi thấy học sinh rất hứng thú với những tiết học sử
dụng bản đồ. Mục tiêu tới đây là giáo viên nên cố gắng đa tất cả chơng trình đều
sử dụng các phơng tiện đặc biệt là bản đồ nâng cao chất lợng dạy và học của giáo
viên và học sinh.
Trên đây là một số ví dụ dẫn chứng cụ thể, trong phạm vi khuôn khổ đề tài
không cho phép nên tôi chỉ dừng lại ở đây trong quá trình giảng dạy giáo viên có
thể linh động hơn.
Kết luận
I - Kế hoạch cụ thể.
22
Trong quá trình giảng dạy bộ môn địa lý đối với việc sử dụng các phơng