Phân tích phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam (9 điểm) - Pdf 25

Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
NỘI DUNG CHÍNH
I. Khái quát chung về trọng tài thương mại
1. Khái niệm trọng tài thương mại
2. Các hình thức trọng tài thương mại
3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại
II. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại
III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại khi giải quyết các tranh
chấp thương mại
1. Ưu điểm
2. Nhược điểm
IV. Thực trạng áp dụng việc giải quyết các tranh chấp thương mại tại trọng
tài thương mại.
1.Thực trạng về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
2. Nguyên nhân
3. Đánh giá một số điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với
Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
V. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp
thương mại tại trọng tài thương mại
KẾT LUẬN
Page 1
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các giao dịch thương mại ngày càng
trở nên đa dạng hơn. Điều này tất yếu dẫn đến những tranh chấp phát sinh từ những
quan hệ này trở nên phức tạp. Tranh chấp thương mại là những tranh chấp phát
sinh trong lĩnh vực thương mại. Mặc dù tranh chấp không phải là điều mong muốn
của các thương nhân và họ đã rất cẩn trọng trong việc áp dụng các biện pháp nhằm
loại bỏ tranh chấp song các bên không thể khẳng định rằng sẽ không có bất kỳ

- Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành (vì chỉ
được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp theo sự thoả thuận của các bên) và
không có danh sách trọng tài viên riêng.
- Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình.
2.2. Trọng tài thường trực :
Ở các nước trên thế giới, trọng tài thường trực thường được tổ chức dưới những
hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện
trọng tài, nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng trung tâm trọng tài.
Theo pháp luật Việt Nam, trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng các
trung tâm trọng tài.Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định.
Các trung tâm trọng tài có một số đặc trưng cơ bản sau đây:
- Các trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ
quan nhà nước.
- Các trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân , tồn tại độc lập với nhau.
- Tổ chức và quản lý ở các trung tâm trọng tài rất đơn giản, gọn nhẹ.
- Mỗi trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố
tụng riêng.
- Hoạt động xét xử của trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các trọng tài viên
của trung tâm.
3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại
Page 3
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
 Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài, nếu trước hoặc sau khi tranh
chấp các bên có thỏa thuận trọng tài (quy định tại khoản 1, điều 5 LTTTM năm
2010).
Khác với giải quyết tranh chấp tại tòa án, việc giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài đòi hỏi phải có sự thỏa thuận giữa các bên. Đây là cơ sở cho các bên tiến
hành giải quyết TCTM tại TTTM.
Thỏa thuận trọng tài (TTTT) không chỉ là hình thức pháp lý ghi nhận sự thỏa

Nguyên tắc này xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động kinh doanh. Theo
nguyên tắc này, các buổi xét xử TT chỉ gồm TTV, các đương sự và các bên có liên
quan đến vụ tranh chấp. Những người không có trách nhiệm và không liên quan
đến vụ tranh chấp không được tham dự. Và quyết định của TT cũng như các căn cứ
để TT đưa ra phán quyết sẽ không được công bố công khai nếu các bên đương sự
không có yêu cầu.
 Phán quyết TT là chung thẩm (khoản 5, điều 4 LTTTM 2010)
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của TTTT là nhân danh ý chí, quyền
tự định đoạt của đương sự. Để đảm bảo việc các bên phải có nghĩa vụ thi hành phán
quyết TT thì LTTTM 2010 có quy định phán quyết của TT được thi hành ngay
(trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra phán quyết).
Tóm lại, tất cả những nguyên tắc giải quyết tranh chấp mà LTTTM 2010 đã
đặt ra đều nhằm mục đích giúp cho các bên giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả
và đảm bảo tốt nhất nhu cầu về một cơ chế giải quyết tranh chấp tối ưu cho doanh
nghiệp.
II. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại
Về nguyên tắc, tranh chấp được giải quyết tại TT nếu trước hoặc sau khi xảy
ra tranh chấp các bên có TTTT. Tuy nhiên không phải mọi tranh chấp có TTTT đều
thuộc thẩm quyền giải quyết của TTTM. TTTM chỉ có thẩm quyền giải quyết các
tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Nghĩa là, một tranh chấp sẽ thuộc
thẩm quyền giải quyết của TTTM khi có đủ 2 điều kiện:
Thứ nhất, giữa các bên tranh chấp có TTTT và TTTT có hiệu lực
Page 5
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
Thứ hai, tranh chấp gửi đến TTTM phải là tranh chấp phát sinh trong hoạt
động thương mại.
III. Ưu điểm và nhược điểm của trọng tài thương mại so với giải quyết các
tranh chấp thương mại
1. Ưu điểm
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp kết hợp được các ưu điểm của

như licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng
khoán
Thứ năm, hoạt động xét xử của Trọng tài liên tục do đó tiết kiệm thời gian,
chi phí và tiền bạc cho doanh nghiệp. Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa
án thường rất khó đạt được điều này bởi Tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp
cùng một lúc, do đó tình trạng án tồn đọng là điều không thể tránh khỏi.
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thể hiện tính năng động, linh
hoạt và mềm dẻo, do đó để thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có
tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự
2004 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Thực tiễn cho thấy giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài Quốc tế
Việt Nam (VIAC) thường kéo dài tối đa là 6 tháng, trong khi đó giải quyết tranh
chấp tại Tòa án có trường hợp kéo dài mấy năm.
Thứ bảy, việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài đảm bảo tính bí mật cao và vì
vậy sẽ tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác làm ăn
vốn có, trong khi đó việc xét xử công khai tại Tòa án thường dễ làm cho các bên rơi
vào thế đối đầu nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như một người chiến
thắng, còn bên kia thấy mình là một kẻ thua cuộc.
Việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức
độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian
kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đối đề tìm ra sự thật khách quan của vụ việc.
Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác,
quan hệ thiện chí đối với nhau. Hơn nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một
bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra
trong tương lai.
Page 7
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
Với những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đã
ngày càng trở thành một phương thức tố tụng kinh doanh - thương mại hữu hiệu và

tâm trọng tài (3 trung tâm ở Hà Nội, 2 trung tâm ở TpHCM, 1 trung tâm tại Cần
Thơ). Thực ra trước đó cũng có một trung tâm trọng tài tại Bắc Giang, tuy nhiên
trung tâm này thành lập ra khó khăn vè trụ sở rồi cũng giải tán. Tuy nhiên, ngoài
Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt Nam (bên cạnh phòng Thương mại và công
nghiệp Việt Nam - VIAC) là còn có doanh nghiệp gõ cửa, các trung tâm trọng tài
khác hầu như “ngồi chơi xơi nước”.
- Thứ hai, về phía các doanh nghiệp: Theo tài liệu thống kê, có tói 84%
doanh nghiệp không biết đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Điều này
cũng dễ hiểu bởi còn nhiều doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh theo lối cũ, khi xảy
ra tranh chấp thì “nhờ” cơ quan chủ quản hoặc Bộ chủ quản giải quyết.
Bên cạnh đó, theo thống kê của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, những
năm gần đây, trong các vụ tranh chấp thương mại, có đến gần 60% vụ việc xảy ra
giữa các doanh nghiệp trong nước với các đối tác nước ngoài. Và doanh nghiệp
Việt Nam thường thua thiệt trước các doanh nghiệp nước ngoài do thiếu kinh
nghiệm thương trường và kém hiểu biết về trọng tài thương mại. Có thể xem ví dụ
sau như một điển hình cho việc thiếu hiểu biết về trọng tài thương mại:
Ví dụ 1: VIAC đã từng phải từ chối giải quyết tranh chấp mua bán hàng hóa
giữa một công ty Đài Loan và chi nhánh công ty A có trụ sở tại Bà Rịa – Vũng Tàu
với lý do điều khoản về cơ quan giải quyết tranh chấp trong hợp đồng ghi rất chung
chung là “nếu có tranh chấp sẽ nhờ trọng tại Việt Nam giải quyết”. Do mất nhiều
thời gian để nhờ trọng tài phân xử, cuối cùng vụ việc được đưa ra Tòa án nhân dân
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết nhưng cũng bị đình chỉ vì đã quá thời hiệu khởi
kiện.
Ví dụ 2: Vừa qua, công ty Dâu tằm tơ Việt Nam đã bị trọng tài Geneva
(Thụy Sĩ) buộc phải thanh toán gần nửa triệu USD cho công ty Kyunggi Silk (Hàn
Quốc) trong một vụ tranh chấp kéo dài 3 năm, kèm theo đó Công ty Dâu tằm tơ
Việt Nam Việt Nam phải thanh toán gần 40.000 USD tiền phí trọng tài.
2. Nguyên nhân
Nhìn chung, các Trung tâm Trọng tài hoạt động chưa hiệu quả vì trọng tài
tuy không phải là một chế định quá mới mẻ, nhưng các doanh nghiệp của Việt Nam

người dân nghĩ rằng chỉ có các quyết định của Đảng và Nhà nước mới có hiệu lực
và tính khả thi. Với chiều dài của lịch sử, với thực tiễn cuộc sống đã làm cho dân ta
nhận thức một cách không đầy đủ về xã hội dân sự. Đây là nhận thức về bề nổi,
nhưng lại ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của tổ chức phi Chính phủ. Thực
Page 10
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
trạng này, phần lớn cũng do các yếu tố pháp lý gây nên. Pháp lệnh về trọng tài vẫn
còn có những hạn chế, làm giảm hiệu lực hoạt động của các trung tâm trọng tài.
Một phán quyết của trọng tài dù có chính xác đến đâu cũng cần phải có một quyết
định công nhận và cho thi hành của Toà án hoặc quyết định của cơ quan thi hành
án. Quy định này, làm tăng thêm tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi sử dụng
trọng tài để phân xử tranh chấp.
- Còn nhiều tồn tại trong bản thân của các trung tâm trọng tài. Thực tiễn là như
vậy, nhưng mạng lưới trọng tài của chúng ta lại quá thưa thớt. Đến thời điểm hiện
nay, chúng ta chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Hoạt động của các trung tâm trọng
tài chỉ dựa vào nguồn vốn tự có của các nhà sáng lập, nguồn thu từ các vụ tranh
chấp. Nhưng các vụ tranh chấp quá ít ỏi, nguồn thu quá hạn hẹp, hạn chế khả năng
phát triển công nghệ, mạng lưới, tuyên truyền, đào tạo…
3. Những điểm mới cơ bản của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 so với Pháp
lệnh Trọng tài thương mại năm 2003
1. Luật Trọng tài thương mại đã khắc phục những tồn tại của Pháp lệnh
Trọng tài thương mại năm 2003 (Pháp lệnh TTTM): khắc phục việc phân định
không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương
mại, trên cơ sở đó bảo đảm sự tương thích giữa các văn bản pháp luật hiện hành
như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Thương mại, Luật Đầu tư và các
luật chuyên ngành khác với Luật Trọng tài thương mại (Luật TTTM). Luật TTTM
đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh TTTM về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng
tài tới nhiều loại tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích của các bên (Điều 2
Luật TTTM). Đây là một trong những điểm mới quan trọng nhất của Luật TTTM

(khoản 6 Điều 3 Luật TTTM).
Thứ hai, Luật cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố
tụng trọng tài phù hợp với quy định của Luật và đảm bảo đặc thù của mỗi Trung
tâm để tăng thêm tính hấp dẫn đối với các bên tranh chấp.
6. Cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn
phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước
quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Chương XII với 07 Điều).
Page 12
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
7. Nâng cao vị thế của Trọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng
tài được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn
cấp tạm thời (Điều 47, 48, 49 và 50). Quy định của Luật đã tiếp thu quy định của
Luật mẫu UNCITRAL được thông qua năm 2006 nhằm giúp cho tố tụng trọng tài
vận hành có hiệu quả hơn.
8. Hạn chế nguy cơ phán quyết của Trọng tài bị Tòa án tuyên hủy bởi quy
định không phù hợp của Pháp lệnh TTTM như quy định về quyền của một bên
được gửi đơn lên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với
quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng
trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài
mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
9. Luật TTTM là đã tiếp thu nguyên tắc cấm hành vi mâu thuẫn trong tố tụng
là nguyên tắc rất quan trọng đã hình thành lâu đời trong pháp luật tố tụng của các
nước phát triển. Quy định mới của Luật (Điều 13) xác định, khi một bên nhận thấy
những quy định của Luật hoặc của thoả thuận trọng tài bị vi phạm mà vẫn tiếp tục
thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối vi phạm đó trong thời hạn luật định
thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Toà án. Quy định này nhằm ngăn chặn
một cách có hiệu quả các hành vi cơ hội trong tố tụng trọng tài.
10. Một trong những điểm quan trọng nhất của Luật TTTM là thể hiện rõ nét
mối quan hệ giữa Trọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh
chấp của các bên. Luật đã đưa ra một loạt các quy định mới nhằm xác định mối

Nếu có sự hỗ trợ thích đáng thì trọng tài thương mại có thể phát huy mạnh được
chức năng và vai trò của mình.
Thứ hai, bên cạnh việc hỗ trợ về mặt pháp lý, nhà nước cũng cần hỗ trợ cho
các tổ chức Trọng tài thương mại về mặt vật chất. Đó có thể là ban hành cơ chế cho
thuê trụ sở hay cơ chế để các tổ chức được tự khai thác và quản lý nguồn tài chính
viện trợ của các tổ chức Chính phủ, phi chính phủ và quốc tê.
Thứ ba, cần tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Trọng tài viên.
Hiện nay, một trong những hạn chế của tổ chức trọng tài là vấn đề con người, đặc
biệt là những thành phố không thuộc trung ương. Đội ngũ TTV hiện đa phần trình
độ chuyên môn chưa cao, nhất là trong lĩnh vực thương mại quốc tế nên đã ảnh
hưởng rất nhiều đến xét xử. Do đó, để phát triển phương thức trọng tài nhà nước
cần có chính sách hỗ trợ đào tạo TTV thông qua các chương trình đào tạo trong
nước, nước ngoài với sự hướng dẫn của những trọng tài viên, chuyên gia có uy tín.
Page 14
Bài tập lớn học kỳ - Môn Luật Thương mại (module 2)
Thứ tư, cần tuyên truyền pháp luật về trọng tài. Đây là một giải pháp rất
quan trọng để pháp luật trọng tài nhanh đi vào thực tiễn và việc giải quyết các tranh
chấp thương mại tại trọng tài có hiệu quả.
Thứ năm, trong 82 điều khoản trong luật trọng tài thương mại không có một
quy định nào về trách nhiệm của trọng tài về phán quyết của mình. Tất nhiên
chúng ta để hiểu trọng tài phải chịu trách nhiệm toàn bộ về phán quyết của mình
nhưng trách nhiệm này cụ thể như thế nào, hình thức xử phạt hoặc kỉ luật ra sao đối
với các trường hợp vi phạm thì chưa rõ. Nên chăng, luật trọng tài thương mại cần
quy định thêm về vấn đề này nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, đồng thời tăng
độ tin cậy, uy tín của trọng tài, tránh các trường hợp sai phạm do mong muốn chủ
quan của một bên tranh chấp hoặc của trọng tài.
KẾT LUẬN
Thực tiễn đã chứng minh việc áp dụng giải quyết tranh chấp tại TTTM ngày
càng phổ biến và mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp trong việc giải quyết
tranh chấp được nhanh gọn, công bằng, bình đẳng và thiết lập được mối quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status